VIỆT NAM

Theo nghị định 126, kề từ ngày 5 Tháng Chạp, 2020, nhà nước sẽ đánh thuế 10% trên doanh thu của các „xe công nghệ“ như Grab, Be, Gorek. Các loại xe này mới được xếp loại là đơn vị kinh doanh vận tải, chứ không phải cung cấp giải pháp công nghệ“ nên phải bị đánh thuế cho phù hợp, thay vì chịu mức khoán 3% thuế giá trị gia tăng (GTGT) và 1,5% thuế thu nhập cá nhân như hiện nay. Nghị định mới này đã tạo bất mãn lớn trong giới xe ôm vốn có thu nhập thấp và đang rất vất vã trong cơn đại dịch Covid. Theo chị Lê Phước Hải, 43 tuổi, ở An Giang, chị chỉ là người chạy xe ôm kiếm thêm phụ thu vì không đủ sống chứ chẳng phải đối tác hay tài xế xe công nghệ hay hợp tác kinh doanh như nhà nước gọi. "Thực chất tôi chỉ là người chạy xe ôm, lấy công làm lời chứ có đối tác gì đâu. Họ cứ cho là đối tác là người làm kinh doanh rồi thu 10% doanh thu là không phù hợp với thực tế những người như tôi. Thu thuế như vậy, thà tôi đi làm công nhân để nhận đủ lương, khỏi phải đóng 10% trên số tiền lương mình được nhận. Thú thật, do cuộc sống khổ quá nên phụ nữ như tôi mới đi chạy xe ôm, chứ có ai muốn làm đâu." Anh Phạm Văn Nhâm 35 tuổi, quận Bình Thạnh, Sài Gòn, giải thích rõ hơn bức xúc của mình: "Phải hiểu rõ là chúng tôi đang bán sức lao động để kiếm tiền. Sao lại thu thuế như người làm kinh doanh? Họ đang nghĩ chúng tôi là những đối tác kinh doanh, nên phải có trách nhiệm đóng 10% trên doanh thu phát sinh. Họ cho rằng, doanh nghiệp đóng thay cho người tiêu dùng, chứ không phải chúng tôi đóng. Tuy nhiên, thực tế thì doanh nghiệp sẽ đẩy hết phần đóng này cho những người chạy xe như chúng tôi." Phải đóng 10% trên doanh thu, rõ ràng thu nhập của giới lao động xe ôm này giảm rõ rệt khiến cuộc sống vốn khó khăn của họ càng khó khăn thêm. Nếu có con trong tuổi đi học thì cục thuế quá tàn nhẫn đối với họ. Ngân sách càng cạn kiệt, các quan chức càng bày ra nhiều thứ phí, thuế để buộc dân vốn nghèo phải è cổ ra thêm để đóng mọi thứ thuế, phí trên trời dưới đất. Đáng lẽ, khi muốn quyết định thu thuế mới, các quan chức trong ngành cần suy nghĩ thấu đáo xem người dân có chịu nổi hay không vì dù sao cũng là „chính quyền do dân, vì dân“ như họ vẫn tự xưng mà! Hy vọng nhà cầm quyền CSVN thu hồi lại quyết định đánh thuế dân nghèo thêm này để dân còn đường sống. Phan Nguyên
#ViệtTân #xeôm #tăngthuế  
29.11.2020
Người Việt| HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bà Nguyễn Thị Nghiêm, vợ nhà văn Phạm Thành, thông báo chồng bà đã bị đưa từ trại tạm giam Hỏa Lò đến Viện Pháp Y Tâm Thần Trung Ương để “giám định và kiểm tra sức khỏe.” Nhà văn, nhà báo tự do Phạm Thành, 68 tuổi, chủ trang blog “Bà Đầm Xòe,” với nhiều bài chỉ trích mạnh mẽ đảng CSVN và lên án các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông. Ông bị nhà cầm quyền CSVN bắt giữ vào hồi trung tuần tháng Năm. Vụ bắt giữ được cho là liên quan đến cuốn sách “Nguyễn Phú Trọng: Thế Thiên Hành Đạo Hay Đại Nghịch Bất Đạo” do ông Phạm Thành tự xuất bản và phát hành qua mạng xã hội hồi tháng Chín, 2019. Trong post đăng trên trang cá nhân hôm 28 tháng Mười Một, bà Nghiêm viết: “Là vợ chồng sống với nhau bao nhiêu năm, tôi thấy anh hoàn toàn bình thường, không có biểu hiện gì về tâm thần nên không hiểu họ chuyển chồng tôi xuống đó làm gì? Nay tôi đến viện đã gửi tiền lưu ký và quà nhưng không được gặp trực tiếp. Tôi vô cùng lo lắng nếu có sự cố bất ổn xảy ra.” Sách “Nguyễn Phú Trọng: Thế Thiên Hành Đạo Hay Đại Nghịch Bất Đạo” do ông Phạm Thành tự xuất bản và phát hành qua mạng xã hội năm 2019. Ảnh: Facebook Phạm Thành Nhà hoạt động Nguyễn Thúy Hạnh ở Hà Nội bình luận trên trang cá nhân: “Xem ra những người vạch ra những sai trái của ông Nguyễn Phú Trọng đều bị cưỡng chế vào trại tâm thần, trước kia là blogger Lê Anh Hùng, nay là nhà văn Phạm Thành. Mọi người hãy cùng lên tiếng phản đối thủ đoạn thâm độc tàn ác của nhà cầm quyền CSVN biến những người đấu tranh thành tâm thần.” Nhà báo Phạm Thành, cựu thư ký tòa soạn Đài Tiếng Nói Việt Nam, cũng là tác giả của nhiều cuốn sách được phát hành không qua kiểm duyệt của nhà cầm quyền như “Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN Xuống Hố Cả Lũ” và tiểu thuyết “Cò Hồn Xã Nghĩa”… Bên cạnh đó, ông tham gia viết báo tự do với hàng ngàn bài viết phản biện có giá trị. Ông Phạm Thành còn được ghi nhận từng tự ứng cử “đại biểu Quốc Hội” năm 2016. Trong lần trả lời VOA Việt Ngữ xoay quanh cuốn sách về ông Nguyễn Phú Trọng, ông Thành nói: “Quyển sách này là một bằng chứng, một dữ liệu về những lời ăn tiếng nói, hành xử của ông Trọng, trong những chính sách đối nội và đối ngoại của ông ấy, đối với Trung Quốc cũng như đối với thế giới. Tôi nhận ra rằng ông Trọng là người mà làm tất cả những điều gì mà Trung Quốc muốn.” Ông Thành cũng cho biết thêm rằng bản thân ông “đã 41 năm theo đảng, bây giờ ngoảnh lại thấy dân tộc này cái gì cũng tụt lùi” và giải thích nguyên nhân “là do chúng ta không có dân chủ, nguyên nhân là đảng CSVN duy trì sự độc tài!”    
