2013

Dr. Philipp Rösler Bundesvorsitzender der FDP: Grußwort zum 37. Vietnamesischen Katholikentag in Aschaffenburg

Grußwort von Dr. Philipp Rösler Bundesvorsitzender der Freien Demokratischen Partei und Mitglied im Zentralkomitee der deutschen Katholiken (ZdK) anlässlich des 37. vietnamesischen Katholikentages in Aschaffenburg Sehr geehrte Mitglieder der Vereinigung der vietnamesischen Katholiken in Deutschland, liebe Gläubige, ich danke Ihnen sehr herzlich für die Ehre, dass ich anlässlich des 37. vietnamesischen Katholikentags in Aschaffenburg ein Grußwort an Sie richten darf. Ihr diesjähriger Katholikentag steht unter dem Motto "Năm Đức Tin – Truyền Đạt Đức Tin Cho Con Cháu", was übersetzt so viel bedeutet wie „Das Glaubensjahr – Die Glaubensweitergabe an unsere Kinder“. Gerne möchte ich Ihnen erzählen, wie ich zum Glauben kam. Ich habe als junger Arzt in einem evangelischen Krankenhaus gearbeitet und bin dort mit Leid und Sterben konfrontiert worden. Ich habe die Schwestern gefragt, wie sie damit zurechtkommen. Die sagten: "Philipp, das hier ist ein christliches Haus." Sie haben aus ihrem Glauben Kraft geschöpft. In dieser Zeit ist der Entschluss in mir gereift, ebenfalls einer christlichen Kirche beizutreten. Und da ich als Baby in Vietnam in ein katholisches Waisenhaus aufgenommen wurde, konnte das für mich nur die katholische Kirche sein. Meine damalige Freundin, die heute meine Frau ist, war zudem als Messdienerin engagiert und hat mich in diesem Schritt bestärkt. Sie war übrigens meine Taufpatin. In der Kirche, wo ich getauft wurde, haben wir dann später auch geheiratet. Die tiefe Überzeugung, dass es etwas Höheres gibt als uns, schützt uns davor, abzuheben. Deswegen ist mir der Gottesbezug in der Präambel des Grundgesetzes auch wichtig. Die Verfassung schützt die Minderheit vor der Mehrheit, der Gottesbezug den Menschen vor sich selbst. Der Glauben gehört zu meinem festen Wertegerüst. Diesen Glauben und meine Werte teile ich mit meiner Familie und gebe diese - auch beim sonntäglichen Gang in die Kirche - an meine beiden Töchter weiter. An diesem Wochenende feiern wir Christen Pfingsten. Dieses Hochfest markiert den spirituellen Ursprung des Christentums. Im 2. Kapitel der Apostelgeschichte werden die Erfahrungen der Jünger Jesu beim Pfingstfest, in Jerusalem wie folgt geschildert: „Und als der Pfingsttag gekommen war, waren sie alle an einem Ort beieinander. Und es geschah plötzlich ein Brausen vom Himmel wie von einem gewaltigen Wind und erfüllte das ganze Haus, in dem sie saßen. Und es erschienen ihnen Zungen zerteilt, wie von Feuer; und er setzte sich auf einen jeden von ihnen, und sie wurden alle erfüllt von dem heiligen Geist und fingen an, zu predigen in andern Sprachen, wie der Geist ihnen gab auszusprechen.“ Im Sinne dieser frohen Pfingstbotschaft wünsche ich Ihnen, Ihren Familien und Angehörigen inspirierende Gespräche, nachhaltige Begegnungen und besinnliche Pfingsttage. Mit freundlichen Grüßen und herzlichem Dank Ihr    
......

Staatsministerin Prof. Dr. Maria Böhmer MdB: Grußwort zum 37. Vietnamesischen Katholikentag

18.-20. Mai 2013  Aschaffenburg     Liebe Teilnehmerinnen und Teilnehmer des 37. Vietnamesischen Katholikentages, sehr geehrte Damen und Herren, liebe Schwestern und Brüder im Herrn,   bereits zum 37. Mal findet an diesem Wochenende der Vietnamesische Katholikentag statt. Das Pfingstfest ist hierfür der denkbar beste Anlass. An Pfingsten sandte Gott den Aposteln den Heiligen Geist und beschenkte sie mit der Gabe, in allen Sprachen zu sprechen. Pfingsten ist daher der Geburtstag unserer Kirche. Gleichzeitig ist dieses Fest für uns ein Zeichen, dass der Glaube Grenzen überwindet: Grenzen der Sprache, der Nation und der Kultur. Pfingsten ist ein Symbol für die Weltkirche. Mit Ihrem Katholikentag machen Sie der katholischen Kirche in Deutschland bewusst, dass unser Glaube nicht an Staats- oder Sprachgrenzen Halt macht. Als ich vor Ostern bei der Amtseinführung unseres Papstes Franziskus in Rom war, konnte ich auf dem Petersplatz unsere Weltkirche förmlich mit Händen greifen. Gläubige aus allen Teilen der Welt hatten sich zusammengefunden. Viele unterschiedliche Fahnen waren zu sehen. Viele unterschiedliche Sprachen waren zu hören. Das alles hat mir nochmals gezeigt: Wenn wir uns in Christi Namen versammeln, dann sind wir mit allen unseren Schwestern und Brüdern auf der ganzen Welt vereint. Die Einheit im Glauben und die Vielfalt in den Kulturen und Sprachen sind ein wunderschönes Geschenk an die Kirche. Die Gründung der vietnamesischen Gemeinde in Deutschland ist eng verknüpft mit leidvollen Erfahrungen. Als Staatsministerin im Bundeskanzleramt bin ich auch für die Flüchtlinge bei uns im Land zuständig. Daher ist es mir wichtig, in Erinnerung zu rufen, dass viele von Ihnen aus Familien stammen, die als sogenannte Boat People bei uns in Deutschland Zuflucht und mittlerweile eine neue Heimat gefunden haben. Diese Flüchtlingserfahrungen mahnen uns, auch heute Flüchtlingen Zuflucht und Schutz zu gewähren.   Wir wissen aber auch, dass die Situation für unsere Glaubensschwestern und –brüdern in Vietnam nach wie vor schwierig ist. Die Zerstörung von Kirchen, Verhaftungen und Willkür gehören zum Alltag vieler Christen in Vietnam. Der Eintritt für Religionsfreiheit weltweit muss daher gerade für uns Politiker ein wichtiges Anliegen sein. Daher setze ich mich mit allem Nachdruck dafür ein, dass wir solidarisch mit allen Menschen sind, die aufgrund ihres Glaubens Verfolgung und Bedrängung ausgesetzt sind. Dabei fühle ich mich unserem emeritierten Papst Benedikt verpflichtet, der das Menschenrecht auf Religionsfreiheit immer in den Mittelpunkt seines missionarischen Handelns gestellt hat. Ich wünsche Ihnen allen einen begeisterten und begeisternden Katholikentag. Gerne wäre ich heute persönlich bei Ihnen gewesen. Leider ist mir dies nicht möglich, aber im Gebet bin ich mit Ihnen verbunden.   Es grüßt Sie herzlich   Ihre Maria Böhmer ____________________________________________________ Mitglied des Deutschen Bundestages Staatsministerin im Bundeskanzleramt Mitglied im Zentralkomitee der deutschen Katholiken
......

“Ngày Cầu nguyện cho Quê Hương Việt Nam “

THƯ MỜI Kính gởi: Quý Linh mục, Quý Tu sĩ Nam Nữ, Quý vị Đại Diện tinh thần các Tôn Giáo, Quý vị Đại Diện các Cộng Đồng, Cộng Đoàn Việt Nam, Quý vị Đồng Hương yêu chuộng Công Lý – Hoà bình, Quý Bậc Trưởng Thượng, Quý cơ quan Truyền Thông, Quý Ông Bà, Anh Chị và các Bạn Trẻ thân mến! Kính thưa Quý vị,   Những bóng tối đêm đen mù mịt, những giông tố bão bùng của nhà cầm quyền csvn vẫn còn phủ kín cả vòm trời quê hương, và giáng xuống trên đầu những người dân hiền lành. Thế nhưng, nhà cầm quyền csvn không thể đè bẹp, khống chế làm cho người dân phải hoang mang, khiếp sợ. Ngày nay, những người dân Việt đang sống trên Quê hương đã hiểu và nhận thức được rằng: CHÚNG TÔI PHẢI SỐNG! CHÚNG TÔI PHẢI THỰC SỰ LÀM NGƯỜI!   Vì thế, trong thời gian gần đây, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị nhân sĩ trí thức và đồng bào trong nước đã mạnh dạn kiến nghị, đòi hỏi góp ý sửa đổi hiến pháp. Đây là việc làm rất thiết thực.Vì rằng: Một đất nước muốn được phát triển, không phải chỉ phát triển về vật chất, kinh tế; nhưng trước hết và trên hết, là CON NGƯỜI phải được phát triển toàn diện; CON NGƯỜI phải luôn luôn được tôn trọng. Trong tâm tình cùng hiệp thông với tinh thần của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị nhân sĩ trí thức và đồng bào trong nước đòi hỏi góp ý sửa đổi hiến pháp, tại Đan Viện ST. OTTILIEN – 86941,St. Ottilien thuộc Tiểu bang Bayern Đức quốc, vào ngày 22 tháng 06. 2013, lúc 15 giờ, sẽ được tổ chức một Thánh Lễ đồng tế và đốt nến cầu nguyện. Kính mong tha thiết Quý Linh mục, Quý Tu sĩ Nam Nữ, Quý vị đại diện tinh thần các Tôn Giáo, Quý vị đại diện các Cộng Đồng, Cộng Đoàn; quý Bậc Trưởng Thượng, quý cơ quan Truyền Thông, và quý vị Đồng Hương Việt Nam yêu chuộng hòa bình-công lý, quý Ông Bà, Anh Chị và các Bạn Trẻ không phân biệt tôn giáo, bỏ chút thì giờ quý báu, đến tham dự “Ngày cầu nguyện cho Quê hương Việt nam”,tại Đan Viện ST. OTTILIEN . Trân trọng kính mời. Linh mục Augustinô Phạm Sơn Hà OSB Đan Viện St. Ottilien, ngày 13.05.2013 Chương trình: Thứ bảy, 22. 06. 2013, Tại Đan viện St. Ottilien 15 giờ: Thánh lễ đồng tế 16 giờ 30: Hàn huyên; nướng thịt cơm chiều. 20 giờ 00: Kiệu Đức Mẹ và đốt nến cầu nguyện cho Quê Hương Việt Nam. Bí chú: Để việc lo liệu và sắp xếp được chu đáo cho ngày cầu nguyện cho Quê hương VN tại Đan viện St. Ottilien, xin vui lòng liên lạc, ghi danh trước ngày 18.06.2013 về địa chỉ: Pater Augustinus Son Ha Pham OSB, Erzabtei 01, D – 86941,St. Ottilien,  Điện thoại: 0049/(0)8193/71615; Email:augustinus@ottilien.de   ***Nếu có thể được, Qúy bà, Qúy chị mặc áo dài đến tham dự Thánh lễ! Cám ơn.   Hướng dẫn đến Đan Viện St. Ottilien:   - Bằng phương tiện xe hơi: Đan Viện St. Ottilien nằm trên Xa lộ A96 (đường xa lộ Munich-Lindau). Nếu từ phía đông đến: lấy xa lộ A96 hướng Lindau – chạy tới Greifenberg thì ra khỏi xa lộ, theo hướng Türkenfeld rẽ theo làng Pflaumdorf. Đan viện St.Ottilien nằm sau làng Pflaumdorf khoảng 2 km. - Từ phía tây đến: Lấy xa lộ A96 hướng Munich – chạy đến Schöffelding thì ra khỏi xa lộ, chạy tiếp tục đến Eresing rồi rẽ theo hướng Geltendorf có bảng chỉ vào Đan viện St Ottilien. - Bằng phương tiện xe lửa đến từ phía bắc và phía nam: Trạm nhà ga xe lửa Đan viện St. Ottilien nằm trên tuyến đường sắt Augsburg-Weilheim. Tất cả mọi chuyến xe chạy đến Weilheim, đều dừng lại ở trạm nhà ga Đan viện St Ottilien. - Đến từ phía Đông và phía Tây: Trạm Geltendorf nằm trên tuyến đường sắt Munich-Buchloe. Trạm Geltendorf cũng là trạm cuối cùng của chuyến xe điện (S-Bahn )số 4. Từ trạm Geltendorf đi bộ đến Đan viện St. Ottilien khoảng 20 phút. Từ phía bên phải nhà ga xe lửa đến đường hầm, qua khỏi đường hầm là con đường cho người đi bộ dẫn đến Đan viện St.Ottilien.      
......

Nhục!

