Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Lý Thái Hùng

Ngay sau khi lên làm tổng bí thư, ông Tô Lâm từng xác định “thể chế” là điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam. Nhưng trong các phát biểu gần đây, đặc biệt là trong Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới vào ngày 1 tháng 7, 2026, ông Tô Lâm công khai chỉ ra những giới hạn lớn của hệ thống, thông qua bảy điểm nghẽn đó là: Thể chế chưa đồng bộ; Pháp luật còn chồng chéo; Cấp xã chưa đủ năng lực thực thi; Phân bố biên chế và nguồn lực còn mang tính cào bằng; Chuyển đổi số còn yếu; Tài sản công, trụ sở, hồ sơ sau sáp nhập xử lý còn chậm; Không còn cấp huyện tạo ra khoảng trống chỉ đạo mới.

Nói cách khác, điểm nghẽn của Việt Nam đang chuyển từ thể chế trên giấy sang năng lực quản trị trong thực tế. Đây chính là dấu hiệu cho thấy sự giới hạn sâu hơn của mô hình phát triển hiện nay đã bắt đầu lộ rõ.
Từ những điểm nghẽn nói trên, có thể thấy bài toán phát triển dưới thời ông Tô Lâm không chỉ nằm ở việc sửa luật, tinh gọn bộ máy hay đẩy mạnh công nghệ. Những biện pháp ấy có thể tạo ra chuyển động ban đầu, nhưng chưa chắc tạo ra một cuộc chuyển hóa thật sự. Vấn đề sâu hơn là liệu Việt Nam có thể thay đổi được tư duy quản trị, khai mở năng lực con người và xây dựng một môi trường xã hội đủ tự do để phát triển bền vững hay không.

Thứ nhất, nếu chỉ đặt mục tiêu phát triển mà không thay đổi tư duy con người, thì mọi cải cách vẫn có nguy cơ dừng lại ở hình thức. Một bộ máy có thể được sắp xếp lại, một số luật có thể được sửa đổi, một số khẩu hiệu mới có thể được đưa ra, nhưng nếu cán bộ vẫn sợ trách nhiệm, xã hội vẫn thiếu niềm tin, doanh nghiệp vẫn bị ràng buộc bởi xin – cho, và người dân vẫn không có không gian để tự do sáng tạo, thì phát triển khó có thể đi xa. Phát triển không chỉ cần cơ chế mới, mà cần con người mới: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám sáng tạo.

Thứ hai, bộ máy có thể thay đổi, nhưng nếu quyền lực thống trị vẫn đặt an ninh chính trị cao hơn sự khai mở xã hội, thì cải cách sẽ gặp giới hạn rất lớn. Một xã hội muốn sáng tạo phải có tự do tư duy, tự do trao đổi, tự do phản biện và một mức độ tin cậy nhất định giữa nhà nước với người dân. Nếu mọi khác biệt đều bị nhìn bằng con mắt an ninh, nếu phản biện bị xem là nguy cơ, nếu xã hội dân sự bị kiểm soát quá chặt, thì làm sao có thể tạo ra một môi trường sáng tạo đúng nghĩa? Không thể đòi hỏi người dân sáng tạo trong kinh tế nhưng lại bị bó hẹp trong tư duy chính trị và xã hội.

Thứ ba, tầm nhìn phát triển hiện nay vẫn còn nặng về vật chất. Đường cao tốc, đường sắt, đô thị lớn, hạ tầng số, trí tuệ nhân tạo và các khu công nghiệp là cần thiết. Nhưng đó mới là phần bên ngoài của phát triển. Động lực sâu nhất của phát triển vẫn là con người. Nếu con người bị nhốt trong vòng kiểm soát tư duy, nếu giáo dục không khai phóng, nếu đại học không có tự chủ, nếu doanh nghiệp tư nhân không được cạnh tranh công bằng, nếu người dân không được bảo đảm quyền sở hữu và quyền tự do căn bản, thì mọi công trình hạ tầng dù lớn đến đâu cũng chỉ tạo ra một diện mạo phát triển bên ngoài. Một quốc gia có thể có nhà cao tầng, xa lộ và công nghệ hiện đại, nhưng vẫn không trở thành một quốc gia tiên tiến nếu con người không được giải phóng khỏi sợ hãi và lệ thuộc.