29.11.2020
Người Việt
Chào mừng ngày nhà giáo 20.11, những người mua bằng đến chúc mừng thằng thầy bán bằng giả. Chu Mộng Long| Cán bộ ta xuất thân từ thành phần vô học nhưng vốn có truyền thống hiếu học. Có người học bằng đèn đom đóm để luyện mắt thành tinh, có người học cạnh chuồng trâu để nghe hương vị đậm đà của cứt trâu. Chung quy bởi yêu cái chữ. Có chữ thì mới có điều kiện tiến thân để cống hiến hết mình vì quê hương, đất nước. Ôi tình yêu cái chữ đến ngây dại! Ngây dại đến mức không mua bằng thật mà mua bằng giả. Còn nỗi đau nào lớn hơn khi hàng trăm cán bộ ta vì muốn có chữ để tiến thân, để cống hiến cho quê hương, đất nước mà trở thành nạn nhân đáng thương của bọn gian tặc. Vì truyền thống hiếu học của cán bộ ta, hãy chung tay cứu lấy họ! Số tiền cán bộ ta bị mắc lừa lên đến hàng trăm triệu đồng. Đau hơn chết dịch, đau hơn chết chìm trong bão lũ, chết vùi trong sạt lở. Tôi, vì tình yêu bao la với cán bộ, đời đời biết ơn cán bộ, kêu gọi mọi người đóng góp ít nhiều để cứu giúp họ trong hoàn cảnh khó khăn mà họ phải chịu đựng nhiều năm. Mọi đóng góp xin gửi thẳng về… Tổng Cục thuế để khỏi mang tiếng làm từ thiện phi chính phủ. Vụ án xảy ra từ năm 2011, bọn gian tặc đã bị đưa ra toà, nhưng các nạn nhân thì mất mát số tiền lớn mà cho đến nay vẫn chưa có gì bù đắp cho họ./. Chu Mộng Long
25.11.2020
Chu Mộng Long
Việt Tân| James Pearson HÀ NỘI (Reuters) - Một viên chức cao cấp của Facebook cho Reuters biết là Việt Nam dọa đóng cửa Facebook tại Việt Nam nếu không chịu gia tăng kiểm duyệt những bài vở với nội dung chính trị theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam. “Facebook đã đáp ứng yêu cầu của chính phủ VN vào Tháng Tư vừa qua khi gia tăng đáng kể việc kiểm duyệt những nội dung “chống chính phủ”, tuy nhiên vào Tháng Tám Việt Nam lại yêu cầu Facebook nâng cấp việc kiểm duyệt những bài chỉ trích chính phủ”, viên chức này cho biết thêm. “Chúng tôi đã đi tới một thoả thuận hồi Tháng Tư. Facebook đã làm như thoả thuận, và chúng tôi chờ đợi chính phủ Việt Nam cũng làm làm như vậy”, nhân viên này, giấu tên vì sự tế nhị của vấn đề, cho biết. “Họ đã quay lại và yêu cầu gia tăng lượng những bài kiểm duyệt. Chúng tôi không đồng ý. Yêu cầu của họ đi kèm với đe dọa cho biết là chuyện gì có thể xảy ra nếu chúng tôi không tuân thủ.” Nhân viên này cho biết đe dọa bao gồm việc đóng cửa toàn bộ Facebook tại Việt Nam, một thị trường chính yếu của công ty truyền thông xã hội này, nơi mang lại thu nhập gần $1 tỷ Mỹ kim, theo 2 nguồn tin quen thuộc với số lượng này. Facebook đã phải đối đầu với áp lực ngày một gia tăng từ một số quốc gia liên quan đến chính sách của FB về nội dung đăng tải, bao gồm cả những quy định mới và phạt vạ. Tuy nhiên FB đã né tránh được hầu hết trừ một số nơi mà FB chưa từng đươc phép hoạt động như Trung Quốc. Tại Việt Nam, bất chấp cải cách kinh tế rộng lớn và gia tăng mở cửa thay đổi xã hội, Đảng Cộng Sản cầm quyền vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ truyền thông, và ít chấp nhận đối kháng. Theo Phóng Viên Không Biên Giới thì về tự do báo chí Việt Nam xếp hạng năm trên thế giới từ cuối bảng tính lên. Trả lời câu hỏi của Reuters Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rằng Facebook nên tuân thủ luật pháp sở tại và ngưng “loan tải tin tức vi phạm tập tục truyền thống Việt Nam và quyền lợi quốc gia”. Một nữ phát ngôn nhân của Facebook cho biết là trong mấy tháng qua họ đã phải đối đầu với áp lực mới từ Việt Nam đòi hỏi họ gia tăng việc kiểm duyệt. Trong báo cáo mỗi nửa năm vừa qua được công bố vào Thứ Sáu, Facebook cho biết họ đã kiểm duyệt 834 bài tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay, theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam, đòi loại bỏ những nội dung chống nhà nước. TRÁCH NHIỆM RÕ RÀNG Facebook, diễn đàn chính của 60 triệu người sử dụng để kinh doanh trên mạng cũng như phát biểu chống đối chính trị, bị chính phủ thường trực theo dõi. Vào Tháng Tư vừa qua Reuters đã đặc biệt tường trình là vào đầu năm nay những máy chủ của FB tại Việt Nam đã bị ngưng phát sóng cho tới khi họ làm theo những yêu cầu của chính phủ VN. Từ lâu Facebook đã phải chịu những chỉ trích từ những tổ chức bẳo vệ nhân quyền về việc thuận theo quá nhiều những đòi hỏi kiểm duyệt của nhà nước. “Tuy nhiên, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể được để bảo đảm là dịch vụ được duy trì để người dân có thể tếp tục phát biểu quan điểm”, người phát ngôn cho biết. Việt Nam đã cố tung ra những mạng lưới truyền thông xã hội để cạnh tranh với FB nhưng không có cái nào đạt tới mức phổ thông đáng kể. Người phát ngôn của FB nói rằng họ đã không thấy có sự di cư nào của người Việt sử dụng FB để đi sang các diễn đàn địa phương. Người phát ngôn nói là FB đã là đối tượng của một “chiến dịch đả kích kéo dài 14 tháng” trên báo chí quốc doanh trước khi đi đến bế tắc hiện nay. Được hỏi về việc Việt Nam dọa đóng cửa FB, tổ chức bảo vệ nhân quyền Ân Xá Quốc Tế nói rằng việc FB vẫn chưa bị đóng cửa sau khi tiếp tục thách thức các đe dọa của chính phủ Việt Nam cho thấy là công ty này có thể làm nhiều hơn nữa để đối đầu với những yêu sách của Hà Nội. “Facebook có một trách nhiệm rõ ràng trong việc tôn trọng nhân quyền ở bất cứ nơi nào họ hoạt động trên thế giới, và Việt Nam không là một ngoại lệ,” ông Ming Yu Hah, Phó Giám Đốc Vùng đặc trách Vận Động của Ân Xá Quốc Tế cho biết: "Facebook đặt ưu tiên là lợi nhuận và thiếu tôn trọng nhân quyền”. (Tường trình của James Pearson; Tường trình bổ túc của Fanny Potkin tại Singapore; Nhuận bởi David Clarke và Christopher Cushing) (Việt Tân lược dịch)
---
(Nguyên bản tiếng Anh) - Nguồn: https://finance.yahoo.com/…/exclusive-vietnam-threatens-shu… Exclusive: Vietnam threatens to shut down Facebook over censorship requests - source
By James Pearson
HANOI (Reuters) - Vietnam has threatened to shut down Facebook in the country if it does not bow to government pressure to censor more local political content on its platform, a senior official at the U.S. social media giant told Reuters.
Facebook complied with a government request in April to significantly increase its censorship of "anti-state" posts for local users, but Vietnam asked the company again in August to step up its restrictions of critical posts, the official said.
"We made an agreement in April. Facebook has upheld our end of the agreement, and we expected the government of Vietnam to do the same," said the official, who spoke on condition of anonymity citing the sensitivity of the subject.
"They have come back to us and sought to get us to increase the volume of content that we're restricting in Vietnam. We've told them no. That request came with some threats about what might happen if we didn't."
The official said the threats included shutting down Facebook altogether in Vietnam, a major market for the social media company where it earns revenue of nearly $1 billion, according to two sources familiar with the numbers.
Facebook has faced mounting pressure from governments over its content policies, including threats of new regulations and fines. But it has avoided a ban in all but the few places where it has never been allowed to operate, such as China.
In Vietnam, despite sweeping economic reform and increasing openness to social change, the ruling Communist Party retains tight control of media and tolerates little opposition. The country ranks fifth from bottom in a global ranking of press freedom compiled by Reporters Without Borders.