Tòa án của chế độ ngày 16/5/2013 đã đưa hai sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha ra xử. Trong phiên tòa một ngày, tại Long An. Sau khi giam giữ hai bị cáo hơn nửa năm. Thuật ngữ dùng cho các cuộc xử, cả bình thường cả bất bình thường, gọi đó là kiểu “làm gọn”, có khi chỉ cần “một cái rụp”… là xong. Kiểu “xử gọn” như vậy có đáng gọi là một việc làm đàng hoàng không? Và ai làm một việc không đàng hoàng có phải là nhục không? Mà về tội gì? Theo tờ Tuổi trẻ, tức phải là tờ báo của tuổi hai bị cáo, thì là “về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam”. Tin viết là “theo hồ sơ”, nhưng tờ báo không cho biết “theo hồ sơ” là do được “tiếp cận hồ sơ”, theo đúng tác phong, chức năng nghề báo. Hay được nghe đọc lúc xử. Hay là không đọc, cũng không nghe, mà chỉ quen tay viết vậy… Vì toàn bộ bản tin về vụ án chỉ vỏn vẹn được gói gọn không quá 250 chữ, nằm lọt giữa trang 2. Cho một bản án tổng cộng 14 năm tù, cộng 2, và 6 năm quản chế. Tin về một bản án nặng nề, với một tội danh không nhẹ là “chống phá Nhà nước”, lại được đem nhét giữa trang 2. Thua cả môt tin xe đụng… Báo chí cho tuổi trẻ muốn cho tuổi trẻ thấy gì? Và nhất là tờ báo tự cảm thấy gì? Mà về một bản án được mọi người ViệtNam trong ngoài nước quan tâm, lại đi loan tin theo kiểu phải vạch mãi để tìm mới lòi ra để đọc?   Về phiên tòa, thân phụ Phương Uyên cho biết ông và các thân nhân khác không được cho vào dự khán, chỉ có bà mẹ Phương Uyên được vào. Lại bị bao vây che chắn bởi một đám thân nhân lạ hoắc, không ai khác hơn là công an mật thám trá hình. Có người đến ngóng tin bên ngoài tòa án đã bị công an thường phục hốt về đồn. Xử án, ở đâu cũng vậy, thông thường là để làm gương, chớ không phải để trả thù. Để làm gương nên có khi còn chọn một pháp đình thật rộng, khi pháp đình quen thuộc không đủ chỗ cho mọi người. Còn ở đây là để làm gì? Mà lại lén lén, lút lút… như đem giấu? Về cái cách chế độ nầy đã bắt Phương Uyên cũng vậy, cũng thật đáng xấu hổ. Bắt như bắt cóc. Bắt đi mất tích rồi chối quanh hơn cả chục ngày mới chịu thừa nhận. Để đưa ra một lô chứng cứ tội phạm và lời thú tội có là công an cũng không thể tin là đứng đắn. Không thể nghĩ một chế độ tự nhận là Nhà nước pháp quyền mà lại đi hành xử pháp quyền như… vậy.   Còn lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nữa? Trước một loạt đối xử không đàng hoàng đối với một thành viên Ban chấp hành Đoàn thuộc cấp mà vẫn ngậm miệng nín khe là làm sao? Để làm gì và đang làm gì? Hay là đang sợ đoàn viên, đang sợ thanh niên cả nước theo gương Phương Uyên và Nguyên Kha, không thể tiếp tục nhẫn nhục và chịu nhục trước họa mất nước?   Nhắc lại chuyện này, từ khâu bắt người cho tới khi xử, cho tới nay, trong ngoài nước, ai cũng thấy không thể chịu nổi những việc làm đáng xấu hổ của không ít người của chế độ.   Tôi cũng không thể chịu nổi, nhất là trước những hành động quá ác đối với tuổi trẻ, nên đã cùng với hơn 150 người khác đứng tên trong kiến nghị gởi Chủ tịch Nước đề ngày 30/10/2012 yêu cầu can thiệp trả tự do cho Phương Uyên. Cho tới nay, ông Chủ tịch Nước vẫn cứ nín khe. Nhưng tôi và các bạn tôi đã được tưởng thưởng. Hãy nghe chàng trai 24 tuổi Đinh Nguyên Kha nói: “Tôi không hề chống dân tộc tôi, tôi chỉ chống đảng cộng sản. Mà chống đảng thì không phải là tội”.   Hãy nghe Nguyễn Phương Uyên 21 tuổi nói: “Việc tôi làm thì tôi chịu. Xin nhà cầm quyền đừng làm khó dễ mẹ hay gia đình của chúng tôi. Chúng tôi làm để thức tỉnh mọi người trước hiểm họa Trung Quốc xâm lược đất nước và cuối cùng là chúng tôi làm xuất phát từ cái tấm lòng yêu nước nhằm chống cái xấu để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp tươi sáng hơn”. Cám ơn Phương Uyên. Cám ơn Nguyên Kha. Cám ơn những cô gái, những chàng trai yêu nước ViệtNam. /. 19/5/2013 H.N.N.
......

Một đóa hoa, một tà áo và hai chế độ

Đau xót, phẫn nộ, cảm phục và tự hào… là cảm xúc của những con người có lương tri khi phiên tòa xử hai sinh viên yêu nước Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên vừa kết thúc. Sẽ còn nhiều nữa những lời ca ngợi dành cho hai em, đồng nghĩa với việc nhà cầm quyền phải đứng trước một sự phán xét nghiêm khắc của những người yêu tự do và công lý. Sự việc Uyên không được mặc chiếc áo dài truyền thống để ra tòa làm tôi liên tưởng đến một “giai thoại” rất đẹp về một người con gái đã đi vào thơ ca và được chế độ này ca tụng. Tất nhiên, cũng có không ít người cho rằng, người con gái ấy chỉ là một nữ khủng bố hay một nhân vật không có thực, được dựng lên nhằm “tô son điểm phấn” cho những mưu đồ chính trị. Người viết bài này tạm công nhận giả thiết đây là một nữ anh hùng: Võ Thị Sáu.  Thời cắp sách, tôi đã phải học thuộc lòng những câu thơ sau của Tố Hữu, để rồi cũng có khi mơ mộng: nếu đất nước có giặc, mình cũng sẽ hiên ngang như thế.                           “Người con gái trẻ măng                            Giặc đem ra bãi bắn                            Đi giữa hai hàng súng                            Vẫn ung dung mỉm cười                           Ngắt một đóa hoa tươi                           Chị cài lên mái tóc                          Đầu ngẩng cao bất khuất                         Ngay trong phút hy sinh.                         Bây giờ dưới gốc dương                        Chị nằm nghe biển hát.”   Theo miêu tả của những người cộng sản thì những tên giặc Pháp nói chung và những tên cai tù thời Pháp nói riêng đều vô cùng tàn bạo và khát máu. Còn những người cộng sản ( và chế độ cộng sản) thì tất nhiên rồi, là hiện thân của Chân- Thiện - Mĩ. Là những gì tốt đẹp, nhân văn và đáng ca ngợi nhất. Tên thực dân năm xưa đã kết án tử hình kẻ đã ném lựu đạn làm chết cai tổng và bị thương 20 tên lính Pháp. Thành tích của chị Sáu hơn sáu mươi năm trước hẳn là niềm mơ ước của quân đội Hoa Kỳ ngày nay. Trước khi mở một chiến dịch truy quét quân khủng bố, quân đội Hoa Kỳ với vũ khí tối tân hiện đại, chưa kể trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến bậc nhất thế giới cũng phải “nát óc” tính toán làm sao để vừa tiêu diệt được những tên khủng bố, vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong dành cho dân thường. Thế mà vẫn không tránh khỏi những rủi ro ngoài ý muốn. Để rồi chịu sự chỉ trích của dư luận thế giới và của chính người dân Mỹ. Chị Sáu quả là tài …thánh hoặc ít ra, quả lựu đạn mà chị sử dụng có một khả năng đặc biệt: giết người theo ý muốn. Xin nhắc lại, địa điểm chị Sáu chọn để hành động là chợ Đất Đỏ, nơi người dân qua lại mua bán tấp nập. Không hiểu sao tên cai tổng và hai mươi tên lâu la của y lại ùn ùn kéo nhau đi chợ để rồi “từ chết đến bị thương” trong khi người dân không ai hề hấn gì. Khi áp giải chị Sáu ra pháp trường, những tên cai tù khét tiếng tàn ác đó lại cho phép, thậm chí ngoan ngoãn …đứng đợi để chị làm cái việc rất …đỏm dáng là “ngắt một đóa hoa tươi, chị cài lên mái tóc” nữa. Còn gì đẹp hơn hình ảnh của một thiếu nữ được chết cho Tổ Quốc trong sự ngạo nghễ, lãng mạn như thế. Đó là câu chuyện của 61 năm về trước.     Hôm nay, trong một phiên tòa “công khai và công bằng” của một chế độ “nhân đạo” và “dân chủ gấp triệu lần nước Mỹ”. Hai “ bị cáo” tuổi đời còn rất trẻ đã nhận bản án tổng cộng 14 năm tù giam, 7 năm quản chế cho cái gọi là “ tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Mặc dù trong số 90 triệu người dân Việt Nam chưa một ai được may mắn chiêm ngưỡng bản mặt của nhà nước xã hội chủ nghĩa nó thế nào.Tại vì bây giờ vẫn đang ở… “thời kỳ quá độ”( đảng bảo thế). Tức  đang trong giai đoạn trung gian, chuyển tiếp, nói trắng ra là …chửa thành hình. Ngay đến anh hai Tàu khựa trình độ vượt bậc chú em, cũng chỉ dám nhận mình là “đang tiến lên CNXH” ( chưa đến đích). Nhà nước CHXHCN Việt Nam không hề tồn tại trên thực tế. Giống như tôi và nhiều người trước đó, Uyên và Kha đã bị buộc tội “chống một thứ không có thực”. Một bài thơ bày tỏ lòng yêu nước, chống quân xâm lược Trung Quốc và một khẩu hiệu mang nội dung: “Tầu khựa hãy cút khỏi biển Đông” được đem ra làm bằng chứng kết tội “bị cáo” chống nhà nước, chống lại dân tộc mình. Những kẻ kết tội Kha và Uyên đã ngang nhiên và trắng trợn thừa nhận khát vọng được trở thành nô lệ của kẻ xâm lược.   Những tên cai tù khét tiếng độc ác của một chế độ “vô nhân đạo” còn cho chị Sáu …làm dáng trước khi chết. Chúng cũng không cấm chị “ngẩng cao đầu” và “mỉm cười” khi ra pháp trường, cử chỉ được coi là thách thức và hạ nhục đối phương. Thế mà, một chế độ (mạo nhận) nhân đạo hàng đầu thế giới lại từ chối không cho Đinh Nguyên Kha mặc một bộ đồ đẹp, cấm Phương Uyên mặc chiếc áo dài truyền thống, niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam để đứng trước tòa. Không những thế, mẹ của Phương Uyên đã phải trải qua một hành trình đầy gian khổ, tranh đấu để đòi cho con gái được hưởng cái quyền….đeo kính vì mắt Uyên bị cận nặng. Chưa bao giờ hai chữ “nhân đạo” lại trở nên xấu xa đến thế.  Người Pháp dựng lên nhà tù Côn Đảo để giam giữ người cộng sản. Người cộng sản dựng lên nhà tù để cầm tù Dân tộc mình.   Hãy xem người cộng sản định nghĩa về nhà tù Côn Đảo: “Côn Đảo là một quần đảo gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ nằm về phía Đông Nam nước ta. Năm 1858, sau khi Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tại cửa biển Đà Nẵng mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta đến ngày 28/1/1861, Pháp đưa ra bản Tuyên cáo chiếm lĩnh Côn Đảo. Ngày 1/2/1862, Pháp bắt đầu xây dựng tại đây một hệ thống nhà tù lớn nhất Đông Dương để nhằm thủ tiêu các chiến sĩ cách mạng bằng khổ sai, nhục hình, đói khát, bệnh tật; chúng tìm mọi cách để thủ tiêu nhân cách, xóa bỏ nhân phẩm, giam hãm con người trong tình cảnh sống nhưng tuyệt vọng, sống cũng như chết.”Thế nhưng, trong chốn “địa ngục trần gian” ấy, người cộng sản vẫn thành lập được các chi bộ cộng sản. Điển hình, Tôn Đức Thắng lập ra “Hội những người tù đỏ” và “hoạt động khá tích cực”. Nếu những gì người cộng sản kể và viết lại là sự thật, thì cái nhân quyền trên “thiên đường XHCN” còn thua xa cái “ngục quyền” mấy chục năm về trước dưới thời thực dân Pháp. Một đôi mắt kính, một bộ trang phục tươm tất còn “không được phép”, nói chi đến quyền lập hội, lập đảng ( cho dù các quyền này đã được hiến định).     Cái sự hiên ngang, bất khuất của chị Sáu trong giờ phút hy sinh không biết do ai kể lại. Nhưng khí phách của hai bạn trẻ Uyên và Kha thì có hàng trăm người chứng kiến. Hãy nghe tuyên bố của Đinh Nguyên Kha: “ Tôi trước sau vẫn là người yêu Nước, yêu Dân tộc tôi. Tôi không hề chống Dân tộc tôi. Tôi chỉ chống đảng cộng sản. mà chống đảng thì không phải là tội”. Và hãy nghe Nguyễn Phương Uyên: “ Tôi là sinh viên yêu nước. Nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền đất nước. Nếu một sinh viên , tuổi trẻ như tôi  mà bị kết án tù vì yêu nước thì thực sự tôi không cam tâm.” Tôi sẽ không bình luận thêm về lời tuyên bố đĩnh đạc và đanh thép của hai em. Nhưng, muốn nhắn nhủ với Phương Uyên rằng sẽ có nhiều những bạn trẻ khác  không vì bản án 14 năm tù của hai em mà sợ hãi. Chính dáng đứng hiên ngang và gương mặt rạng rỡ của Uyên và Kha trước tòa sẽ tạo nguồn cảm hứng, thôi thúc tuổi trẻ Việt Nam “đứng lên đáp lời sông núi”.     Người cộng sản vô thần nhưng có biết bao nhiêu câu chuyện linh thiêng về những “liệt sĩ cộng sản” đã và đang được kể lại. Nếu chị Sáu quả thực “linh thiêng” như lời đồn đại thì xin chị hãy phù hộ để ai cũng được “nghe biển hát”. Vì hiện nay, khi mà người cộng sản bắt bớ, bỏ tù những người đồng bào của mình chỉ vì dám bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc trước sự xâm lược của ngoại bang. Biển sẽ không hát mà đớn đau, thét gào và cuồng nộ. Kết thúc bài viết này, xin nhắn nhủ với hai em Kha, Uyên, vói bạn bè yêu quý của tôi và với chính mình rằng: những người vì Dân tộc mình mà tranh đấu, những người vì Tự do và Công bằng mà tranh đấu sẽ không bao giờ thất bại.  (Phạm Thanh Nghiên, số nhà 17, Phương Lưu 8, phường Đông Hải 1, quận Hải An, Hải Phòng. Điện thoại 0936 427687)
......