Thứ tư, bài học thành công của Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan cho thấy phát triển bền vững không chỉ là xây dựng hạ tầng hay thu hút đầu tư. Đó là quá trình canh tân lâu dài về con người và xã hội. Nhật Bản sau chiến tranh đứng dậy nhờ kỷ luật, giáo dục, tinh thần quốc gia và năng lực học hỏi. Nam Hàn vươn lên không chỉ vì công nghiệp hóa, mà vì đã xây dựng được một xã hội coi trọng giáo dục, cạnh tranh, sáng tạo và ý chí dân tộc. Đài Loan thành công nhờ kết hợp công nghệ, doanh nghiệp tư nhân, giáo dục, pháp quyền và từng bước dân chủ hóa. Những quốc gia ấy không chỉ phát triển; họ canh tân.

Đây chính là khoảng trống lớn nhất trong mô hình phát triển của ông Tô Lâm. Trong các phát biểu của mình, ông nhấn mạnh đến phát triển, hiệu năng quản trị, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và năng lực thực thi. Đó đều là những mục tiêu cần thiết. Nhưng chúng vẫn chưa trả lời được câu hỏi quan trọng hơn: Phát triển để làm gì và vì ai?

Nếu mục tiêu sau cùng của phát triển là duy trì tính chính danh của một hệ thống quyền lực, thì mọi cải cách sẽ tự nhiên hướng về việc làm cho bộ máy vận hành hiệu quả hơn, kinh tế tăng trưởng nhanh hơn và xã hội ổn định hơn. Khi ấy, con người trở thành phương tiện phục vụ cho sự phát triển của nhà nước.

Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là phẩm giá của con người và tương lai của dân tộc, thì toàn bộ tư duy phát triển phải thay đổi. Phát triển kinh tế khi đó không còn là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện để giải phóng năng lực sáng tạo của mỗi người Việt Nam; để xây dựng một xã hội tự do hơn, một nền giáo dục khai phóng hơn, một thể chế khuyến khích trách nhiệm, sáng tạo và lòng tin; để mỗi người có cơ hội phát triển toàn diện cả về tri thức, nhân cách và khả năng đóng góp cho đất nước.

Đó cũng chính là điểm khác biệt giữa phát triểncanh tân. Phát triển chủ yếu làm thay đổi diện mạo vật chất của quốc gia: Đường sá, nhà máy, đô thị, hạ tầng và công nghệ. Canh tân làm thay đổi phẩm chất của dân tộc: Cách con người suy nghĩ, học tập, sáng tạo, hợp tác và tự chịu trách nhiệm đối với tương lai của mình. Phát triển có thể tạo ra của cải trong một giai đoạn; nhưng chỉ có canh tân mới tạo ra năng lực tự đổi mới liên tục của cả một dân tộc qua nhiều thế hệ.

Vì vậy, điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển. Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Muốn Việt Nam thật sự bước sang một thời đại mới, không thể chỉ phát triển bộ máy, hạ tầng hay công nghệ. Việt Nam cần một cuộc Canh Tân theo đúng nghĩa của từ này: Canh tân con người, canh tân giáo dục, canh tân thể chế, canh tân văn hóa chính trị và canh tân môi trường xã hội. Khi con người trở thành mục tiêu của phát triển thay vì là công cụ của phát triển, đất nước mới có thể tạo ra nội lực đủ mạnh để vươn lên bền vững trong thế kỷ XXI.

Lý Thái Hùng
8 tháng 7, 2026