Vietnam's foreign ministry said in response to questions from Reuters that Facebook should abide by local laws and cease "spreading information that violates traditional Vietnamese customs and infringes upon state interests".
A spokeswoman for Facebook said it had faced additional pressure from Vietnam to censor more content in recent months.
In its biannual transparency report released on Friday, Facebook said it had restricted access to 834 items in Vietnam in the first six months of this year, following requests from the government of Vietnam to remove anti-state content.
'CLEAR RESPONSIBILITY'
Facebook, which serves about 60 million users in Vietnam as the main platform for both e-commerce and expressions of political dissent, is under constant government scrutiny.
Reuters exclusively reported in April that Facebook's local servers in Vietnam were taken offline early this year until it complied with the government's demands.
Facebook has long faced criticism from rights group for being too compliant with government censorship requests.
"However, we will do everything we can to ensure that our services remain available so people can continue to express themselves," the spokeswoman said.
Vietnam has tried to launch home-grown social media networks to compete with Facebook, but none has reached any meaningful level of popularity. The Facebook official said the company had not seen an exodus of Vietnamese users to the local platforms.
The official said Facebook had been subject to a "14-month-long negative media campaign" in state-controlled Vietnamese press before arriving at the current impasse.
Asked about Vietnam's threat to shut down Facebook, rights group Amnesty International said the fact it had not yet been banned after defying the Vietnamese government's threats showed that the company could do more to resist Hanoi's demands.
"Facebook has a clear responsibility to respect human rights wherever they operate in the world and Vietnam is no exception," Ming Yu Hah, Amnesty's deputy regional director for campaigns, said. "Facebook are prioritising profits in Vietnam, and failing to respect human rights".
(Reporting by James Pearson; Additional reporting by Fanny Potkin in Singapore; Editing by David Clarke and Christopher Cushing)  
20.11.2020
RFA| Việt Nam đe dọa sẽ đóng cửa Facebook trong nước nếu dịch vụ này không tuân thủ những áp lực của chính phủ trong việc kiểm duyệt nhiều nội dung liên quan chính trị. Reuters ngày 19 tháng 11 dẫn lời một viên chức cao cấp giấu tên của Facebook tại Mỹ cho biết như vậy. Hồi tháng 4, Facebook đã tuân thủ yêu cầu của chính phủ Việt Nam, tăng cường kiểm duyệt đáng kể các bài đăng mà chính phủ Việt Nam cho là "chống nhà nước". Đến tháng 8, một lần nữa Facebook lại bị yêu cầu có những kiểm duyệt như vậy. Reuters trích lời viên chức cao cấp giấu tên rằng: “Hồi tháng 4 Facebook và Chính phủ Việt Nam có một thỏa thuận. Phía Facebook về phía mình tuân thủ những cam kết và mong muốn chính phủ Việt Nam cũng làm như vậy. Phía Việt Nam sau đó lại yêu cầu chúng tôi tăng số lượng bài đăng mà Facebook phải kiểm duyệt, kèm theo đó là những đe dọa về những gì có thể xảy ra nếu chúng tôi không làm theo lời họ. Chúng tôi không đồng ý như vậy.” Vị viên chức cao cấp của Facebook cho biết một trong những đe dọa từ phía Hà Nội là đóng hoàn toàn Facebook tại Việt Nam. Đây là thị trường trị giá mang lại doanh thu gần 1 tỷ đô la Mỹ cho Facebook theo đánh giá của hai nguồn thân cận với doanh số của Facebook. Facebook đang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ các chính phủ về các chính sách kiểm duyệt nội dung, bao gồm cả những lời đe dọa về các quy định mới và tiền phạt. Facebook đã vượt qua tất cả những đe dọa này, trừ một số nơi họ chưa được phép hoạt động, chẳng hạn như Trung Quốc. Tại Việt Nam, mặc dù có những cải cách kinh tế sâu rộng và những thay đổi xã hội ngày càng cởi mở hơn, đảng cầm quyền vẫn kiểm soát chặt các phương tiện truyền thông và ít chấp nhận sự phản biện. Việt Nam đứng thứ 5 từ dưới lên trong bảng xếp hạng toàn cầu về tự do báo chí do Tổ chức Phóng viên Không Biên giới thực hiện. Hồi tháng 4, Reuters đưa tin rằng các công ty viễn thông trong nước đã để các máy chủ của Facebook hoạt động ở dạng offline khiến việc truy cập Facebook của người dùng bị gián đoạn, cho đến khi họ tuân thủ theo yêu cầu của chính phủ. Bên cạnh đó, Facebook phải đối mặt với những lời chỉ trích từ các nhóm nhân quyền vì đã quá tuân thủ các yêu cầu kiểm duyệt của chính phủ. Reuters dẫn lời nữ phát  ngôn viên của Facebook cho hay, Facebook sẽ làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng mọi dịch vụ vẫn hoạt động để mọi người có thể tiếp tục bày tỏ chính kiến của mình. Hiện có khoảng 60 triệu người Việt Nam dùng Facebook. Đây là nền tảng chính cho cả kinh doanh trên mạng lẫn những phản biện về chính trị đang bị chính phủ giám sát liên tục. Việt Nam đã cố gắng tung ra các mạng xã hội trong nước để cạnh tranh với Facebook, nhưng chưa có mạng nào đạt được mức độ phổ biến cần thiết. Khi được hỏi về lời đe dọa đóng cửa Facebook của Việt Nam, tổ chức nhân quyền Amnesty International cho biết thực tế nó vẫn chưa bị cấm. Bất chấp những lời đe dọa của chính phủ Việt Nam, Facebook vẫn đang làm mọi cách để chống lại yêu cầu của Hà Nội. Phó giám đốc khu vực phụ trách các chiến dịch của Tổ chức Ân xá cho biết, Facebook có trách nhiệm rõ ràng là tôn trọng nhân quyền ở bất cứ nơi nào họ hoạt động trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Còn theo một bài viết của James Pearson, trưởng đại diện hãng Reuters ở Việt Nam thì “Facebook đang ưu tiên lợi nhuận ở Việt Nam, và không tôn trọng nhân quyền”.  