Khai thác năng lượng từ biển : Pháp tìm vị trí dẫn đầu

Từ vài năm trở lại đây, ở Châu Âu và tại Pháp, việc khai thác các nguồn năng lượng tái tạo từ đại dương đang dần dần hiện ra như một chân trời mới có khả năng mang lại những nguồn năng lượng thay thế có tiềm năng lớn. Tạp chí khoa học và môi trường của RFI tuần này giới thiệu với quí vị cơ hội và triển vọng của các năng lượng tái tạo từ biển đối với nước Pháp - đặc biệt là hai loại năng lượng gió và thủy lực -, các nỗ lực của Pháp trên đà vươn lên tìm vị trí dẫn đầu. Các thách thức do biến đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng, với các chỉ báo về tốc độ tan băng, nồng độ CO2 trong không khí, mức độ axit hóa ở các đại dương, hay nhiều hiện tượng khí hậu bất thường khác, khiến các đầu tầu kinh tế của hành tinh bị đặt trước áp lực phải tìm cách gia tăng tỷ trọng của các năng lượng tái tạo, nhằm bớt bị phụ thuộc vào các năng lượng tạo khí thải gây hiệu nhà kính. Tiếp theo một số loại hình năng lượng tái tạo đã bắt đầu được sử dụng phổ biến, như điện mặt trời, điện gió trên đất liền…, đầu tư sắp tới của công cuộc quá độ chuyển sang năng lượng xanh đang hướng ra đại dương. Về mặt lý thuyết, tiềm năng của các loại hình năng lượng tái tạo mà biển cả cung cấp, như năng lượng gió, năng lượng dòng chảy, thủy triều, nhiệt năng hay từ độ mặn của nước biển là vô cùng lớn. Theo giáo sư Tony Lewis, đại học Cork (Ailen), phụ trách mục năng lượng biển của Giec - Nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu -, thì tiềm năng năng lượng của biển là gấp từ 8 đến 10 lần nhu cầu về điện của nhân loại. Vấn đề chủ yếu là làm thế nào có được các công nghệ và nguồn lực tài chính để khai thác những tài nguyên « vô tận » này. Trong số các loại năng lượng tái tạo từ biển, gió và dòng chảy là hai thứ mang lại nhiều triển vọng nhất trong thời gian trước mắt. Kế hoạch của Pháp là đến 2020, 23% tổng lượng điện có xuất xứ từ các nguồn năng lượng tái tạo, so với mục tiêu 20% của Châu Âu, với khoảng 3,5% là từ các nguồn năng lượng tái tạo biển. Tiềm năng hàng đầu thế giới Trả lời phỏng vấn tạp chí khoa học tháng trước của RFI, ông Jean-François Legrand, chủ tịch hội đồng dân biểu tỉnh Manche, một địa phương nằm bên bờ Đại Tây Dương có rất nhiều tiềm năng về năng lượng biển, cho biết một số cảm nhận của ông về cơ hội của Pháp : « Điều đáng ngạc nhiên là từ nhiều năm nay, nhiều tập đoàn công nghiệp lớn quan tâm đến lĩnh vực này một cách lặng lẽ. Chỉ từ vài năm trở lại đây, công chúng rộng rãi mới biết đến sự ra đời của một ngành công nghiệp khổng lồ. Cái nhìn của tôi hướng về tiềm năng của toàn nước Pháp, nhiều hơn là khu vực Normandie của riêng tôi. Nước Pháp chúng ta có tiềm năng về các năng lượng tái tạo biển, trí tuệ, hiểu biết, các phương tiện công nghiệp, các công ty công nghiệp lớn. Nếu chúng ta không trở thành những người đứng đầu, thì có nghĩa là chúng ta thất bại. Tôi hoàn toàn không đồng tình với việc đưa ra số lượng dự kiến việc làm do các ngành năng lượng tái tạo ở biển tạo ra, ví dụ như con số 10.000 chỗ làm người ta thường nói. Bởi vì toàn bộ khu vực kinh tế này còn chưa thành hình, nên sẽ là không có căn cứ, khi đưa ra một con số như vậy. Tôi thiên về chỗ chú ý đến phương diện tiềm năng sản xuất. Hải đăng Goury bảo vệ tàu thuyền đi qua vùng Raz Blanchard, dòng chảy dữ dội nhất châu Âu. (DR) Về điều này, riêng về năng lượng dòng chảy ngầm dưới biển, chỉ tính tại vùng Raz-Blanchard, phần thuộc về nước Pháp, thì chúng ta có một trữ lượng có thể so sánh với ba nhà máy cỡ Flamanville, tức nhà máy điện hạt nhân tại chính tỉnh Manche, có nghĩa là khoảng từ 5 đến 6 gigawatt (GW). Dĩ nhiên là hiệu năng sản xuất điện của loại năng lượng này là ít hơn nhiều, ở vào cỡ khoảng 40%, như vậy cũng đã tương đương với một nhà máy hạt nhân. Rõ ràng là không thể coi nhẹ được ! Về năng lượng điện gió trên biển, Anh và các nước Bắc Âu khác có tiềm năng khoảng từ 45 đến 50 gigawatt. Tổng tiềm năng điện trong lĩnh vực này của Bắc Âu là rất lớn. Về phương diện này, phần biển do nước Pháp sở hữu có diện tích đứng thứ nhì thế giới. Về ‘‘nhiệt điện’’ biển cũng như điện thủy triều, nước Pháp có rất nhiều tiềm năng. Trong lĩnh vực các năng lượng tái tạo từ biển, tóm lại, Pháp ở vào một vị thế địa-chính trị hết sức thuận lợi ». Cạnh tranh quyết liệt Trong bản báo cáo của các bộ Năng lượng, Vận tải và Phục hồi sản xuất, được công bố đầu tháng này 05/2013, các năng lượng tái tạo biển là một cái đích « mang tính chiến lược » của nước Pháp. Năng lượng từ các dòng chảy ngầm ở vùng biển ven bờ, theo bản báo cáo, là nguồn năng lượng được coi là có ý nghĩa nhất, vì khả năng khai thác nằm trong tầm tay, đứng trên năng lượng gió ngoài khơi xa và năng lượng thủy triều. Theo chuyên gia Antoine Rabain, phụ trách bộ phận năng lượng và công nghệ của Indicta, « Sau điện gió thu được từ các trạm cố định, công nghệ duy nhất trong số các công nghệ khai thác các năng lượng tái tạo từ biển, được thương mại hóa cho đến nay, thì công nghệ khai thác các dòng chảy xiết là có độ hoàn thiện cao nhất, đứng trên điện gió nổi, khai thác năng lượng thủy triều và nhiệt năng biển ». Bà Marion Letrry, tổng đại diện của Nghiệp đoàn các năng lượng tái tạo Pháp lưu ý đến tính chất cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực này : « Hiện tại, có một sự cạnh tranh quốc tế quan trọng, đặc biệt từ những nước như Anh. Luân Đôn đã có nhiều chính sách hỗ trợ các hình thức khai thác năng lượng tái tạo từ biển, đặc biệt là năng lượng của các dòng chảy ngầm. Ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, kỹ thuật này cũng đang được nghiên cứu. Vì vậy nước Pháp cần phải nhanh chóng xác định được vị trí của mình, nếu không muốn bị bỏ rơi trong cuộc cạnh tranh khai thác các nguồn năng lượng tái tạo biển. Các loại năng lượng tái tạo từ biển là một phần của tổng thể các loài hình năng lượng, ngang hàng với các loại năng lượng tái tạo khác (như điện mặt trời, thủy điện…), có thể đã được biết đến nhiều hơn. Vấn đề hiện nay là phải đánh giá đúng được tiềm năng của năng lượng biển, xác định được các mục tiêu cho giai đoạn sau cái mốc 2020. Với các cuộc thảo luận về quá trình chuyển đổi sang năng lượng xanh, nước Pháp cần xác định các mục tiêu cho năm 2030, để có thể cung cấp cho các doanh nghiệp thông tin cần thiết về các hoạt động mà họ có thể được tham gia trong lĩnh vực này ở nước ta ». Thủy lực đại dương đi trước về công nghệ Báo cáo kể trên của liên bộ Năng lượng, Vận tải và Phục hồi sản xuất Pháp khuyến nghị tiến hành ngay lập tức việc kêu gọi các doanh nghiệp tham gia, trong quý ba năm nay, vào việc xây dựng ba trại điện thủy lực thí điểm tại các dòng chảy xiết ‘‘Raz Blanchard’’ và ‘‘Raz Barfleur’’ (thuộc tỉnh Manche) và dòng chảy Fromveur, ngoài khơi mũi Finistère, cực tây nước Pháp, với công suất từ 300 đến 500 megawatt (MW) (Được biết, tổng công suất điện của toàn nước Pháp là 128.680.00 MW). Thời gian xây dựng là trong vòng ba năm, từ 2014-2016. Như vậy, trong ba năm nữa, thủy lực đại dương sẽ bắt đầu cung cấp điện cho nước Pháp, được bán với giá ưu đãi. Tiếp theo đó, kể từ năm 2016 đến 2020, các « công viên thương mại (điện thủy lực)» sẽ được xây dựng với công suất lớn hơn nhiều, để cung cấp điện cho thị trường. Về tiềm năng thủy lực biển dựa vào các dòng chảy xiết (từ 2 đến 8 mét/giây trở lên), Pháp đứng hai ở Châu Âu sau Anh. Xét trên toàn cầu, tiềm năng trong lĩnh vực này là 90 GW (gigawatt). Theo tính toán của Indicta, vào ngưỡng cửa 2030, thị trường toàn thế giới về tua bin cho thủy lực biển ước tính khoảng 70 tỷ đến 100 tỷ euro.   Nhiều tập đoàn công nghiệp lớn của Pháp, như DCNS, Alstom, EDF, GDF Suez… đã bắt đầu tìm chỗ đứng trong ngành khai thác năng lượng này, vốn cho đến nay chủ yếu do các công ty Anh hay Ailen dẫn đầu. Theo giám đốc bộ phận năng lượng tái tạo của DNCS, thì dòng chảy Raz Blanchard, với độ dài khoảng 15 km và tốc độ dòng nước rất cao, lại nằm sát bờ, là địa điểm có tiềm năng đứng thứ ba thế giới về thủy lực. Hiện tại EDF ở giai đoạn thí điểm vận hành tua bin nguyên mẫu tại thực địa, trong dự án xây dựng một trại thủy lực ở ngoài khơi vùng Bregtagne (cách bờ biển khoảng 10 km). Dự án mở màn từ năm 2004, dự kiến sẽ hòa mạng vào năm 2014. Nếu thành công, trại thủy lực, gồm bốn tua bin có tổng công suất 2 MW, sẽ là trại thủy lực đại dương thực nghiệm hòa mạng đầu tiên trên thế giới. Chiếc tua bin Arcouest, do công ty Ailen OpenHydro sản xuất (hiện do DCNS nắm cổ phần chi phối), nặng 850 tấn, đường kính 16 mét, đã hai lần được đưa xuống đáy biển từ cuối 2011 để thực nghiệm. Kết quả lần thứ nhất là khả quan. Lần thứ hai, do sự cố trong vận chuyển, tua bin Arcouest đã phải nằm dưới biển nửa năm trời, sau khi được đưa lên vào tháng 3 năm nay. Riêng tại khu vực dòng chảy nổi tiếng Raz Blanchard tại eo biển Manche, GDF-Suez hy vọng một trại thí điểm thủy lực với công suất lớn hơn sẽ bắt đầu vận hành từ năm 2016. Điện gió nổi hướng ra biển xa Bên cạnh việc sản xuất điện từ các dòng chảy xiết, việc khai thác năng lượng gió ngoài khơi được đánh giá là nguồn năng lượng có triển vọng hàng thứ hai. Cũng như thủy lực, tiềm năng điện gió của Pháp đứng hàng thứ hai ở Châu Âu sau Anh. Cho đến nay, « trại điện » gió Greater Gabbard, ở ngoài khơi đông nam nước Anh, hoàn thành cuối năm 2012, với công suất 500 MW (megawatt) được coi là trại lớn nhất. Nhật Bản, sau thảm họa Fukushima, đang có kế hoạch từ đây đến năm 2020, xây dựng một trại điện với công suất 1 GW, được coi là đứng đầu thế giới trong tương lai gần, chính ở vùng ngoài khơi tỉnh Fukushima. Theo France énergie éolienne (FEE) – Nghiệp đoàn phong điện Pháp -, thì tiềm năng gió biển tại các vùng nội thủy của nước Pháp, với các trạm điện được cố định, ước tính mang lại 80 gigawatt, trong đó phần có thể khai thác được trong trung hạn là khoảng 15 gigawatt vào thời điểm 2030 (bằng gần ½ so với dự kiến của Anh là 33 GW và bằng khoảng 2/3 so với chỉ tiêu 25 GW của Đức). Các dự án điện gió hiện tại của Pháp có tổng công suất 3 gigawatt. Trong một nghiên cứu, FEE đã xác định được 14 khu vực ngoài khơi gần bờ biển nước Pháp, chủ yếu nằm ở Đại Tây Dương, với tổng diện tích khoảng 10.000 km², nơi có thể lắp đặt hàng nghìn trạm điện gió trong hai thập niên tới.   