20.11.2020
RFA
Tân Phong – Việt Tân (Xin gửi đến Đại Biểu Quốc Hội Ksor H’Bơ Khắp với lời cảm ơn trân trọng!) Suốt dải đất miền Trung từ Hà Tĩnh, Nghệ An cho đến Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận… oằn mình hứng chịu liên tiếp “lũ chồng lũ, bão chồng bão.” Chưa có một con số thống kê đầy đủ đã có bao nhiêu người chết và mất tích vì mưa lũ, sạt lở đất ở miền Trung cho đến thời điểm hiện nay. Bản tin cuối cùng cập nhật con số bi thảm này trên báo chí “lề đảng” vào ngày 19 tháng Mười, 2020, ghi nhận 102 người chết và 26 người mất tích. Đã gần 1 tháng trôi qua, liên tiếp vẫn xảy ra sạt đất ở nhiều nơi khu vực Tây Nguyên, Trung và Nam Trung Bộ gây thêm nhiều thương vong về người, hủy hoại hạ tầng, tài sản xã hội. Hình ảnh những quả đồi trơ trụi đã sạt lở chôn vùi nhiều làng mạc, doanh trại quân đội, đường xá, cướp đi hàng trăm sinh mạng khiến cho nhân tâm đau đớn. Nhưng khi những cảm xúc qua đi thì người ta không thể không hỏi rằng “Rừng đâu hết cả rồi? Sao toàn đồi trọc thế kia, làm sao không sạt lở, không lũ lụt?” Rồi người ta được biết trên thượng nguồn những dòng sông nhỏ ở Tây Nguyên, những cánh rừng đại ngàn đã bị chặt phá để làm hàng trăm thủy điện nhỏ. Thủy điện làm thì ít, mà thực ra phá rừng bán gỗ là chính! Bức xúc xã hội được các đại biểu quốc hội đưa vào nội dung chất vấn những bộ trưởng và các cơ quan ban ngành có trách nhiệm liên quan tới việc bảo vệ rừng, qui hoạch và vận hành thủy điện, điện mặt trời trong những ngày qua đang tạo những đợt sóng mạnh trong dư luận. Câu hỏi rành mạch, dứt khoát, trực diện của Đại Biểu Ksor H’Bơ Khắp khiến cho những bộ trưởng “bò một nắng” như Trần Hồng Hà, Nguyễn Xuân Cường, Trần Tuấn Anh càng thể hiện sự dốt nát về chuyên môn, tư duy thấp kém, cũng như thói quen lưu manh cố hữu khi cố gắng đánh tráo khái niệm, đổ trách nhiệm cho “con người” mà không phải là trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý và thực thi luật pháp. Chúng trơ trẽn khi hứa rằng sẽ loại bỏ những công trình thủy điện dù chỉ phá một mét vuông rừng, rằng sẽ nhanh chóng rà soát và trồng lại rừng nguyên sinh bla bla… Thế rồi, ông Thủ Tướng Phúc ngay lập tức đã ra chỉ đạo trồng 1 tỷ cây xanh. Quả thực, những quyết định, hứa hẹn của giới chức CS ngoài tác dụng lừa mị, có Trời mới biết được tính khả thi của nó ra sao? Những ngụy biện trắng trợn của đám bộ trưởng “bò một nắng” khi nói rằng thủy điện nhỏ không là nguyên nhân gây lũ lụt, không phá rừng và rừng Việt Nam vẫn phát triển tốt quả thực là một luận điệu không thể khốn nạn và phi nhân hơn.
Nó cũng giống như những lời biện hộ của đám viên chức EVN khi nói “dân chết không phải vì thủy điện xả lũ, mà vì dân không …biết bơi” khi thủy điện sông Đà và hơn 30 thủy điện lớn nhỏ đột ngột “xả lũ đúng qui trình” vào ban đêm mà không hề báo trước khiến hơn 100 người chết vào tháng Mười năm 2017. Giờ đây, những luận điệu này lại được lặp lại bởi những kẻ mặt trơ trán bóng, lương tâm đã bị chó ăn mất từ lâu, như một sự thách thức, chà đạp lương tri Con Người. Để nói cho rõ rằng không chỉ hàng triệu hecta rừng Tây Nguyên đại ngàn nguyên sinh đã bị chặt phá tàn bạo trong suốt 4 thập kỷ sau 1975, mà phải nói cho đúng là Tây Nguyên với tất cả những giá trị bản sắc của nó, bao gồm văn hóa gắn liền các chủng tộc bản địa, tài nguyên, môi trường, con người… đều đang bị bức tử, phá hủy với mức độ hủy diệt bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó, gồm cả những chính sách phát triển kinh tế một cách thiển cận, tham lam, cũng như sự yếu kém trong công tác quản lý xã hội, tài nguyên và công khai ủng hộ việc phá hoại một cách hệ thống. Tây Nguyên trước 1975 Trước 1975, Tây Nguyên là một vùng đất còn hoang sơ, rừng nguyên sinh bạt ngàn. Cho đến tận 1946 vùng đất mênh mông trên những cao nguyên bao gồm 5 tỉnh hiện nay theo hệ thống phân định địa giới hành chính của nhà cầm quyền CSVN là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng vẫn còn là một vùng tự trị được biết tới với tên gọi chung là Hoàng Triều Cương Thổ, theo cách gọi của triều Nguyễn. Xưa kia là vương quốc Thủy Xá, Hỏa Xá của những tộc người Jrai, Ede, Ba Na, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông… Hệ thống quyền lực hành chính và những hạ tầng xã hội văn minh được người Pháp bắt đầu đặt nền móng cơ bản từ những năm 1891, với việc phát hiện ra cao nguyên Lang Biang bởi nhà khoa học lừng danh Yersin. Theo đề nghị của Yersin, Toàn Quyền Đông Dương Paul Doumer đã cho xây dựng thành phố Đà Lạt và trực tiếp can thiệp vào vùng đất Tây Nguyên kể từ 1900. Trong suốt quá trình người Pháp can thiệp vào Tây Nguyên, việc nhập cư được kiểm soát khá chặt chẽ. Người Pháp duy trì chế độ tự trị của vùng đất này và hạn chế người Kinh nhập cư, ngoại trừ những công ty trồng café, cao su được quyền tuyển người và đưa người Kinh vào làm việc tại các đồn điền. Người Pháp cũng tránh can thiệp và tôn trọng các văn hóa tập tục bản địa. Nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, chủng tộc, tài nguyên của người Pháp trên vùng đất hoang sơ Tây Nguyên cách đây hơn 100 năm phải khiến cho giới trí thức Việt sau hơn một thế kỷ mới được tiếp cận phải sửng sốt, thán phục. Một ví dụ tiêu biểu là bản trường ca Đam Săn của dân tộc Ede đã được chuyển ngữ từ tiếng Rhade sang tiếng Pháp bởi Léopold Sabatier từ 1929. Rất lâu sau đó, những nhà “văn hóa Việt Nam” mới được biết tới kiệt tác này qua bản dịch của ông ta. Người Pháp nghiên cứu cặn kẽ thổ nhưỡng, tài nguyên khoáng sản, khí hậu Tây Nguyên và đã di thực những cây công nghiệp thích hợp nhất mang tính đột phá về kinh tế là cây cao su và café về trồng. Việc xây dựng các đồn điền, phố thị, hạ tầng xã hội đảm bảo các lợi ích chung cho cộng đồng bản địa và không gây ra những xung đột. Những công trình mà người Pháp để lại đều trở thành di sản vô giá về kiến trúc, khoa học, qui hoạch và có tác động tích cực to lớn tới phát triển kinh tế vùng. Mối quan hệ giữa người Kinh nhập cư, cũng như người Pháp với các sắc tộc Tây Nguyên có thể nói là hữu hảo. Công bằng mà nói, người Việt hãy nên biết ơn với những gì mà đám “thực dân, đế quốc” đã làm cho vùng đất này. Cuộc di cư lớn đầu tiên của người Kinh vào cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên) dưới thời VNCH được ghi nhận vào giai đoạn 1954 khi gần 1 triệu người Bắc di cư vào Nam. Trong số đó, 54.551 người đã được sắp xếp định cư ở Đà Lạt và Lâm Đồng. Với chính sách điền địa mới của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, các di dân được được phân đất ở, canh tác lâu dài, được hướng dẫn đào tạo về kiến thức lâm nông nghiệp và hỗ trợ bởi các cán bộ xây dựng nông thôn đã sớm có được cuộc sống ấm no. Cho đến 1975, toàn bộ dân số khu vực Tây Nguyên ước chừng khoảng 1,2 triệu dân với đa phần là dân bản địa chiếm khoảng 70%. Chính sách của VNCH sau khi sát nhập Hoàng Triều Cương Thổ vào Trung phần, gọi là Cao nguyên trung phần (Tây Nguyên) chú trọng xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội, gia tăng quyền lực hành chính. Song đối với các dân tộc bản địa, chính quyền VNCH hết sức tôn trọng văn hóa, tập tục, hỗ trợ kinh tế, hướng dẫn nghề nghiệp, kỹ thuật lâm nghiệp để họ có đời sống tốt hơn. Tây Nguyên sau 1975  Nhập cư ồ ạt Sau 1975, nhà cầm quyền cộng sản thực hiện chính sách di dân cưỡng bức một lượng lớn dân cư thành phố là những gia đình sỹ quan, viên chức làm việc trong chính quyền cũ tập trung vào các “vùng kinh tế mới” mà thực chất là những nơi rừng thiêng nước độc, không có hạ tầng để khai hoang và dọn dẹp bom mìn sau chiến tranh. Một lượng lớn dân nghèo nông thôn từ miền Bắc cũng được khuyến khích vào làm việc trong các lâm trường quốc doanh theo chương trình phát triển kinh tế mới, nhằm giảm sức ép dân số ở miền Bắc và tăng nguồn lao động cho Tây Nguyên. Theo thống kê, Tây Nguyên là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất cả nước. Việc tăng dân số chủ yếu là tăng dân số cơ học bởi nhập cư trong đó có hai nguồn là nhập cư theo kế hoạch và nhập cư tự do. Chỉ riêng tỉnh Đắk  Lắk, từ 1976 đến 2005, đã có 56.490 hộ nhập cư theo diện tự do với 289.688 nhân khẩu. Trong ba năm đầu tiên sau 1975, dân số Tây Nguyên tăng trung bình 7,22%. Giữa các kỳ tổng điều tra dân số 1979 -1989, dân số Tây Nguyên tăng trung bình 5,7% – cao gấp ba lần so với toàn quốc, giai đoạn 1989 -1999 tăng trung bình 4,97% và giai đoạn 1999 -2009 tăng 2,36%. Dân số Tây Nguyên tính đến 2012 đã đạt khoảng 5,379 triệu dân, gấp 4,5 lần so với 1976. Tỷ lệ nhập cư tự do của toàn vùng trong 4 thập kỷ sau chiến tranh giao động 54% – 60% mức tăng dân số và xu hướng này ngày một cao hơn.
Việc nhập cư ồ ạt và không kiểm soát, thiếu chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách khoa học, căn cơ đã gây ra vô vàn các hệ lụy trong đó sự xói mòn văn hóa bản địa, hủy hoại môi trường bởi khai thác rừng tự nhiên tràn lan, cũng như các hạ tầng kinh tế xây dựng thiếu qui hoạch và chắp vá. Những phồn hoa bề ngoài của thành phố Đà Lạt chỉ cần một trận mưa to cũng lột hết lớp phấn son khi tất cả ngập chìm trong biển nước lũ mênh mông. Đó có thể coi là một minh chứng rõ nét cho những “thành tựu phát triển” XHCN! Năm 2004, một khảo sát về dân số và xã hội cho thấy tỷ lệ người dân tộc bản địa chỉ còn khoảng 25% dân số Tây Nguyên (so với tỷ lệ 70% trước 1975) và là những đối tượng rất dễ bị tổn thương bởi chính sách đất đai của nhà cầm quyền CSVN. Từ vị trí là chủ nhân của Tây Nguyên, những dân tộc bản địa này bị tước đoạt quyền sở hữu đối với những cánh rừng đại ngàn, nương rẫy mà ông cha họ để lại, bị gạt ra lề xã hội và đàn áp không thương tiếc. Vấn nạn kém phát triển, đói nghèo và hủy diệt môi trường sống đang là vấn nạn nhức nhối và thường xuyên dẫn đến xung đột xã hội mà những vụ án như Đặng Văn Hiến chỉ là một trong hàng trăm ngàn những bi kịch đang diễn ra ở vùng đất từng tràn đầy tài nguyên này. Phá rừng nguyên sinh làm kinh tế Sau 1975, do nhu cầu thiếu lương thực trầm trọng và nhu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Tây Nguyên trở thành vùng diễn ra tình trạng khai thác gỗ với qui mô lớn và khai phá đất rừng để canh tác nông nghiệp. Giai đoạn 1990 – 2000, diện tích café đã tăng gấp 5 lần (từ 85.600 ha lên tới 427.200 ha) và gấp 2,8 lần so với qui hoạch năm 2000. Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm năm 2011 đạt 1.130.500 ha tăng gấp 1,33 lần so với năm 2005 và tăng gấp 1,73 lần so với năm 2000. Tới năm 2010, diện tích riêng cây café đã tăng gấp 1,15 lần so với năm 2000, và gấp 2,73 lần so với qui hoạch theo quyết định 184/QĐ—TTg (chỉ có 180.000 ha). Diện tích các cây trồng khác như sắn phát triển ồ ạt theo phong trào cũng góp phần tàn phá các cánh rừng tự nhiên và làm bạc màu đất nhanh chóng. Diện tích trồng sắn từ 38.000 ha năm 2000 đã tăng thêm tới 158.700 ha (gấp 4,17 lần). Diện tích trồng cây cao su vốn trước kia người Pháp trồng với diện tích nhỏ (cây cao su chủ yếu được trồng ở vùng Đông Nam Bộ, còn ở Tây Nguyên bị hạn chế hơn cây café) đã tăng nhanh chóng vì đem lại lợi nhuận lớn cho các nông trường quốc doanh của giới chức cộng sản. Trong vòng 12 năm, từ 2000 – 2012 diện tích cao su đã tăng gấp 2,5 lần từ 96.460 ha lên tới 243.000 ha… Hãy cộng tất cả những con số tăng trưởng về diện tích đất nông, lâm nghiệp này lại để biết được đã có bao nhiêu ha rừng nguyên sinh phải ngã xuống. Việc gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp chủ yếu là từ việc chuyển đổi đất rừng tự nhiên. Từ 1979 – 2000, có khoảng 136.000 ha đất rừng tự nhiên chuyển thành đất nông nghiệp. Theo như con số thống kê chính thức của nhà cầm quyền, từ 2005 – 2010, tổng diện tích rừng bị mất là 366.731 ha, trong đó chuyển sang đất nông nghiệp gần 217.000 ha, trở thành đất trống đồi trọc và mục đích khác gần 127.000 ha… Sự gia tăng nhanh diện tích cây công nghiệp vượt mức qui hoạch như cây café, cao su, sắn…và chuyển đổi đất rừng không kiểm soát được đã xâm hại nghiêm trọng đến tài nguyên và môi trường sinh thái, gây hậu quả lâu dài trong việc duy trì nguồn nước ở Tây Nguyên.  Điều này có thể thấy rõ trong những năm gần đây, Tây Nguyên ngày càng khô hạn. Với đặc điểm là cao nguyên, là thượng nguồn của những con sông của vùng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên không tiếp nhận bất cứ nguồn nước nào từ bên ngoài mà hoàn toàn phụ thuộc vào vũ lượng hàng năm và khả năng hấp thụ nước mưa của thảm thực vật ở đây. Khi thảm thực vật mất đi, Tây Nguyên sẽ nhanh chóng trở thành hoang mạc. Tính đến ngày 31 tháng Mười Hai, 2012, theo công bố hiện trạng rừng của Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn tại quyết định 1739/QĐBNN-TCLN, tổng diện tích có rừng ở Tây Nguyên (bao gồm cả tự nhiên vào rừng trồng) khoảng 2.594.000 ha với độ che phủ khoảng 50,7%. Tuy vậy, theo báo cáo tại Hội nghị Bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên ngày 14 tháng Ba, 2012 ở Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk, kết quả giải đoán ảnh viễn thám của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường năm 2012 cho biết, diện tích rừng có trữ lượng ở Tây Nguyên chỉ còn 1,8 triệu ha, với độ che phủ thấp chỉ khoảng 32,4%. Chỉ cần so sánh hai kết quả báo cáo và khảo sát giữa hai bộ ngành của nhà cầm quyền cũng cho ta thấy sự sai lệch giữa thực tế và các báo cáo thành tích là cả một vực thẳm – 36% (1,8 triệu ha/2,847 triệu ha). Nếu như lấy con số giải đoán viễn thám làm chuẩn, diện tích rừng đã mất so với năm 1976 là 62% (1,8 triệu ha/ 3,7 triệu ha năm 1976). Và không chỉ giảm tới 62% diện tích rừng mà là mức độ che phủ từ 87% năm 1976 đã chỉ còn 32,4% vào năm 2012. Những con số thống kê trên đây được trích dẫn từ các báo cáo kiểm kê đất đai Tây Nguyên năm 2005 – 2010 và báo cáo môi trường quốc gia 2010. Từ thời điểm đó cho tới năm 2020, mỗi năm có thêm ít nhất khoảng 27.000 ha rừng tự nhiên tiếp tục bị đốn hạ dưới nhiều lý do khác nhau. Vậy mà, ông bộ trưởng “một nắng” Nguyễn Xuân Cường có thể trắng trợn nói rằng rừng tự nhiên ở Việt Nam phát triển tốt và phải ghi công cho Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn của ông ta. Thật là một kẻ đốn mạt, láo toét. Phát triển thủy điện điên cuồng, chặt phá rừng bằng mọi cách Thảm họa sạt lở đất ở thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Điền, Huế khiến 16 công nhân thiệt mạng và 13 người trong đoàn cứu hộ cũng bị vùi lấp tử thương khi trên đường tiếp cận hiện trường trong ngày 12 tháng Mười, 2020 đã gióng lên hồi chuông báo động hiểm