Các khu vực khai thác điện gió biển thuận lợi nhất, được thẩm định trong nghiên cứu kể trên, là khu vực sâu không quá 50 mét, nằm trong vùng lãnh hải 12 hải lý và nằm cách xa bờ từ 10 km trở ra, để không gặp phải các mâu thuẫn lợi ích với những người đánh bắt hải sản, với ngành du lịch hay với cư dân ven biển. Việc khai thác điện gió ở các khu vực nước sâu hơn gặp nhiều khó khăn vì công nghệ còn bất cập và giá thành cao. Về khả năng khai thác vùng biển xa hơn, nếu có đủ công nghệ và tài chính, sẽ mang lại những nguồn năng lượng lớn hơn rất nhiều. Nghiệp đoàn phong điện Pháp cũng đã tiến hành một nghiên cứu thứ hai về triển vọng của điện gió nổi ngoài khơi xa, gồm cả vùng nằm ngoài 50 mét chiều sâu : Tiềm năng ước tính lên đến 140 GW. Hywind là trạm điện gió nổi đầu tiên trên thế giới đi vào hoạt động năm 2009, có công suất 2,3 MG, được đặt tại vùng biển tây nam Na Uy, nơi có độ sâu 220 mét. Trạm điện này, về nguyên tắc, có thể hoạt động tại vùng biển có độ sâu 700 mét. Hywind là sản phẩm của tập đoàn dầu khí Na Uy StatoilHydro, trong nhóm thực hiện dự án có công ty Pháp Technip. Một bản đồ mô tả phân bố tiềm năng gió biển toàn cầu DR   Tập đoàn Areva, đứng đầu về điện hạt nhân thế giới, hiện đã có một cơ sở thí điểm điện gió ở ngoài khơi miền bắc nước Đức từ năm 2009, và đã nghiên cứu, chế tạo từ năm 2000, các tua bin điện gió công suất 5 MG, thích hợp trong môi trường đại dương. Tập đoàn có kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất tua bin điện gió « 100% made in France », tại vùng Thượng Normandie. Năm 2016, sẽ có 100 tua bin đầu tiên xuất xưởng, để cung cấp cho trại điện gió Saint-Brieux, một trong bốn trại điện thí điểm của Pháp, mà tập đoàn vừa trúng thầu. Ông Christophe Chabert, giám đốc chương trình điện gió tại DCNS - Công ty đóng tàu quốc phòng nổi tiếng của Pháp, một doanh nghiệp đầu tư mạnh vào một loạt các loại hình năng lượng tái tạo biển, cho biết một số nhận định của ông về các bước phát triển của ngành công nghiệp điện gió biển trong thời gian tới : « DCNS, từ bốn năm trở lại đây, quyết định đầu tư phát triển trong một lĩnh vực kề cận, đó là khai thác các nguồn năng lượng tái tạo từ biển, vì hoạt động này khá gần với lĩnh vực hoạt động chính của chúng tôi. Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, có các công trình điện gió ‘‘thế hệ thứ hai’’. Tiếp theo thế hệ các công trình điện gió được lắp đặt cố định, các trạm điện gió nổi trên mặt nước cho phép đi xa bờ hơn, đến những vùng nước sâu hơn, để có thể thu được nhiều năng lượng hơn từ gió, và đồng thời việc tách xa khỏi bờ hơn, sẽ tránh khỏi các xung đột về lợi ích (như với những ngành đánh cá hay du lịch). Điện gió trên biển ở các độ sâu khác nhau. Ngoài cùng bên phải là trạm điện gió nổi, ở độ sâu từ 50 đến 200 mét. (DR) Sự phát triển sắp tới của chúng tôi trong lĩnh vực này sẽ diễn ra qua ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất sẽ phải được kết thúc vào năm tới, với một công trình thực nghiệm bên bờ biển xứ Bretagne. Đây là giai đoạn cho phép trắc nghiệm chất lượng kỹ thuật của công nghệ này. Giai đoạn thứ hai có kế hoạch xây dựng các ‘‘trại thí điểm’’ (fermes pilotes), trong khoảng thời gian từ 2017-2018. Quy mô thực nghiệm trong giai đoạn này lớn hơn, với việc hoàn thành từ 5 đến 6 trạm điện gió, dự kiến sẽ được lập ra tại vùng biển cạnh đảo Groix, cũng thuộc xứ Bretagne, cách đất liền khoảng hơn 10 cây số. Dự án này cho phép thẩm định hiệu quả kinh tế của các công trình điện gió nổi. Giai đoạn thứ ba là ‘‘thương mại hóa’’, với thời gian dự kiến là khoảng năm 2020, với việc xây dựng hàng trăm trạm điện gió dọc theo bờ biển nước Pháp. Trong giai đoạn đầu tiên, mục tiêu là hoàn thiện được mô hình điện gió nổi kể trên. Đây sẽ là mô hình điện gió nổi đầu tiên trên biển của Pháp. » Giá thành sẽ dần ngang bằng với các năng lượng truyền thống   Về vấn đề giá thành sản xuất, Giám đốc chương trình điện gió của Công ty đóng tàu quốc phòng Pháp bày tỏ sự tin tưởng vào tương lai trước mắt cũng như triển vọng của năng lượng này vào thời điểm 2030. « Khi đi xa bờ hơn, giá vận chuyển điện sẽ cao hơn một chút, nhưng vì các trạm điện gió ở xa bờ cho phép nhận được gió mạnh hơn, thường xuyên hơn và cuối cùng, như vậy điều này cho phép bù lại được với việc giá tăng do phải vận tải điện trên quãng đường dài. Trước hết, chúng tôi bắt đầu với các trạm điện nằm không xa bờ lắm. Tuy nhiên, chúng ta sẽ khai thác dần dần. Đầu tiên chúng ta sẽ không đi xa bờ đến hàng nghìn km ngay lập tức, thế nhưng chúng ta sẽ đi dần ra từng bước một. Cùng với hệ thống các phương tiện tạo ra năng lượng, cần phải xây dựng các hệ thống tích trữ năng lượng, sản xuất khí hydrogène, xây dựng các nhà máy biến nước mặn thành nước ngọt và có nhiều điều khác nữa có thể làm được. Đây là tôi nói về triển vọng dài hạn của điện gió nổi trên biển. Các trạm điện nổi có điểm thuận lợi là có thể phát triển ‘‘ở khắp mọi nơi’’, vì cùng sử dụng một công nghệ.   Hiện tại, về tiềm năng của điện gió trên biển, ước lượng điện gió nổi có tiềm năng gấp ba so với điện gió cố định. Công suất điện có thể khai thác được trong lĩnh vực này là khoảng vài chục gigawatt chỉ riêng ở châu Âu. Điều quan trọng là phải khởi sự hành động. Mục tiêu là đưa giá điện của gió biển xuống ngang với các hệ thống sản xuất năng lượng khác. Chúng ta đã thấy điều gì xảy ra với điện gió trên đất liền : Hiện tại điện gió đã có giá thành tương đương với nhiều loại năng lượng khác. Trong giai đoạn đầu, giá cả là cao hơn, nhưng có nhiều cơ sở để thấy rằng, trong khoảng từ 10 đến 15 năm nữa điện gió biển sẽ có giá cả phù hợp với tổng thể giá cả các loại hình năng lượng nói chung. Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết rằng giá dầu tăng lên, điện hạt nhân phải tăng giá với việc phải chi phí nhiều cho các hệ thống bảo đảm an toàn. Chúng ta hy vọng là, đến khoảng 2030, sẽ có sự gặp nhau về giá thành giữa các năng lượng tái tạo từ biển và ‘‘năng lượng quy ước’’ ». Tác động môi trường của năng lượng tái tạo biển Ông Philippe Bornens, đồng giám đốc In Vivo Environnement, một văn phòng nghiên cứu môi trường đại dương, khu vực biển ven bờ và những tác động của hoạt động con người đến đại dương cho biết một số ghi nhận : « Ảnh hưởng của các loại hình khai thác năng lượng tái tạo biển đến môi trường sinh thái và các hoạt động khác của con người là khác nhau tùy theo từng loại. Liên quan đến điện gió, tác động đến phần không gian phía trên các đại dương là một lĩnh vực mới. Trong lĩnh vực này, có vấn đề tác động đến các loài chim, những loài sống tại chỗ cũng như các loài di cư. Điều rất có thể xảy ra là, một dự án điện gió được đặt trên tuyến đường di cư của chim. Hiện tại, mặc dầu đã có rất nhiều dữ liệu thu thập được, cải thiện hiểu biết của chúng ta, nhưng từ đó, chúng tôi chưa đủ cơ sở để nói đến tác động của các trạm điện gió trên biển đến luồng chim chóc di cư. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng đến môi trường, thì tác động đến con người hiển nhiên là rất quan trọng. Không hẳn đã có một xung đột, nhưng có thể có sự không tương hợp về lợi ích. Ví dụ như, một dự án điện gió có thể ảnh hưởng đến các hoạt động đánh cá vốn có. Hiển nhiên là cần phải xác định được các tác động của dự án đến việc đánh bắt cá và con đường để giảm thiểu các tác động như vậy, hoặc nếu không có cách nào khác, thì bồi thường như thế nào. Hiện nay, chúng ta không có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này. Các trạm điện gió cố định gần như là những công trình trên biển. Tác động của chúng tới môi trường là khác nhau, tùy theo khu vực, tùy theo loại nền móng được xây dựng. Ảnh hưởng còn do những yếu tố như : Tiếng ồn, tác động điện từ của các đường dây cáp. Việc lập các trạm điện gió trên biển chắn chắn sẽ làm thay đổi môi trường sinh thái tại một khu vực, nhưng tác động của chúng sẽ trải rộng. Các loài sinh vật sẽ vẫn tiếp tục tồn tại. Ở từng vị trí cụ thể, hệ sinh thái bị tác động đôi chút. Việc giảm bớt khai thác cá có thể làm xuất hiện trở lại tình trạng cân bằng của môi trường sinh thái vào thời điểm trước khi ngành công nghiệp đánh cá phát triển, bởi vì cá sẽ được khai thác ít hơn. Về cơ bản, các công nghệ năng lượng tái tạo để lại các nguy cơ rất thấp. Cần phải so sánh với các hình thức năng lượng gây ô nhiễm khác để tương đối hóa những ảnh hưởng của công nghiệp khai thác các năng lượng tái tạo từ đại dương. » Tranh luận quốc gia đầu tiên về điện gió biển Kể từ ngày 20/03/2013, một cuộc thảo luận quốc gia đầu tiên về điện gió trên biển đã được mở ra tại Pháp, liên quan đến bốn « trại điện » với 330 trạm điện gió đầu tiên, có công suất tối đa tổng cộng là 2 GW. Avera - Tập đoàn điện hạt nhân Pháp – và công ty điện Tây Ban Nha Iberdrola nhận thầu một trại, ba trại còn lại thuộc về EDF và Alstom. Trị giá của bốn dự án này là gần 8 tỷ euro. Cuộc thảo luận về các trại điện gió đầu tiên trên biển sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 7. Về triển vọng của việc khai thác hai nguồn năng lượng tái tạo từ biển, gió và dòng chảy ngầm tại Pháp, đã có rất nhiều niềm tin đặt vào tương lai và trên thực tế đã có những thực nghiệm ban đầu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia ghi nhận, trong lĩnh vực này, tốc độ phát triển của Pháp được đánh giá là chậm. Ông Jean-François Petit, chuyên gia về điện ngoài khơi của Nghiệp đoàn phong điện Pháp lưu ý rằng, trong hiện tại, Pháp mới chỉ có thể hy vọng đạt được công suất 2 GW điện gió biển vào năm 2020 (thấp hơn rất nhiều so với dự kiến 6 GW chính thức), nếu mọi việc suôn sẻ (tương đương với hai lò phản ứng hạt nhân và cung cấp khoảng hơn 1% tổng lượng điện toàn quốc). Trong trường hợp nhiều kiện tụng dai dẳng, thì có thể sẽ không thực hiện được trạm điện nào. Điều mà Nghiệp đoàn phong điện muốn nhấn mạnh với chính phủ là cần phải thiết lập nhanh chóng một « kế hoạch sử dụng không gian biển » (PSM), nhằm phối hợp sử dụng vùng đại dương ven bờ giữa các đối tác khác nhau, từ ngành hàng hải, đánh cá, du lịch… đến các loại hình năng lượng tái tạo biển, cũng như việc bảo tồn các hệ sinh thái, thay vì chỉ chú ý đến việc gọi thầu từng dự án một. Nhiều chuyên gia lo ngại, nếu Pháp không nắm bắt kịp thời cơ hội phát triển thủy lực và điện gió trên đại dương trong thời gian trước mắt, thì sẽ bỏ lỡ cơ hội dành một vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực này, sau khi đã bị nhiều nước Châu Âu khác vượt qua trong một loạt các năng lượng tái tạo khác, như điều đã xảy ra với ngành điện gió trên đất liền. Trên tổng công suất 100 GW điện gió đất liền mà Châu Âu có được vào cuối năm 2012, cung cấp 6,3% điện tiêu thụ của khối, thì Pháp chỉ có 6,8 GW, đứng xa đằng sau Đức – 29 GW và Tây Ban Nha – 21,6 GW. Các tin bài liên quan Thượng đỉnh quốc tế về năng lượng tái tạo tại Abu Dhabi Tác hại kinh tế của biến đổi khí hậu : Hơn 3% GDP thế giới có thể mất đi mỗi nămHội nghị khí hậu thế giới đạt thỏa thuận tối thiểuRio+20 : Điểm khởi đầu cho cuộc tìm kiếm một mô hình phát triển mới Vì sao nhiệt độ Trái đất tăng chậm lại trong thập niên qua ? Tháp điện gió Việt Nam xuất qua Mỹ bị vạ lây vì dính đến Trung Quốc Hội nghị quốc tế về năng lượng sạch khai mạc tại Washington  
......

Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long: Liên kết phá tan xiềng xích bạo tàn

Cả dân tộc ta đang đứng trước thảm họa bị chìm đắm và diệt vong. Con đường tiến lên cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa chính là con đường dẫn đến sự băng hoại và bế tắc toàn diện như đang diễn ra hiện nay. Đất nước chúng ta cần một con thuyền mới để ra khơi trong thiên niên kỷ mới. Con thuyền đó không được xây dựng bằng ý thức hệ ngoại lai mà được tác tạo bởi ý chí và nhiệt huyết của mọi người dân.       Kính thưa toàn thể quý vị cùng đồng bào thân yêu trong và ngoài nước, Hôm nay, chúng tôi những người quan tâm đến vận mệnh quê hương và tiền đồ dân tộc, đến trước tòa nhà quốc hội Úc Đại Lợi, biểu tượng của tự do và dân chủ, để bày tỏ sự liên đới với đồng bào quốc nội trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. Lời đầu tiên chúng tôi muốn được gởi đến đồng bào thân yêu và nhất là những nhà tranh đấu trong nước là qúy vị không cô đơn trước thế lực của bạo quyền cộng sản. Chúng tôi những người con dân nước Việt tha hương hậu thuẫn cho qúy vị. Những người yêu chuộng tự do dân chủ khắp nơi hậu thuẫn cho qúy vị và nhất là lịch sử đang xoay chuyển về đích hướng mà qúy vị đang hy sinh tranh đấu, noi gương tiền nhân anh dũng. Qủa thế, chưa bao giờ làn sóng dân chủ lại dâng cao trên khắp quê hương đất nước như ngày hôm nay. Sau bao thập niên sống trong một ý thức hệ ngoại lai, vong bản và hoàn toàn băng hoại, người dân Việt Nam đang đứng lên truất phế cộng nô và phục hồi quyền làm chủ vận mệnh đất nước. Gần đây, nhiều tổ chức yêu nước và nhất là các tôn giáo cũng đã cùng mạnh dạn dấn thân, mở màn cho một thời kỳ khai phóng đầy hứa hẹn. Khởi đầu là Bản Góp Ý của 72 nhà trí thức yêu nước yêu cầu loại bỏ điều 4 Hiến Pháp; tiếp theo đó Hội Đồng Giám Mục đại diện cho Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Hội Thánh Cao Đài và rất nhiều tổ chức trong và ngòai nước đã cùng hòa nhịp với hơn 80 triệu trái tim Việt Nam cương quyết xóa bỏ độc tài đảng trị. Mọi người mang dòng máu Lạc Hồng, không phân biệt tôn giáo hay xu hướng chính trị đều quyết tâm xóa bỏ Điều 4 Hiến Pháp, tức là chấm dứt hoàn toàn vai trò độc quyền của Đảng Cộng Sản trong việc điều hành đất nước và mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc. Qúy vị và đồng bào thân mến, gần 70 năm từ ngày bạo quyền cai trị miền bắc và gần 38 năm từ ngày họ áp đặt chế độ ngoại lai “Mác-Lê” trên khắp quê hương thân yêu, Cộng Sản đã gây ra bao nhiêu chết chóc, kinh hoàng, bao hận thù, chia rẽ, bao bất công, đau khổ, bao nhục nhằn cay đắng. Từ chính sách đấu tố “cải cách ruộng đất” của thập niên 50 tại miền Bắc, cho tới cuộc thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968; từ những cuộc vượt biển vô tiền khoáng hậu cho tới nỗi nhục quốc thể còn đang tiếp diễn như những người lao động hợp tác bị ngược đãi; những trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục; những người dân oan bị tư bản đỏ cướp đất; các công nhân bị bóc lột ở các hãng xưởng trong nước v.v.. Thật oái oăm và mâu thuẫn khi chế độ Cộng Sản hứa hẹn một thiên đàng cho giai cấp vô sản, nhưng trên thực tế họ lại bị sống trong một địa ngục đầy bất công và bị bóc lột bởi chính hệ thống tư bản đỏ. Nghiêm trọng hơn nữa đó là những đe dọa về chủ quyền của đất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản đã chứng tỏ sự nhu nhược, hèn nhát và phản bội của họ. Phải chăng chỉ vì muốn duy trì quyền lực và tư lợi, họ đã sẵn sàng tráo đổi quyền lợi của người dân và cơ đồ của tổ quốc? Phải chăng họ đang hiện nguyên hình là những người cộng nô, hèn với giặc ác với dân? Khi lãnh thổ và lãnh hải bị xâm lấn thì nhà cầm quyền Cộng Sản chỉ im lặng hay phản ứng chiếu lệ. Ngược lại, họ sẵn sàng huy động cả một hệ thống an ninh hùng hậu để triệt hạ những người yêu nước mà vũ khí tự vệ duy nhất là tinh thần ái quốc. Nhưng lịch sử luôn đứng về công lý và sự thật. Lịch sử cũng sẽ lên án những ai làm việc ô nhục phản quốc như những tên “cõng rắn cắn gà nhà” trong qúa khứ.Qúy vị và đồng bào thân mến,Việt Nam trước thế kỷ 21 có thể ví như con thuyền trước đại dương đầy sóng gío. Chúng ta không thể vượt đại dương trên một con thuyền cũ kỹ lỗi thời. Chế độ Cộng Sản chính là con thuyền cũ kỹ lỗi thời đó. Cả dân tộc ta đang đứng trước thảm họa bị chìm đắm và diệt vong. Con đường tiến lên cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa chính là con đường dẫn đến sự băng hoại và bế tắc toàn diện như đang diễn ra hiện nay. Đất nước chúng ta cần một con thuyền mới để ra khơi trong thiên niên kỷ mới. Con thuyền đó không được xây dựng bằng ý thức hệ ngoại lai mà được tác tạo bởi ý chí và nhiệt huyết của mọi người dân. Trong kiến nghị của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các ngài đã mạnh dạn tuyên bố là phải phục hồi “quyền làm chủ của người dân”, là “lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng và điều hành xã hội”, là thực hiện một tiến trình dân chủ dẫn đến một “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”. Nói tóm lại, chỉ có con thuyền dân chủ mới đưa Việt Nam vào đại dương của thiên niên kỷ mới.Trong Kinh Thánh Kitô Giáo có câu “Người gieo trong đau thương sẽ gặt hái trong vui cười”. Chúng ta chỉ có một tương lai tươi sáng cho đất nước và cho dân tộc khi chúng ta dấn thân đi “gieo trong đau thương”. Vì sự nghiệp của tiền nhân và vì tương lai của những thế hệ nối tiếp, chúng ta hãy vượt qua sự vô cảm và sự sợ hãi. Người Việt yêu nước khắp nơi, chúng ta hãy liên kết thành sức mạnh để phá tan xiềng xích của sự bạo tàn, dối trá và gian ác là chế độ Cộng Sản. Hãy “cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi” (lời bài hát của anh Việt Khang) kiến tạo một Việt Nam dân chủ, văn minh, nhân ái, thái hòa cho xứng với hy sinh của tiền nhân và niềm kiêu hãnh của thế hệ tương lai. 24/4/2013 Đức Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long Nguồn: Catholic.org
......

NGÀY 19 THÁNG 5?

Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), Hồ Chí Minh (HCM) sinh ngày 19-5-1890.  Tuy nhiên, trong đơn xin vào học Trường Thuộc Địa Paris (Pháp) năm 1911, lúc đó HCM có tên là Nguyễn Tất Thành, đã tự viết tay là ông sinh năm 1892.  Trong đơn gia nhập hội Tam Điểm Paris năm 1922, do một người thợ chạm tên là Boulanger giới thiệu, HCM lúc đó lấy tên Nguyễn Ái Quấc (Quốc), tự đề là sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie colonial”, Revue française d'Histoire d'Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d'Histoire d'Outre-mer, tr. 105.)  Những ngày nầy đều do HCM tự ghi theo từng giai đoạn trong cuộc đời ông.  Vậy thật sự khó biết HCM sinh ngày nào?  Một câu hỏi được đặt ra là tại sao cuối cùng HCM chọn ngày 19-5-1890 là ngày sinh của HCM? 1.-   NGÀY RA MẮT CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH Trước hết, ngày 19-5 là ngày HCM và đảng Cộng Sản (CS) ra mắt công khai mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (VNĐLĐMH), gọi tắt là Việt Minh (VM) tại Cao Bằng.  Nguyên thủy, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội không do HCM thành lập mà do Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1936 tại Nam Kinh do nhu cầu liên kết những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Nam Kinh (Nanjing/Nan-ching, Trung Hoa) với sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ).  Ngoài Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, các hội viên nòng cốt khác là Nguyễn Thức Canh, Đặng Nguyên Hùng, Hoàng Văn Hoan [bí danh là Lý Quang Hoa, thuộc chi bộ Vân Quý tức Vân Nam (Yunnan) và Quý Châu (Guizhou) của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).] Năm 1937, Hồ Học Lãm đến hoạt động ở tỉnh Hồ Nam (Hunan, Trung Hoa), và lấy tên là Hồ Chí Minh.  (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 168.)  Cũng trong năm nầy, trước hiểm họa xâm lăng của Nhật Bản, hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa liên minh lần thứ hai ngày 22-9-1937.  Trong khi đó, những hoạt động của VNĐLĐMH mờ lạt dần.  Hồ Học Lãm lại già yếu, di tản theo các đoàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa chống Nhật, nên VNĐLĐMH chỉ còn trên danh xưng chứ không hoạt động gì nhiều. Nhờ sự giới thiệu của Hồ Học Lãm, vào gần cuối năm 1940, một số đảng viên CSVN dưới lớp vỏ VNĐLĐMH đến Quế Lâm (Guilin/Kweilin) tỉnh Quảng Tây tiếp xúc với Lý Tế Thâm, một nhân vật cao cấp trong THQDĐ, thân cận với Tưởng Giới Thạch.  Theo lời một đảng viên CS có mặt trong cuộc tiếp xúc nầy là Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), thì "Qua cuộc nói chuyện với Lý Tế Thâm như vậy, cái danh nghĩa Việt Minh thực tế đã được thừa nhận, và cái danh nghĩa Biện sự xứ Việt Minh cũng mặc nhiên thành ra hợp pháp." (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký. Portland, Oregon: Nhóm tìm hiểu lịch sử, 1991, tr. 135.)  Các đảng viên nầy thuộc cơ sở hải ngoại của đảng CSĐD, liên lạc và hoạt động với Hồ Quang, một gián điệp mới được Đệ tam Quốc tế Cộng sản gởi trở lại Trung Hoa năm 1938.  Hồ Quang chính là HCM. Sau đó, HCM về Việt Nam, tổ chức hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng CSĐD lần thứ 8  từ ngày 10-5-1941 tại lán Khuổi Nậm thuộc vùng Pắc Bó (Cao Bằng).  Ngoài HCM, hội nghị chỉ có bốn uỷ viên Trung ương đảng CSVN tham dự là Đặng Xuân Khu, Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang), Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, và một số đại diện các xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Không có đại diện Nam Kỳ.  Hội nghị kết thúc ngày 19-5-1941 với các quyết định sau đây:  1) Ra mắt công khai mặt trận VNĐLĐMH (tức VM), bao gồm các hội Cứu quốc, như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội văn hóa cứu quốc... 2) Đưa Đặng Xuân Khu, sau có bí danh là Trường Chinh lên làm tổng bí thư đảng CSĐD. 3) Đề ra chủ trương chuẩn bị võ trang khởi nghĩa. (Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, Lịch sử Việt Nam tập II, Hà Nội: Nxb. Uỷ ban Khoa học Xã hội, 1985, tt. 320-323.) Qua diễn tiến trên đây, rõ ràng Nguyễn Ái Quốc lấy tên HCM của Hồ Học Lãm làm tên của mình và lấy tên tổ chức VNĐLĐMH (tứcVM) làm tên mặt trận của đảng CSĐD và công khai hóa hoạt động của mặt trận nầy tại Cao Bằng ngày 19-5-1941. 2.-   TÌNH HÌNH DIỄN TIẾN Tại Âu Châu, sau khi Đức thất trận và đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945.  Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, chung quanh việc phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận. Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945.  Lúc đó, Nhật Bản còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu.  Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật Bản.  Tối hậu thư Potsdam buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc... Riêng về Đông Dương, tối hậu thư quyết định rằng quân Nhật sẽ bị giải giới do quân Trung Hoa ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16. (Spencer C. Tucker, Editor, Encyclopedia of the Vietnam War, Volume Two, Santa Barbara, California: ABC-CLIO, 1998, tr. 583.) Tối hậu thư không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương, ngầm mở đường cho Pháp trở lại Đông Dương.  Lúc đó, Truman (Hoa Kỳ) chủ trương tôn trọng chủ quyền của Pháp tại Đông Dương để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu. (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31. Spencer C. Tucker, sđd. tr. 888.)  Lợi dụng việc nầy, khi Trung Hoa và Anh đưa quân vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật Bản, Pháp thương thuyết với Trung Hoa và Anh để trở lại Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, HCM và mặt trận VM cướp chính quyền và thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945. Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam, ngày 13-9-1945, tướng Douglas Gracey chỉ huy lực lượng Anh giải giới quân đội Nhật, có mặt ở Sài Gòn.  Ngày 14-9-1945, tướng Lư Hán dẫn quân Trung Hoa đến Hà Nội. Ngày 8-10-1945, tại London, đại diện hai chính phủ Anh và Pháp ký Tạm ước hành chánh và tư pháp phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam, theo đó, Anh quyết định: 1) Yểm trợ Pháp tái chiếm Việt Nam. 2) Chấp nhận chính quyền Pháp ở Sài Gòn. 3) Giao quyền cai trị Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tt. 275-276.) Ngày 28-2-1946 tại Trùng Khánh (Chongqing, Trung Hoa), ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16 tại Đông Dương, theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm nhất là ngày 31-3-1946.  Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Kỳ sẽ khỏi phải chịu thuế. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn 1970, tr. 300.) Sau khi ký kết tạm ước London với Anh, Pháp tái chiếm Nam Kỳ rồi đổ quân ra Bắc Kỳ.  Ký kết xong hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa, hạm đội Pháp đưa quân đến Hải Phòng ngày 6-3-1946.  Quân Trung Hoa rút về nước, giao lại Bắc Kỳ cho quân Pháp. Tại Hà Nội, được tin hạm đội Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng vào chiều ngày 5-3-1946 và chuẩn bị đổ bộ vào sáng ngày hôm sau (6-3-1946), HCM báo cho Jean Sainteny, đại diện Pháp tại Hà Nội, biết là ông ta đồng ý ký hiệp ước với Pháp, mà Pháp đã bí mật giao bản dự thảo ngày 7-12-1945.  Vào chiều ngày 6-3-1946, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, HCM, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, ký thỏa ước Sơ bộ với Jean Sainteny. Theo thỏa ước nầy:  Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp;  Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật.    Bên cạnh đó, cũng trong ngày 6-3-1946, hai bên ký một phụ ước quân sự, minh định hoạt động quân đội mỗi bên.   Theo điều 1 của phụ ước nầy, VM đồng ý để quân đội Pháp thay quân đội Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16, nghĩa là quân đội Trung Hoa sẽ rời khỏi Việt Nam, dầu Việt Nam không ký kết thỏa ước với Trung Hoa.  Lực lượng Pháp tại Bắc Kỳ lên đến 15,000 quân. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 313-318.) Như thế VM không chống Pháp mà lại chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam.  Điều nầy hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của HCM khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945, gây sự bất bình trong các giới chính trị và trong đại đa số quần chúng.  Dân chúng tố cáo rằng HCM và VM đã rước thực dân Pháp trở lại Việt Nam.  Nguyên văn lời thề cuối cùng trong ba lời thề ngày 2-9 như sau: “Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp.” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam [sách song ngữ Việt-Anh], Hà Nội: Nxb.Thông Tấn,2005, tr. 26.). 3.-   TẠI SAO SINH NHẬT NGÀY 19-5? Sau khi tái chiếm Nam Kỳ, Pháp lần lượt tiến quân qua Cao Miên, Lào, lên phía trên vĩ tuyến 16 và Bắc Kỳ.  Ổn định xong tình hình các nơi, đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu, cao ủy Pháp tại Đông Dương, quyết định mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 ngày 14-5-1946. D'Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, rồi đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946. Lúc đó, nhà cầm quyền VM ra lệnh treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày , từ ngày 18-5 đến hết ngày 20-5 nói là để mừng sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh là ngày 19-5.  Ngày nầy khác với ngày tháng năm sinh trong các đơn HCM xin vào học trường Thuộc Địa Paris và đơn gia nhập Hội Tam Điểm Pháp.  Từ khi bước vào hoạt động chính trị, HCM hoàn toàn không đề cập đến sinh nhật của ông ta, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D'Argenlieu lại có chuyện sinh nhật HCM ngày 19-5? Vì vậy, dư luận dân chúng cho rằng HCM ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D'Argenlieu theo nghi thức ngoại giao.  D'Argenlieu là cao uỷ Pháp tại Đông Dương.  Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), đặt Việt Nam nằm trong Liên Bang Đông Dương, thuộc Liên Hiệp Pháp.  D'Argenlieu là đại diện của chính phủ Pháp tại Đông Dương, đứng đầu Liên bang Đông Dương, nên HCM phải treo cờ đón tiếp D'Argenlieu. Nếu treo cờ để đón đại diện chính phủ Pháp thì HCM và nhà cầm quyền VM sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội, nên HCM mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật của mình, để tránh sự bất bình của dân chúng vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao.  Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng. (Đã viết ở trên.) Như thế, ngày 19-5 không phải là ngày sinh của HCM mà vì lý do chính trị, HCM và nhà cầm quyền VM công bố ngày nầy để treo cờ, đón tiếp cao ủy Pháp tại Đông Dương, đô đốc D'Argenlieu.  Tư đó, CSVN chọn luôn ngày nầy làm lễ kỷ niệm sinh nhật HCM.  Xin để ý thêm là CSVN chỉ kỷ niệm sinh nhật HCM, nhưng không kỷ niệm sinh nhật của những lãnh tụ khác, kể cả Lê Duẫn, bí thư thứ nhất Trung ương đảng Lao Động từ 1960 đến 1976 và tổng bí thư đảng CSVN từ 1976 đến 1986, nghĩa là 26 năm cầm đầu đảng LĐ rồi đảng CSVN, hoặc Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN từ 1955 đến 1987. (thủ tướng 32 năm.) Ngày sinh HCM không rõ, mà HCM sinh năm nào cũng không rõ.  Trong đơn xin vào học trường Thuộc địa Paris, HCM tự viết tay ông sinh năm 1892. Khi gia nhập hội Tam Điểm Pháp, phiếu của ông đề sinh năm 1895.  Nay nhân dịp phải đưa ra ngày sinh để treo cờ, thì HCM lại cho biết ông ta sinh năm 1890?  Trong ba năm nầy, thì năm nào đúng, hay cũng không năm nào đúng cả? Chỉ có một điều rõ ràng là HCM chết ngày 2-9-1969, trùng với ngày quốc khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nên đảng Lao Động do Lê Duẫn đứng đầu, sợ xui xẻo, phải đổi ngày chết của HCM qua thành ngày 3-9-1969. Cho đến năm 1989, ba năm sau khi Lê Duẫn chết, bộ Chính trị đảng CSVN do Nguyễn Văn Linh lãnh đạo mới cải chính lại HCM chết ngày 2-9-1969. Cũng nhân dịp cải chính nầy, bộ Chính trị đảng CSVN công bố nguyên văn bản gốc di chúc của HCM, thay thế bản di chúc của HCM đã bị Lê Duẫn sửa sau khi HCM chết ngày 2-9-1969. (Nhà xuất bản Thanh Niên, Toàn văn di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, không đề năm xuất bản.) KẾT LUẬN Lối giải thích thông thường của CSVN là vì HCM hoạt động chính trị nên phải nhiều lần thay đổi tên họ, thay đổi ngày tháng năm sinh.  Điều đó không có gì đáng nói.  Điều đáng nói là HCM thay đổi tên họ, ngày tháng năm sinh, để hoạt động gián điệp cho Đệ tam quốc tế cộng sản, phục vụ quyền lợi ngoại bang.  Con đường nầy đã đưa HCM trở thành nhà độc tài thứ 11 trong 13 nhà độc tài tàn ác nhất trên thế giới trong thế kỷ 20, gây ra cái chết của 1,700,000 người Việt, theo bảng sắp hạng của Polska Times tức Thời Báo Ba Lan ngày 5-3-2013. (Đàn Chim Việt Online Edition ngày 20-3-2013). Cũng chính con đường nầy đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam càng ngày càng suy vong, và nguy hiểm nhất hiện nay là hiểm họa xâm lăng và đồng hóa của kẻ thù truyền kiếp là bá quyền Trung Quốc. TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, Canada)
......