họa to lớn mà việc phát triển thủy điện nhỏ kéo theo hệ lụy tàn phá rừng tự nhiên trên thượng nguồn các con sông. Đây chỉ là một dự án thủy điện nhỏ trong số 13 dự án thủy điện được cấp phép của tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trên một đoạn sông Rào Trăng dài chỉ 26 km có tới 4 dự án thủy điện bậc thang là Alin B1, Alin B2, Rào Trăng 3, Rào Trăng 4 và những dự án thủy điện này đều nằm trong vùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền. Khó có thể biết có bao nhiêu thủy điện lớn nhỏ hiện nay đã và đang được xây dựng ở Tây Nguyên. Trong vòng 30 năm qua, Tây Nguyên là đại công trường xây dựng thủy điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ. Tính đến năm 2012, trên các hệ thống sông chính của Tây Nguyên như sông Ba, Sê San, Serepok, Đồng Nai có đến 287 dự án thủy điện đã và đang xây dựng với tổng công suất 6.991,8 MW. Trong đó có 43 dự án thuộc qui hoạch bậc thang thủy điện lớn trên dòng chính và 244 dự án thuộc qui hoạch thủy điện nhỏ trên sông, suối, phụ lưu… Chưa kể đến 153 dự án thủy điện nhỏ khác đang “chờ nghiên cứu” và làm thủ tục xin giấy phép đầu tư. Theo các đánh giá khoa học thì cứ 1 MW thủy điện người ta phải hy sinh từ 10 – 30 ha rừng trên vùng thượng nguồn để làm hồ chứa. Chỉ cần làm một phép tính nhân đơn giản cũng có thể cho ta thấy một diện tích rừng khổng lồ sẽ bị đốn hạ dưới danh nghĩa “tận thu lâm sản vùng lòng hồ thủy điện.” Chưa kể vấn nạn làm đường vào các dự án thủy điện kéo theo tình trạng lâm tặc với qui mô nhà nước, được bảo kê bởi giới chức cộng sản. Cách đây không lâu, trên mạng xã hội không khỏi kinh ngạc trước dinh thự mênh mông toàn bằng gỗ quí đáng giá hàng trăm tỷ đồng của cô con gái tướng Trần Kỳ Rơi ở Đắk Lắk. Đó chỉ là một ví dụ nho nhỏ của nguyên nhân gây ra thảm trạng tàn phá môi trường và rừng ở Tây Nguyên. Có thể điểm mặt một số các dự án thủy điện đã được xây dựng trên các dòng chính như sau: Trên dòng Sê San đã xây dựng 6 bậc thang thủy điện: Yaly, Sê San 3, Sê San 3A, Pleikroong, Sê San 4, Thượng Kon Tum; Trên dòng Serepok đã xây dựng 6 nhà máy thủy điện với tổng công suất 621 MW là Dray Hlinh, Buôn Kuop, Buôn Tua, Srah, Serepok 3, Serepok 4, Đak Xuyên…; Trên sông Ba, các công trình thủy điện lớn như An Kê – Ka nak, Krong Hnang, sông Hinh, và Ba Hạ, Ba Thượng, Ayun Thượng, Hchan, Hmun… và khoảng 329 công trình thủy lợi. Không phủ nhận một thực tế rằng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế ở Việt Nam là cấp bách và thiết yếu.  Song vấn đề ở đây là tình trạng lạm dụng các chính sách phát triển thủy điện để chặt phá rừng, chiếm dụng diện tích rừng của giới chức cộng sản Việt Nam ở mọi cấp từ địa phương tới trung ương. Theo một nghiên cứu của Viện Tư Vấn và Phát Triển CODE đã dẫn ra những số liệu diện tích chiếm dụng đất rừng và nạn chặt phá rừng tàn bạo của các công ty thuộc EVN do Bộ Công Thương quản lý trực tiếp. Tên công trình Công suất lắp máy(MW) Đất chiếm dụng (ha) Số dân bị ảnh hưởng (người) 1.    Yaly 720 6.450 24.610 2.    Sê San 4 360 6.403   3.    Pleikrong 110 5.328 6.000 4.    Thượng Kon tum 220 725 382 5.    Đồng Nai 2 80 1.920   6.    Đồng Nai 3 180 5.600   7.    Đồng Nai 4 340 850   8.    Đak Ring 98 1.099 2.665 Báo cáo của viện CODE cũng cho biết kết quả khảo sát 163 trong số 287 công trình thủy điện vừa và lớn ở Tây Nguyên đến năm 2012 đã chiếm dụng 65.239 ha đất các loại, trong đó có 16.600 ha rừng tự nhiên. Rừng ở tất cả các lưu vực bậc thang thủy điện như Sê San, Yaly, Pleikrong …đều đã bị lâm tặc và giới chức địa phương cùng doanh nghiệp thủy điện cạo trọc, xâm hại nghiêm trọng. Với thống kê và chứng cứ như trên, vậy mà Bộ Trưởng Trần Tuấn Anh có thể trắng trợn tuyên bố sẽ loại bỏ bất kể dự án thủy điện nào dù chỉ chặt phá một m² rừng tự nhiên? Thực sự là kẻ vô sỉ, lưu manh. Khai thác khoáng sản Bauxite Do những lo ngại về môi trường và địa bàn đặc biệt nhạy cảm về chính trị và quân sự ở Tây Nguyên, nên trước năm 2000, các dự án khai thác khoáng sản vẫn bị giới chức CSVN cân nhắc thận trọng. Đặc biệt là đối với bauxite, dù được đánh giá có trữ lượng và tiềm năng kinh tế lớn. Các lãnh đạo CSVN ở các thời kỳ trước như Lê Duẫn, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Khải đều thống nhất đánh giá rằng tài nguyên Bauxite ở Tây Nguyên mới ở điều kiện cần mà chưa đủ để phát triển ngành công nghiệp luyện nhôm ở Việt Nam khi hạ tầng kỹ thuật, trình độ điện khí hóa, hóa chất, luyện kim chưa đạt. Ngoài ra, đặc thù các mỏ Bauxite ở Tây Nguyên dàn trải trên diện tích lớn đất lâm nghiệp, vỉa quặng không dày và nằm trên đầu nguồn các dòng sông. Việc khai thác sẽ ảnh hưởng và gây ra rủi ro môi trường… Ở một chừng mực nào đó, những đánh giá khoa học, khách quan của giới trí thức đã được những lãnh đạo CS ở thời kỳ trước lắng nghe. Tuy vậy, điều này đã bị thay đổi khi Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư và Nguyễn Tấn Dũng phụ trách kinh tế. Dù gặp phải sự phản biện gay gắt của giới khoa học trong nước cũng như công luận, khi nguồn tiền vay dồi dào của người bạn vàng 4 Tốt Trung Quốc đã bơm đầy vào tài khoản cá nhân của các chóp bu cộng sản, dự án khai thác bauxite-alumin Tân Rai – Nhân Cơ với công suất 600.000 tấn/năm do TKV làm chủ đầu tư và nhà thầu là công ty Chalieco, Trung Quốc thực hiện tất cả các công đoạn từ thiết kế – mua thiết bị – xây dựng – đào tạo (EPC) đã được chính phủ CSVN cho phép triển khai vào năm 2007. Sau 10 năm, đánh giá hiệu quả kinh tế dự án này, Bộ Tài Chính Việt Nam đã công bố con số lỗ 3.696 tỷ đồng, đồng thời qua 4 lần điều chỉnh, tổng mức vốn đầu tư cho dự án đã tăng từ 7.800 tỷ lên 15.400 tỷ. Dù hiện nay chưa có những đánh giá tác động về môi trường đầy đủ và khách quan đối với dự án bauxite – alumin Tân Rai – Nhân Cơ, song với qui mô và rủi ro tiềm ẩn quá lớn, những hiểm họa từ các hồ chứa bùn đỏ đang sắp đầy