Vụ Phương Uyên: Món quà đắt chào đón ngoại xâm

Một ngày   Ngày hôm nay 16/5/2013, đúng 12h trưa, là thời điểm bắt đầu của lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông của Việt Nam do nhà cầm quyền Bắc Kinh đưa ra. Ngày hôm nay, không một lãnh đạo đảng cộng sản, lãnh đạo nhà nước nào nói đến điều đó, ngoài Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nhân tiện trả lời câu hỏi của một nhà báo về vấn đề này chỉ nói qua như một việc bình thường, chiếu lệ vào ngày hôm qua. Ngày hôm nay, Hội Nghề cá Việt Nam đã phải gửi thư đến văn phòng Chính phủ và một số cơ quan, “đề nghị các cơ quan chức năng lên tiếng mạnh mẽ và có biện pháp quyết liệt ngăn chặn những hành động vi phạm của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ tàu thuyền ra khỏi vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, nhằm bảo vệ sản xuất và tài nguyên biển, giữ vững an ninh quốc phòng, chủ quyền biển đảo tổ quốc”. Ngày hôm nay trên mạng internet xuất hiện hàng loạt hình ảnh và video Clip việc Trung Cộng tập trận ở Biển Đông, ngay quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Vậy mà bao nhiêu người dân không hề được biết, báo chí Việt Nam đưa tin một cách “khách quan” như thể chúng đang rửa chân tại ao nhà của chúng. Ngày hôm nay tại Long An, Tòa án của Nhà nước Việt Nam kết án hai bạn trẻ Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên với hai bản án hết sức nặng nề về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”, trong đó có hành vi dùng máu pha loãng với nước rồi viết vào một mảnh vải “có nội dung không hay về Trung Quốc”.   Ngày hôm nay, tại phiên tòa “công khai” này, nhiều người đã bị bắt giữ, đã bị giam cầm mà không có bất cứ một cơ sở pháp luật nào khi họ đến dự phiên tòa xét xử hai thanh niên yêu nước. Một ngày qua, với đầy đủ các yếu tố mà người dân Việt Nam đang đối mặt và quan tâm. Ở đó có đầy đủ các yếu tố: Cướp nước, bán nước, yêu nước, phản bội, anh hùng và hèn hạ. Vì sao? Vì sao nhà cầm quyền Trung Cộng lại dám ngang nhiên tuyên bố cấm đánh bắt cá ngay trên vùng biển của Việt Nam? Không thể chỉ vì lý do rằng chính sách bành trướng của Trung Cộng giờ mới phát tác. Không chỉ vì lý do đất nước ta nhỏ bé. Xung quanh đất nước Trung Cộng, còn nhiều nước nhỏ hơn chúng ta! Vì sao chủ quyền lãnh thổ của Tổ Quốc là vấn đề cốt lõi nhất, quan trọng nhất của một quốc gia, nếu đất nước đó không muốn làm nô lệ, lại không được các lãnh đạo Đảng CS và nhà nước Việt Nam chính thức lên tiếng, lại chỉ là một Hội Nghề cá lên tiếng? Trong bản lên tiếng đó, cũng chỉ là vấn đề đánh cá trước tiên, sau mới là “giữ vững an ninh quốc phòng, chủ quyền biển đảo tổ quốc” – Thậm chí, Tổ Quốc không còn được viết hoa. Vì sao, đến một hội nghề nghiệp viết văn bản “Yêu cầu tàu cá Trung Quốc rút ngay khỏi vùng biển Việt Nam” lại gửi cho “Văn phòng Chính phủ và một số cơ quan” mà không phải là nhà cầm quyền Bắc Kinh? Họ nhầm địa chỉ hay họ biết rõ nơi nào cần gửi? Vì sao, Đảng CS và Nhà nước Việt Nam đã đổ không biết bao tiền của, công sức của nhân dân để tiến hành hàng loạt các cuộc vận động cho cái gọi là “Học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong khi đó, chính Hồ Chí Minh đã nói rằng: “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì chúng ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi” lại không được thực hiện? Vì sao, hai thanh niên đã kiên cường chống Trung Cộng xâm lược, đã lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, lãnh thổ đất nước theo đúng như lời ông Hồ Chí Minh đã nói lại bị kết án nặng nề đến thế? Vì sao, một phiên tòa xét xử công khai lại ngăn chặn, bắt bớ những ai đến dự phiên tòa? Nhà nước sợ những người dân đến dự phiên tòa thấy rõ “tội trạng” của hai thanh niên này là đã dùng máu viết vào mảnh vải “có nội dung không hay về Trung Quốc”? Có phải câu hỏi cuối này, đã là câu trả lời cho những câu hỏi trên?   Hèn hạ và anh hùng Trước “Phiên tòa” công khai Đinh Nguyên Kha, bị bắt khi 24 tuổi, Nguyễn Phương Uyên một cô gái mới 20 tuổi đã biết nói lên tiếng nói của mình vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc. Một Đảng Cộng sản là đội quân tiên phong, một nhà nước Xã hội Chủ nghĩa ưu việt với quân đội “bách chiến bách thắng” đã lặng im khi lãnh thổ Tổ Quốc bị xâm chiếm, quân thù đang ngày đêm giày xéo Tổ Quốc mình. Đến mức, việc chủ quyền đất nước, biển đảo của Tổ Quốc lại được giao cho Hội Nghề cá lên tiếng! Một cô bé mới 20 tuổi đầu đã dõng dạc trước tòa rằng: “Tôi là sinh viên yêu nước, nếu phiên tòa hôm nay kết tội tôi, thì những người trẻ khác sẽ sợ hãi và không còn dám bảo vệ chủ quyền của đất nước. Nếu một sinh viên, tuổi trẻ như tôi mà bị kết án tù vì yêu nước thì thật sự tôi không cam tâm”. Trong khi đó, đám quan tham đang ngày đêm đục khoét đất nước, rước giặc vào nhà bằng nhiều cách, nhiều ngả khác nhau. Cũng trong khi đó, các lãnh đạo Đảng CS chỉ chăm lo 16 chữ vàng và 4 tốt với kẻ xâm lăng chỉ vì “chung ý thức hệ”. Thử hỏi ai yêu nước và ai phản bội? Một thanh niên mới 25 tuổi đã khẳng định rõ ràng khái niệm đơn giản nhất là Đất nước, Dân tộc, Tổ Quốc không có nghĩa là Đảng Cộng sản. Vậy mà cả hệ thống chính trị từ Tổng Bí thư và hàng loạt các Tiến sĩ, giáo sư trang bị đầy mình học thuyết Mác – Lênin đã không thể hiểu được điều đó. Họ đang cố tình đánh tráo khái niệm, đồng hóa quan niệm để kết tội những người đã không để cho nhóm lợi ích làm mưa làm gió trên đầu trên cổ dân tộc. Có thể họ hiểu, nhưng họ đã không dám nói ra, hoặc những lợi ích vật chất đã níu giữ họ lại. Đó là sự hèn hạ. Trong phiên tòa này, họ đã kết tội hai thanh niên, họ đã thực hiện được điều họ muốn. Họ đã chiến thắng!? Nhưng một học sinh chưa học qua đại học, khi vào tù còn nhắn về để xin bảo lưu kết quả học tập nhằm được học tiếp đã thẳng thắn đứng trước tòa tuyên bố “Tôi là sinh viên yêu nước” và hành động của em đã chứng minh điều đó. Trong khi đó, các quan tòa tai to, mặt lớn, đội ngũ công an trùng điệp, học hành tốn cơm, tốn của, được nuôi sống bằng tiền dân đã kết án em, một đứa con gái mỏng manh và trong sáng bằng một phiên tòa “công khai” một cách lén lút và bất minh. Thậm chí xét xử vì “có nội dung không hay về Trung Quốc”. Đó là sự đớn hèn và nhục nhã, sự nhục nhã của “bên chiến thắng bằng bạo lực”. Những lời biện hộ đanh thép trước tòa, là những lời kết tội đám người cố tình nhắm bắt, bịt tai trước lẽ phải và những tiếng nói lương tri của người dân Việt Nam. Bản án nặng nề dành cho hai em trong phiên tòa hôm nay, món quà quý dâng cho ngoại bang nhân ngày bọn chúng ra lệnh cấm đánh cá trên biển Việt Nam, liệu có làm vừa lòng bọn quan thầy đang muốn thôn tính cả đất nước ta, đưa dân tộc ta vào vòng nô lệ? Tôi tin là chưa đủ. Và con đường thoát khỏi ách nô lệ của đất nước ta còn dài. Đôi điều Cái gọi là “Phiên tòa” đã diễn ra, hai thanh niên măng trẻ đã vào tù. Nhưng, những kẻ đã đưa ra bản án bất nhân đó, họ nghĩ gì? Tôi tin chắc một điều, họ cũng có một trái tim và một cái đầu để nghĩ. Vậy họ sẽ nghĩ gì? Họ nghĩ gì khi chính họ đẩy một cô bé trong sáng, nhiệt tình vào cuộc sống lao tù với 6 năm trời đằng đẵng của tuổi đẹp nhất đời người là tuổi thanh xuân. Họ nghĩ gì khi đẩy người vô tội vào vòng lao lý chỉ vì những đồng lương họ nhận được, những bổng lộc chức tước họ có được từ tội ác này? Tôi không tin là cô bé Phương Uyên này, đã làm điều gì hại đến họ cũng như gia đình họ, càng không bao giờ cô bé này có thể làm hại cộng đồng và đất nước. Có chăng, chỉ là cô bé đã nói lên khí phách của dân tộc này trước bọn xâm lăng. Họ nghĩ gì, nếu đó là con gái họ, nếu là cháu của họ đang tuổi thanh xuân bị một thế lực hắc ám hãm hại? Ai sẽ phải trả giá điều này? Nhiều người sau khi gây tội ác đã tự an ủi mình rằng: Tôi chỉ là công cụ, tôi chỉ là con dao nên tôi vô tội. Tất cả tội ác họ đổ cho cái gọi là cơ chế để chối bỏ trách nhiệm của mình trước tội ác. Nhưng, ai đã đẻ ra cái cơ chế tội lỗi đó và ai đã nuôi nấng chúng? Ngày xưa, quan Philato cũng đã ra lệnh giết Đức Giêsu xong thì rửa tay để muốn phủi bỏ tội ác của mình. Nhưng, muôn đời sau thì Philato vẫn là tên chịu trách nhiệm trước cái chết đau đớn đó. Có lẽ Đức Phật đã hiểu con người từ xa xưa, Ngài đã chỉ rõ và vạch mặt thói trốn tội của những kẻ này như sau: “Những việc ác mà ngươi đã phạm, không phải là tại cha ngươi, không phải là tại mẹ ngươi, không phải tại thầy, chủ ngươi. Chính một mình ngươi đã phạm, và một mình ngươi phải chịu quả báo” (Kinh Đề Bà Đạt Ma (Devadata-suta)) Và vì thế: “Dẫu rằng ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào mà ngươi trốn khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi”… (Kinh Pháp Cú (Damma-pada)). Vâng, tất cả sẽ có ngày phải trả lời và phải trả món nợ đó, dù họ là ai. Hà Nội, 16/5/2013. Ngày Trung Cộng cấm đánh bắt cá tại Biển Đông và Phiên tòa Nguyễn Phương Uyên. J.B Nguyễn Hữu Vinh http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2013/05/17/monqua_ngoaixam/    
......

Thực dân mới

Cáo buộc của tổ chức Global Witness đối với Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đang được loan tải và phân tích trên hàng loạt cơ quan truyền thông quốc tế. Tờ Spiegel số vừa phát hành [i] cũng có riêng một phóng sự về việc này. Bài báo bắt đầu bằng hình ảnh một người đàn ông Lào 27 tuổi gầy guộc, đánh độc một chiếc quần đùi, ngồi xổm trên khoảnh hiên bé xíu trước túp nhà sàn dựng bằng phên dậu của mình ở làng Ban Hatxan, nơi anh sống với vợ và cha mẹ. Trước mặt anh là ba con thằn lằn bất động, bữa tối của cả nhà. Toàn bộ tài sản còn lại của gia đình là ba con gà và một con lợn. Anh không dám cho nêu tên thật. Anh đã phải chạy trốn khi tập đoàn HAGL của Việt Nam sang Lào chiếm đất trồng cao su với quy mô lớn. Người Lào ở đây gọi người Việt là những ông “trùm cao su”. Anh kể: Gia đình anh vốn sinh sống bằng mảnh đất trồng thốt nốt. Cách đây ba năm HAGL đem quân khai hoang đến, không báo trước, đốn rừng, đốt sạch mọi thứ, nhà anh cũng bị đốt. Song trong câu chuyện chiếm đất khai hoang ở Lào, ngoài những ông trùm Việt Nam còn có những ông trùm khác. Khi vô sản toàn thế giới không còn liên hiệp lại nữa thì tư bản toàn cầu làm việc đó rất thành công. “Lào và Việt Nam cách Đức hơn 8000 km. Nhưng tiền và sự trợ giúp để cướp đất ở Đông Nam Á thì HAGL cũng nhận được thông qua Deutsche Bank [ii]“, các tác giả của bài báo khẳng định. Một quỹ đầu tư của DWS, công ti con của Deutsche Bank, trực tiếp tài trợ cho HAGL và một công ti Việt Nam khác thuộc VRG. Bài báo cũng điểm lại sự nghiệp của ông Đoàn Nguyên Đức mà người Việt thường gọi là “Bầu Đức“, từ thuở ban đầu với một xưởng mộc đóng bàn ghế cho học sinh trên Tây Nguyên đầu những năm chín mươi, qua kinh doanh gỗ và góp phần đáng kể vào việc phá rừng vô độ ở Việt Nam, nhưng chỉ thực sự phất mạnh khi nhảy vào lĩnh vực bất động sản từ cuối những năm 2000. Ông cũng là người Việt đầu tiên sắm máy bay riêng, mua hẳn một câu lạc bộ bóng đá làm của và có tham vọng trở thành tỉ phú đầu tiên của Việt Nam, và Deutsche Bank là một trong những thế lực giúp ông trên con đường đó. Hé lộ kiểu làm ăn "khác người" của bầu Đức ở Lào Theo Spiegel, “năm 2008, trước hết Bầu Đức đưa HAGL lên sàn chứng khoán TPHCM. Vụ lên sàn này thắng lợi, tổng vốn hóa thị trường của HAGL nhanh chóng tăng gấp ba. Nhưng ông bầu còn muốn đi xa hơn. HAGL muốn trở thành doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên niêm yết chứng khoán tại London. Deutsche Bank giúp ông. Cuối năm 2010, Deutsche Bank mua cổ phiếu của HAGL và vài tháng sau tạo điều kiện để HAGL lên được sàn London. Cổ phần của Deutsche Bank là cơ sở cho các chứng chỉ lưu kí toàn cầu[iii] để huy động vốn đầu tư cho HAGL.” Nhưng khi ấy kinh doanh bất động sản không còn ở đỉnh cao và HAGL bắt đầu nhắm vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đầu tiên ở Việt Nam, rồi sau khi đã vét sạch ở trong nước thì vươn sang Lào và Campuchia. Bài báo dẫn lời Bầu Đức tuyên bố trên tạp chí Forbes: Tài nguyên là thứ hữu hạn. Tôi phải nhanh chân, nếu không là nó hết. HAGL làm thế nào để thâu tóm trên 80.000 hécta ở Lào và Campuchia, vượt xa giới hạn hợp pháp theo luật tô nhượng đất của các quốc gia này? Spiegel đưa ra một ví dụ về những cách khuất tất và lắt léo trong đống bùng nhùng của tham nhũng và vô hiệu hóa luật pháp mà báo cáo của Global Witness nhắc đến. Năm 2009, Lào được đăng cai tổ chức SEA Games 25. HAGL nhận tài trợ toàn bộ dự án xây Làng vận động viên với tổng vốn đầu tư là 19 triệu Dollar. Song đó không phải là một cử chỉ từ thiện hào phóng mà là một vụ đổi chác, lấy 10.000 hécta đất để đốn rừng, trồng cao su. Dân Lào ở đây chỉ biết sững sờ khi bỗng nhiên thấy xe ủi của người Việt xông đến. Số thì chạy trốn, không dám đương đầu với những ông chủ mới được chính quyền Lào che chắn. Số còn lại chấp nhận một khoản đền bù rẻ mạt. Người đàn ông bị cướp đất và đốt nhà nêu trên được đền bù 1,5 triệu Kíp tiền đất, tương đương 150 Euro, và 16.000 Kíp tiền nhà, giá một bát mì trong quán. Ông Đoàn Nguyên Đức khó có thể bảo rằng tờ Spiegel lợi dụng tên tuổi của Hoàng Anh Gia Lai để đánh bóng tên tuổi, như ông đã quy động cơ rẻ tiền ấy cho Global Witness mà theo ông là một tổ chức vô danh. Đối tượng chính của bài báo trên tuần tin quan trọng nhất ở Đức, với số lượng phát hành lớn nhất ở châu Âu này cũng không phải là tập đoàn Việt Nam HAGL mà là tập đoàn Đức Deutsche Bank, thế lực tài chính đã trợ giúp và tham dự vào những hoạt động đầu tư thiếu minh bạch, tàn phá môi trường, bần cùng hóa nông dân, gây bất ổn xã hội, mâu thuẫn sâu sắc với những giá trị về đạo đức và bảo vệ môi trường bền vững mà Deutsche Bank thường quảng cáo. Cũng theo Spiegel, Deutsche Bank tuyên bố là quỹ đầu tư thuộc công ti con DWS của mình chỉ giữ vỏn vẹn 0,6 % cổ phần tại HAGL, và trong trường hợp có chứng cứ xác nhận những cáo buộc nói trên, Deutsche Bank sẽ tiến hành đối thoại với các công ti Việt Nam để cải thiện các điều kiện xã hội và môi trường liên quan. Có lẽ sẽ chẳng có gì thay đổi, ngoài việc một dân tộc từng lầm than hàng thế kỉ vì chủ nghĩa thực dân và hiện đang đứng trước nguy cơ tự đưa cổ vào tròng thực dân mới rất có thể lại đi đóng chính vai trò thực dân mới. Hiển nhiên HAGL và VRG không đại diện cho dân tộc Việt Nam, nhưng những người nông dân Lào và Campuchia bị mất đất và tước sinh kế chỉ đơn giản thấy đó là Việt Nam, người láng giềng tuy nhược tiểu trên trường quốc tế nhưng tự tin rằng mình hùng mạnh nhất trên bán đảo Đông Dương. Người Việt nói chung, bản thân đầy đau đớn và mặc cảm vì phận dưới của mình, chưa bao giờ tự vấn về thái độ bề trên với hai dân tộc láng giềng phía Tây. Hơn một trăm năm trước, người Pháp đưa cây cao su vào Việt Nam. Bây giờ người Việt đem nó đi khai hóa văn minh ở Campuchia và Lào. Bao giờ thì chúng ta sang châu Phi khai hóa? © 2013 pro&contra [i] “Der Landraub von Laos” (Cướp đất ở Lào), nhóm tác giả Martin Hesse, Jörg Schmitt, Wieland Wagner, Spiegel số 20/2013, tr. 82-83 [ii] Deutsche Bank (Ngân hàng Đức) là tập đoàn ngân hàng tư nhân lớn nhất nước Đức, hoạt động toàn cầu với hơn 100.000 nhân viên ở trên 70 quốc gia, có mặt tại Việt Nam từ năm 1997. [iii] Global Depositary Receipt (GDR) http://www.procontra.asia/?p=2460  
......

Ngày mai em ra toà

Nguyễn Thị Phương Uyên sẽ ra toà ngày 16/05/2013 và sẽ bị xét xử theo điều 88 của Bộ Luật hình sự tội tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.   Tôi không quen em, chỉ biết em qua những bài viết về em trên mạng, cả từ báo lề dân cũng như lề đảng.   Tôi cũng đã có bài "Trò nhận tội khoan hồng cũ rích đã bị phá sản" ngay sau cuộc họp báo ngày 03/11/2012 của cơ quan điều tra, vạch rõ sự sai trái trong kết luận của cuộc họp báo với thực tế.   Phương Uyên chỉ xấp xỉ tuổi con tôi. Còn nhỏ quá. Mới hai mươi tuổi đầu. Người ta nói tuổi này là tuổi ăn, tuổi học, tuổi chơi.   Nhưng Phương Uyên đã làm tôi cảm phục.   Phương Uyên là con một gia đình nông dân nghèo, nhưng không những là một học sinh ngoan được nhiều bạn bè yêu quý, mà con có những tư tưởng và hành động dường như vượt quá cái tuổi hồn nhiên, trong trắng của em.   Khi tuổi trẻ cùng lứa với em say mê với những games online, hưởng thụ vật chất, chạy theo thời trang, hay những thứ giải trí của K-pop, khóc ngất đón sao Hàn, Phương Uyên đã nghĩ về đất nước và trách nhiệm của công dân.   Chưa lúc nào chủ quyền dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng như hiện nay. Cuộc xâm lược Hoàng Sa và một phần Trường Sa, cộng với cuộc xâm lược mềm bằng thuê rừng đầu nguồn 50 năm, thâu tóm hơn 90% tổng thầu EPC cùng với hàng chục ngàn người đưa qua lao động, gây rối; hàng hoá độc hại tràn ngập lãnh thổ khắp cả nước; trong sự tiếp tay của tập đoàn thái thú Ba Đình, thực sự đã đẩy đất nước vào tiến trình Bắc Thuộc lần thứ 4. Việt Nam sẽ là một Tây Tạng thứ hai là viễn cảnh không xa.   Chưa bao giờ tiềm năng đất nước bị xói mòn và sinh lực cạn kiệt vì bộ máy tham nhũng hiện nay. Các nhóm trục lợi thi nhau rút ruột công trình, lợi dụng đặc quyền, đặc lợi vơ vét làm giàu bất chấp lương tri và đạo đức, kéo theo những món nợ nặng nề mà các thế hệ sau phải còng lưng gánh nặng.   Cho nên em viết: “Vì danh dự dân tộc, chống giặc Tầu. Vì tương lai đất nước, chống tham nhũng”.   Khẩu hiệu của em như một mệnh lệnh, một đòi hỏi yêu nước chính đáng. Hơn lúc nào hết, người dân cần thoát ngay ra khỏi sự tuyên truyền dối trá, lừa mị. Nhà nước cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách phò Tàu để giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, bám chặt lấy hệ thống chính trị độc quyền, chăm lo cho lợi ích riêng của phe nhóm trong đảng.   Khẩu hiệu của em là tiếng gọi của lương tri với non sông, hướng tới tất cả những ai còn chảy trong lòng mình dòng máu Việt Lạc Hồng.   Phải chống Tàu và chống tham nhũng, chống lại "nhà nước CHXHCN Việt Nam" mà thực chất chỉ là một băng đảng đang xây dựng chế độ tư bản-phong kiến với bộ mặt cộng sản. Chống kẻ thù ngoại xâm và nội xâm là hai thứ đang tước đi dần tài sản thiêng liêng nhất của dân tộc: đất nước.   Tôi không biết em có trực tiếp tham gia rải truyền đơn hay không. Nhưng nội dung của truyền đơn được rải ngày 10/10/2012 đã bộc lộ tất cả:   “Hỡi đồng bào Việt Nam, hãy đứng lên chống lại bạo quyền độc tài Cộng Sản Việt Nam. Hãy giành lại quyền lợi cho chính mình và gia đình, hãy đứng lên vì Tự Do, Nhân Quyền và Công Lý. Đảng Cộng Sản Việt Nam sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào. Chúng cướp đất dân lành làm giàu cho đảng viên Cộng Sản, làm nô lệ để bán biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Làm ngơ để Trung Quốc bán vào nước ta những đồ ăn độc hại làm suy nhược giống nòi Việt Nam. Vì quyền lợi của con em,vì tương lai của dân tộc, hãy xóa bỏ sợ hãi, cùng đứng lên chống lại bọn Độc Tài Cộng Sản Việt Nam”.    “Trung Quốc đang từng bước thôn tính nước ta, bọn chúng đang chiếm dần hết biển đảo của ta. Cho Trung Quốc thuê rừng đầu nguồn dài hạn để chiếm cứ những địa điểm quan trọng. Để Trung Quốc vào khai thác Bô-Xít tại Tây Nguyên để làm cứ điểm quân sự trọng yếu. Dâng hiến Ải Nam Quan Lịch Sử, Thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số vuông đất biên giới cho Trung Cộng. Đảng Cộng Sản Việt Nam cho Trung Quốc đấu thầu chiếm hầu hết các công trình trọng điểm quốc gia để cho Trung Quốc thống lĩnh nền kinh tế nước nhà… Tổ quốc đang lâm nguy! Toàn dân hãy đứng lên cứu nước, cùng nắm tay nhau xuống đường chống lại bọn Cộng Sản Việt Nam tay sai của bọn cộng sản Trung Quốc”.   Đọc toàn bản cáo trạng của em và người bạn Đinh Nguyên Kha, tôi thấy em thật khó thoát khỏi bàn tay lông lá của bầy sói. Chông gai và cạm bẫy rình rập, bủa vây em. Lao tù là chốn mà em sẽ phải dấn thân. Em còn quá trẻ và cuộc đời còn dang rộng. Ba năm, năm năm thậm chí nhiều hơn...   Ngẫm cảnh mẹ em đi thăm con thật khó khăn và thân em nhỏ nhoi bị đánh đập trong tù mà tôi xót xa, oán hận chế độ nhà tù gì mà sao tàn ác, bất nhân đến thế.   Hãy kiên trinh và can đảm lên em! Mọi người đứng bên em, cảm phục, chia sẻ và tranh đấu cho em. Gia đình đứng bên em và tự hào về em. Một ngày nào đó công lý sẽ chiến thắng và em sẽ được bù đắp. Cầu chúc cho em muôn sự bình an!   Ở một đất nước có dân chủ tự do, không bao giờ những việc làm của em bị kết án tù, ngược lại còn được khuyến khích. Đất nước Việt Nam thật vô cùng bất hạnh. Một đất nước bất bình thường, điên đảo, các giá trị nhân bản đã không còn mà nhường chỗ cho cuộc chơi đen đỏ quyền-tiền man rợ. Có những con người rắp tâm làm dã thú. Những tên quan toà mặt ngựa đầu trâu, thực sự chỉ là những con robot của cả bộ máy công quyền bất công và ô nhục.   Mọi người sẽ cùng hát vang bài ca yêu nước mà một người đã viết tặng em:   "Chúng ta hãy cùng xiết chặt tay! Vì lũ giặc xâm lăng đã đến Tuyên bố “Đường Lưỡi Bò” mưu chiếm trọn Biển Đông Còn ngang ngược lập “Thành phố Tam Sa” trên biển Gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của cha ông!   Chỉ những kẻ vô lương tâm mới không thấy đau lòng Khi quân giặc cướp tàu thuyền và bắn chết ngư dân trên biển Khi cố tình quên vong linh những anh hùng Hải Chiến Khi vì tiền mà cho chúng thuê biển, thuê rừng Khi cho chúng đưa lao công sang trên các công trường Làm rơi lệ Tố Như, xót xa hồn Nguyễn Trãi!" (Nguyễn Hàm Thuận Bắc)   © 2013 Lê Diễn Đức - RFA bog http://www.rfavietnam.com/node/1609  
......