ứ và chất lượng vận hành phập phù của nhà máy này thực sự là một quả bom chết chóc treo trên đầu 12 triệu dân dưới hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai. Chỉ cần bất cứ sự cố nào ngoài tầm kiểm soát, sẽ có một thảm họa môi trường vô phương cứu chữa. Đó sẽ là dấu chấm hết bi thảm cho Tây Nguyên và cả vùng Đông Nam Bộ. Trong khuôn khổ một bài viết, tác giả không thể phân tích đánh giá đầy đủ các tác động môi trường, kinh tế, xã hội mà các chính sách thiển cận cũng như tệ nạn trong quản lý nhà nước của giới chức CSVN đã gây ra với Tây Nguyên. Song trên những số liệu của chính các cơ quan thống kê nhà nước CSVN, các nghiên cứu của những viện nghiên cứu, bộ ngành chức năng liên quan trong lĩnh vực, người viết xin đưa ra những luận cứ phản biện các phát biểu ngụy biện, dối trá của các bộ trưởng CSVN khi trả lời câu hỏi của đại biểu Ksor H’Bơ Khắp trong thời gian qua. Tân Phong
 
16.11.2020
Amy Truc Tran| Đúng một tháng sau ngày bắt giữ nhà báo tự do Phạm Đoan Trang, vào ngày 06 tháng 11 vừa qua, côn an Nghệ An đã bắt giữ ông Nguyễn Văn Lâm (facebooker Lâm Thời), 50 tuổi, ở thành phố Vinh. Ông Nguyễn Văn Lâm bị bắt với cáo buộc “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước.” Được biết, ông Nguyễn Văn Lâm là nhân viên bảo vệ của một công ty đóng tại Vinh. Ông là chủ tài khoản facebook Lâm Thời, thường xuyên lên tiếng về những bất cập trong xã hội và những việc làm sai trái của quan chức nhà nước. Tang chứng mà nhà cầm quyền CSVN dùng để cáo buộc tội đối với ông Lâm chỉ là những bài viết trên facebook phản ánh thực trạng xã hội. Rõ ràng đó chỉ là những cáo buộc mơ hồ, hòng dập đắt tiếng nói của người dân và để củng cố quyền lực của chế độ độc tài. Một đảng tà quyền hèn với giặc, ác với dân.  
12.11.2020
Fb Amy Truc Tran
3 thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam bị truy tố theo khoản 2 Điều 117 Bộ Luật Hình Sự Quang Nguyên -  Việt Nam Thời Báo| Tin từ Luật sư  Nguyễn Văn Miếng: “Hôm nay ngày 10/11/2020, VKSND Tp. HCM đã ra Cáo trạng số 543/CT-VKS-P1 dài 12 trang truy tố 3 thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập VN theo khoản 2 Điều 117 BLHS: Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Ký nhận Cáo trạng, có sự chứng kiến của luật sư, tiến sỹ Phạm Chí Dũng ghi: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Trên thế giới, ngoài Việt Nam không biết còn xứ sở nào khác có một thứ luật vi phạm nhân quyền, quyền tự do ngôn luận trắng trợn như vậy. Hành động bắt giữ các thành viên của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam chỉ vì lên tiếng phản biện một cách đứng đắn, chừng mực, văn minh và hợp với hiến pháp  Việt Nam của chính quyền  Việt Nam là một hành vi vi phạm hiến pháp. Nguyễn Xuân Phúc, Thủ Tướng Việt Nam có lần rêu rao cần lắm những tiếng nói phản biện, chỉ là những lời dối trá! Trong chế độ độc tài, mỗi hành vi của người dân đều bị theo dõi sát sao. Gương những người bị buộc tội phản đảng, phản tổ quốc trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm còn đó. Người bình thường, không có cái dũng của trí thức, sĩ phu  trước vận mệnh của đất nước dám lên tiếng không? Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam không nhằm lật đổ chính quyền như cáo trạng vu khống, họ chỉ muốn có một xã hội tốt hơn, ở đó, nhà nước biết tôn trọng nhân quyền, trong đó đảng cộng sản phải tôn trọng quyền làm chủ đất nước của họ, biết đặt quyền lợi của đảng dưới quyền lợi của dân tộc. Đó có phải là tội? Cộng sản VN đã nhiều lần bị quốc tế liên tục lên án vi phạm nghiêm trong nhân quyền, quyền tự do ngôn luận. Trong những phiên điều trần của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, bị cáo buộc bởi nhiều nước thành viên LHQ, họ nhiều lần cúi đầu nhận thiếu sót và xin sửa sai. Nhưng chứng nào, tật nấy. Việt Nam nhận lỗi trước công luận thế giới, nhưng không hề thay đổi. Bắt Phạm Đoan Trang mới đây và đưa ra các bản án dự trù lên đến 20 năm tù đối với các thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, chính quyền cộng sản VN lại một lần nữa tự lột mặt nạ cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới thấy rõ bộ mặt thật của họ. Chính quyền Việt Nam đã nhầm khi muốn bẻ gẫy ý chí của những nhà lãnh đạo Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam. Trong suốt một năm bị tra cung, thẩm cung, không ngoại trừ khả năng bị dụ dỗ, mớm cung, ép cung, làm áp lực tinh thần trên gia đình và cá nhân các ông, cuối cùng cả hệ thống chính quyền nhận được lời tuyên bố đanh thép của Chủ Tịch Phạm Chí Dũng: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Tôi tin Phó Chủ Tịch Hội Nguyễn Tường Thụy, và người vô tội Lê Tuấn cũng đường hoàng, chững chạc trả lời như vậy: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Ông Lê Hữu Minh Tuấn được luật sư Đặng Đình Mạnh thuộc đoàn luật sư TPHCM tham gia bào chữa. Các thành viên còn lại và các cộng tác viên của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, các chính phủ trên khắp thế giới và người Việt Nam trong, ngoài nước đều cùng lên tiếng: “Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Tuấn, không vi phạm pháp luật Việt Nam. Họ vô tội.” Chính quyền  Việt Nam cũng đã nhầm khi họ có ý định dùng những bản án nặng nề để ‘răn đe’ người trong nước. Người Việt không hèn như đảng cộng sản nghĩ. Sẽ ngày càng có nhiều người đi lên lãnh trách nhiệm tiếp tục phản biện với đảng CSVN, bước theo con đường của Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Tuấn. Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam vẫn trân trọng địa vị của chủ tịch, phó chủ tịch hội khi họ vắng mặt, và Hội vẫn không ngừng lớn mạnh. Hành động đè nén nhân quyền, quyền tự do ngôn luận của bằng cách đưa ra các bản án cao cho những người bênh vực các quyền này bao nhiêu lại càng hạ thấp uy tín và phẩm chất của cộng sản bấy nhiêu.    
11.11.2020
Quang Nguyên - Việt Nam Thời Báo
Trung Điền - Việt Tân Trong lúc dư luận đang hướng về nước Mỹ để chờ kết quả cuộc bầu cử xem ông Trump hay ông Biden sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ cho 4 năm tới (2021-2025), thì Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng CSVN đã thông báo một bản tin thuộc loại bom tấn, khiến cho dư luận khá bất ngờ. Đó là đề nghị xem xét kỷ luật đối với ủy viên Bộ Chính Trị Nguyễn Văn Bình, trong phiên họp lần thứ 49 của Ủy Ban vào ngày 3 tháng Mười Một vừa qua. Gọi là “bom tấn” vì sự kiện ông Nguyễn Văn Bình bị xem xét kỷ luật ngay khi chỉ còn vài tháng nữa đại hội đảng CSVN lần thứ 13 khai mạc, đồng nghĩa với nhiều xác suất là cuộc đời thăng tiến chính trị của ông Bình sẽ chấm dứt ở đại hội này. Nói cách khác, với đề nghị xem xét biện pháp kỷ luật của Ủy Ban Kiểm Tra, dù ở mức thấp nhất là cảnh cáo, thì ông Nguyễn Văn Bình không còn có cơ hội để được tiến cử vào trung ương nhiệm kỳ 13 và ước mơ trở thành một trong tứ trụ (ghế thủ tướng hay chủ tịch nước) hoàn toàn sụp đổ. Ông Nguyễn Văn Bình đã dính vào những sai phạm gì để bị phe nhóm ông Trọng “trảm” vào giờ phút chót? Theo công bố khá mù mờ của Ủy Ban Kiểm Tra thì ông Nguyễn Văn Bình bị sai phạm khi còn làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ năm 2011, dưới thời ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Tội của ông Bình được công bố như sau: “đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc… gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân Hàng Nhà Nước và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự”. Những dòng chữ này hoàn toàn không nói rõ tội của ông Bình, nhưng sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Bộ Chính Trị xem xét về việc Ngân Hàng Nhà Nước đã mua lại ba ngân hàng với giá 0 đồng gồm Ngân Hàng Xây Dựng (VNCB – nay đổi thành CB Bank), Ngân Hàng Dầu Khí Toàn Cầu (GP Bank), Ngân Hàng Đại Dương (Ocean BanK) khi những ngân hàng này bị phát hiện là “sân sau” của một số cán bộ trong ngành xây dựng và dầu khí để tham ô và bị phá sản. Một số những lãnh đạo của các ngân hàng này như Phạm Công Danh, Hà Văn Thắm, Tạ Bá Long đang ngồi tù. Ông Nguyễn Phú Trọng đề nghị xem xét vì Ngân Hàng Nhà Nước tuy mua lại 3 ngân hàng nói trên với giá 0 đồng, nhưng nhà nước đã phải gánh những khoản nợ xấu do các ngân hàng này gây ra, lên đến chục ngàn tỷ đồng, trong thời gian ông Nguyễn Văn Bình làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ 2015-2016. Nói cách khác, ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ông Nguyễn Văn Bình là người có trách nhiệm khi mua lại những ngân hàng đã phá sản và làm thiệt hại tài sản nhà nước. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Nguyễn Phú Trọng và Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương lại khui hồ sơ sai phạm của ông Nguyễn Văn Bình vào lúc này mà không là trước đó, khi các vụ xử những sai phạm của các ngân hàng nói trên diễn ra trong các năm 2017 và 2018? Ông Nguyễn Văn Bình sinh năm 1961 tại Phú Thọ. Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Liên Xô. Từ năm 1986, ông Bình đã bắt đầu làm việc tại Ngân Hàng Nhà Nước với nhiều chức vụ khác nhau, cho đến năm 2016 thì chuyển qua làm Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương đảng như hiện nay. Có thể nói, ông Nguyễn Văn Bình là nhân vật chính trị có kỹ năng trong lãnh vực tài chánh, ngân hàng. Khi ông Nguyễn Văn Bình được bổ nhiệm làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ tháng Tám 2011, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trước nhiều rủi ro. Nợ xấu tăng cao sau giai đoạn khủng hoảng, sở hữu chéo của hệ thống ngân hàng đã tạo ta tình trạng bất ổn chưa từng thấy, nhưng ông Bình đã giải quyết ổn thỏa và đưa thị trường tài chánh và kinh tế Việt Nam trở lại bình thường từ năm 2015. Với những thành tựu này, ông Bình được tín nhiệm cao trong đại hội 12 và đã được bầu vào Bộ Chính Trị đứng ở vị trí 13 trên 16 người (cao hơn các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Hoàng Trung Hải, Phạm Bình Minh, Đinh La Thăng, Tô Lâm, Võ Văn Thưởng, Trương Thị Mai). Với những khả năng kinh tế – tài chánh, ông Bình trong vai trò trưởng ban kinh tế trung ương đã giúp cho ông Trọng hai nỗ lực đáng kể. Thứ nhất là duy trì sự tăng trưởng kinh tế khá ổn định và lần đầu tiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt hơn 500 tỷ Mỹ Kim (2019). Thứ hai là phụ trách việc biên soạn các văn kiện đánh giá kết quả phát triển kinh tế – xã hội (2016-2020) và phương hướng phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm (2021-2025), mà đích nhắm là vào năm 2035, Việt Nam sẽ là nước đang phát triển có nền công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Trong hội nghị trung ương đảng vào tháng Năm, 2020, khi ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các ủy viên trung ương bầu chọn thử những nhân sự nào nên chọn ở lại cho nhiệm kỳ 13 (2021-2025) thì ông Nguyễn Văn Bình đạt số phiếu khá cao, đề cử vào trong danh sách tân bộ chính trị và có nhiều triển vọng sẽ là chủ tịch nước hoặc thủ tướng. Cả hai vị trí này chắc chắn đụng phải người của ông Trọng. Nếu ở  vị trí thủ tướng thì sẽ đụng với ông Vương Đình Huệ, hiện là bí thư thành ủy Hà Nội có nhiều triển vọng được nhóm ông Trọng – ông Vượng đưa vào hàng tứ trụ với ghế thủ tướng thay ông Nguyễn Xuân Phúc. Nếu ông Nguyễn Văn Bình được đề cử ghế chủ tịch nước thì sẽ đụng chính ông Nguyễn Phú Trọng, vì phe nhóm ông Trọng đang vận động để ông Trọng tiếp tục ở lại giữ chức chủ tịch nước. Nói cách khác, nếu ông Nguyễn Văn Bình tiếp tục ở lại cho nhiệm kỳ 13 (2021-2025) sẽ phá hỏng kế hoạch sắp xếp dàn tứ trụ mà phe ông Trọng muốn củng cố và trung ương đảng sẽ chọn trong hội nghị 14 vào tháng Mười Hai tới đây sẽ là: Trần Quốc Vượng (tổng bí Thư), Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch nước), Vương Đình Huệ (thủ tướng), Trương Thị Mai (chủ tịch quốc hội). Tóm lại, ông Nguyễn Văn Bình bị đề nghị “xem xét kỷ luật” một cách đột xuất của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương là vì ông Bình vốn là đàn em cật ruột của Nguyễn Tấn Dũng, trở thành một đối thủ nặng ký làm trở ngại cho việc sắp xếp nhân sự của ông Trọng cho đại hội 13 dự trù sẽ khai mạc vào tháng Giêng, 2021. Trung Điền #nguyenvanbinh  #daudanoibo  #daihoi13
05.11.2020