Tuyên bố về vụ án và phiên tòa xử các SV yêu nước tại Long An ngày 16-05-2013

Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.               Với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát Cộng sản tại Long An ký ngày 06-03-2013, hai sinh viên Đinh Nguyên Kha (Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An) và Nguyễn Phương Uyên (Đại học Công nghiệp Thực phẩm Sài Gòn) sẽ ra tòa ngày 16-05 sắp tới với tội trạng “tham gia vào tổ chức phản động “Tuổi trẻ yêu nước”, trong tháng 8-2012 và tháng 10-2012 đã có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu chống Nhà nước ta... có sự chỉ huy của Nguyễn Thiện Thành” (sinh viên Đại học Công nghiệp Thực phẩm SG, đã đào thoát), và với tội danh “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật hình sự”.                1- Đây là một vụ án có nhiều kịch tính, bộc lộ tất cả bản chất ghê tởm của chế độ và nền pháp lý Cộng sản tại Việt Nam.   Trước hết, cô sinh viên 21 tuổi đã bị bắt và giam giữ theo kiểu bắt cóc, bất chấp mọi quy định về tố tụng hình sự. Bị gia đình và thân hữu của em chất vấn và phản đối, cơ quan công an nửa tháng sau đành tìm cách lấp liếm và dối gạt công luận một cách trắng trợn.               Khi bạn bè cùng lớp rồi 144 nhân sĩ trí thức gởi thư lên Chủ tịch nước bênh vực cho Phương Uyên, họ liền lãnh cả một loạt hành vi trả đũa đê tiện. Các sinh viên bị nhà trường (trưởng khoa, một số giáo sư, thành đoàn…) bức bách phải rút lại chữ ký, rồi bị công an từ đó luôn theo dõi. Còn các vị nhân sĩ thì vừa chịu thóa mạ (bị gọi là “trí thức bầy đàn, phạm pháp bầy đàn”), vừa bị mạo danh qua một kiến nghị giả trái ngược.                  Sau khi em Đinh Nguyên Kha cũng bị bắt và em Nguyễn Thiện Thành bị truy nã thì cả một chiến dịch tấn công trên báo chí nhà nước được mở ra. Không cần tự mình điều tra tìm hiểu, cân nhắc phán đoán, các công cụ mù quáng và vô liêm sỉ này chỉ biết theo lệnh trên đua nhau vu khống các sinh viên đủ thứ tội: nào là tham tiền (dù chỉ được tặng 100 đôla mua máy ảnh trước đó), nào là khủng bố, chế tạo chất nổ nhằm giật sập tượng ông Hồ (dù chỉ có khoảng 300gr hóa chất làm pháo đốt chơi), nào là xâm phạm an ninh quốc gia, nào là cấu kết với thế lực thù địch,…               Gia đình của ba sinh viên cũng chẳng được buông tha: nào lôi đến đồn để hăm dọa ép cung, nào hành lênh hành xuống trong việc thăm tù, nào không cho biểu lộ tình cảm mẫu tử, nào tịch thu máy móc hành nghề rồi cấm cản làm việc, nào buộc phải xác nhận con mình có tội trên giấy thăm nuôi, nào sai cựu chiến binh đến nhà hành hung và vu vạ rằng con của họ phản động…               Tiếp đến là kịch bản cũ mèm, bị dư luận khinh bỉ, căm phẫn và chẳng bao giờ tin, đó là đưa các đối tượng lên truyền hình để đọc bản “ăn năn nhận tội” và “xin nhà nước khoan hồng”! Rồi màn cho bị can gặp các luật sư để chỉ xác nhận mình bị bắt đúng thủ tục và được đối xử tốt trong tù. Tất cả chỉ phơi bày trò khủng bố tâm lý, bức bách tù nhân và lừa gạt công luận một cách trơ trẽn, chỉ tố cáo thái độ hèn nhát, ác độc của kẻ mạnh đối với người yếu thế, bị huỷ diệt mọi khả năng lựa chọn trước các đòn đe dọa.               Đến khi Phương Uyên phản đối những điểm sai trái, vu khống trong bản cáo trạng (như ghi rằng em “đã viết một số nội dung không hay về Trung Quốc” đang khi thực sự em đã đề: “Tàu khựa hãy cút khỏi Biển Đông”...), thì liền bị trả thù cách dã man tàn độc: bị cấm mang kính cận khiến phải nhức đầu thường xuyên, bị đánh đến ngất xỉu, với nhiều thương tích và vết bầm tím trên người.               2- Dựa vào Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền điều 19 và Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị điều 19 (mà Việt Nam đã cam kết tuân giữ): “1- Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. 2- Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia”, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tuyên bố:               a- Hành động rải truyền đơn của các em sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Thiện Thành và nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước kêu gọi toàn dân chống giặc Tàu xâm chiếm đất biển tổ quốc Việt, ức hiếp công dân Việt, làm suy yếu dân tộc Việt bằng những thức ăn độc hại; chống đảng CSVN độc tài, tham nhũng, cướp ruộng vườn của dân, dâng đất biển cho Tàu, bách hại và lũng đoạn các tôn giáo, sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt của đồng bào, đẩy nhân dân đất nước vào chốn lầm than; (chứ các em chẳng hề chống nhà nước, chủ trương vô chính phủ để xã hội hỗn loạn)… Hành động đó của các em vừa chính đáng, không vi phạm pháp luật, nằm trong nhân quyền và dân quyền, vừa diễn tả đúng thực trạng của đất nước và chế độ, bày tỏ đúng tâm trạng và khát vọng của toàn dân. Ngay cả việc treo cờ vàng ba sọc đỏ (là cờ truyền thống của Dân tộc, có từ thời Thành Thái (1890), một vị vua yêu nước có tinh thần và chủ trương đoàn kết dân tộc 3 miền để chống ngoại xâm) là một hành vi chính đáng và đầy ý nghĩa.               b- Chủ nghĩa lẫn chế độ Cộng sản đáng bị loại khỏi tâm trí, đất nước, lịch sử Việt Nam và đảng Cộng sản đáng bị loại khỏi chính trường Việt Nam bằng đường lối bất bạo động như lời kêu gọi của các em sinh viên nói trên. Bởi lẽ cả ba thứ quái thai này -với vô số sai lầm và tội ác trong hơn nửa thế kỷ- đã gây ra cái chết cho hàng triệu đồng bào, đã đặt ách nô lệ lên toàn thể dân tộc, đã đưa đất nước vào đủ mọi thảm trạng lẫn tệ nạn và đang đẩy Tổ quốc đến bờ vực thẳm suy vong, vì đang khi hiểm họa Tàu cộng xâm lược ngày càng cận kề mà đảng CS vẫn hèn nhát bạc nhược.               c- Các em sinh viên trong Nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước nói trên thật đáng khen ngợi vì ý thức sắc bén về tình hình đất nước và xã hội, vì khát vọng tốt lành muốn đưa Dân tộc thoát khỏi các cơn khủng hoảng chính trị và xã hội triền miên, vì lòng can đảm dám liều mạng để cảnh báo và kêu gọi đồng bào chung tay khử trừ hiểm họa ngoại xâm và nội xâm. Dân tộc Việt Nam may mắn là còn có những bạn trẻ -dù bị chủ nghĩa và chế độ CS tìm cách đầu độc- vẫn đầy tâm hồn trong sáng, lý tưởng cao đẹp, khí phách anh hùng và nhiệt huyết thương nước thương nòi như thế!               3- Quả vậy, vụ án và phiên tòa xử các sinh viên trong Nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước lúc này, vụ án và phiên tòa xử nhiều sinh viên yêu nước tại Nghệ An đầu năm và vụ trấn áp các bloggers trẻ gần đây chỉ là sự bộc lộ cơn phẫn nộ của đảng CS trước thất bại của nền giáo dục quái đản và tác hại của đảng.               a- Dựa vào nguyên lý “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Luật Giáo dục điều 3), đảng CSVN, ngay từ đầu, đã chủ trương chính trị hóa nền giáo dục tại VN. Nghĩa là thay vì đào tạo ra những công dân tự do cho đất nước, đảng chỉ muốn uốn nắn thế hệ trẻ thành những thần dân nô lệ cho đảng, chỉ biết noi gương lãnh tụ đảng cách mù quáng, vâng phục mệnh lệnh đảng cách khiếp nhược, coi “hồng hơn chuyên”, ý thức tuân hành hơn khả năng học vấn, và gọi đó là “bản lĩnh chính trị”!?!               Tiến trình đầu độc tâm trí, đánh gục ý chí, tẩy não nhồi sọ, làm băng hoại tâm hồn này đã khởi sự từ cấp mẫu giáo lên đến đại học với tổ chức “Đội Thiếu nhi Tiền phong” và “Đoàn Thanh niên Cộng sản” chuyên kiểm soát chặt chẽ đội viên, đoàn viên; với những giáo khoa sử học và văn học đầy tô hồng cho đảng, che giấu cuộc kháng Tàu, vu khống thóa mạ mọi kẻ thù của chế độ; với những thần tượng tuổi trẻ như Lê Văn Tám, Kim Đồng, Nguyễn Văn Trỗi… được thêu dệt từ con số không hoặc thổi phồng theo tưởng tượng; với những trò ép buộc đoàn viên phục vụ lãnh đạo đảng (vụ Sầm Đức Xương-Nguyễn Trường Tô), quấy rối các cộng đoàn tôn giáo đòi công lý (vụ giáo xứ Thái Hà), lên án bạn học dám đòi công lý cho dân oan (vụ đại học Luật Sài Gòn), ngăn cản bằng hữu tham gia biểu tình yêu nước, dàn hàng bảo vệ sứ quán của quân xâm lược… Đó là chưa nói đến nạn giới trẻ được giáo dục tính gian dối, thói bạo hành và lòng thù hận khi còn ngồi trên ghế nhà trường.               Nền giáo dục phi nhân bản, phản dân tộc ấy đã đẻ ra cả một thế hệ thanh niên sau đó trở thành những công an trẻ đầy thói tàn bạo, tư cách côn đồ, sẵn sàng đàn áp thẳng tay các cuộc khiếu kiện của dân oan, các cuộc biểu tình chống xâm lược, các cuộc dã ngoại về nhân quyền; trở thành những tên tin tặc chuyên lùng sục để phá hoại các trang mạng dân chủ hay bắt bớ các công dân mạng dám phát biểu chính kiến ngược với đảng; trở thành những dư luận viên chỉ biết vì tiền mà bênh vực đảng và chế độ một cách ngang ngược, lố bịch và ngu xuẩn!               Xa hơn, nền giáo dục phi nhân bản, phản dân tộc, chống khai phóng đó đã đẻ ra cả một thế hệ trí thức lưu manh, trí nô ký sinh, mất tất cả nhân cách, tiêu tinh thần “kẻ sĩ”, dù mang đủ thức học hàm học vị, đang ngồi trong Quốc hội, Quân đội, Công an, các cơ quan công quyền và các trường đại học… Chỉ vì chút bổng lộc hiện thời và sổ lương hưu tương lai, họ sẵn sàng ngăn chận và dọa nạt sinh viên của mình biểu tình chống quân xâm lược, trâng tráo bênh vực sự lãnh đạo độc quyền và vĩnh viễn của đảng trên dân tộc đất nước, cổ vũ không biết ngượng cho lòng trung thành tuyệt đối của quân đội đối với cái đảng đang ác với dân và hèn với giặc, mải miết khẳng định đảng là sở hữu chủ mọi tài nguyên để cướp đất ruộng của dân cày. Điều này đang được phơi bày cách lộ liễu trên các báo đài công cụ, trong các cuộc hội thảo về Hiến pháp với những tên tuổi ô nhục.               Hậu quả là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, trọng hồng hơn chuyên ấy đã khiến cho Việt Nam nức tiếng trong khu vực là nhiều người bằng cấp cao, nhưng đa phần toàn những giáo sư giả, tiến sĩ dỏm, gây ô nhục cho cả nền văn hiến ngàn năm; đồng thời lại hiếm hoi những nhà khoa học giỏi, chuyên viên thực, bằng phát minh được quốc tế công nhận. Điều đó gây ra sự lụn bại của nền học thuật, nền kỹ thuật, nền văn minh và nền văn hóa của một Dân tộc vốn từng ngang ngửa với các nước lân bang trước năm 1975, thời Việt Nam Cộng Hòa.               4- Cuối cùng, Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền kêu gọi:               a- Các bạn trẻ Việt Nam hãy noi gương sáng suốt và can đảm của các sinh viên nhóm Tuổi Trẻ Yêu Nước cũng như các thanh niên nhóm Chúng ta-Các Công dân Tự do để đứng lên làm lịch sử, tiếp nối các anh hùng trẻ tuổi trong lịch sử dân tộc, góp phần đánh đuổi ngoại xâm và tiêu trừ nội xâm.               b- Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước hãy bày tỏ sự đồng tình ủng hộ đối với các bị can trẻ tuổi sắp phải đối diện một tòa án với bộ sậu xét xử vốn chỉ là công cụ đàn áp của nhà cầm quyền. Đồng tình và ủng hộ bằng cách đến dự phiên tòa, theo dõi trên mạng, đồng loạt lên tiếng bênh vực; bằng cách hỗ trợ vật chất và tinh thần cho gia đình những công dân yêu nước trẻ tuổi đang hy sinh vì đại nghĩa dân tộc.               c- Các Chính phủ dân chủ và các Cơ quan nhân quyền quốc tế hãy coi phiên tòa này như một bằng chứng sống động và tội ác lớn lao để ngăn chận nhà cầm quyền CSVN ngồi vào ghế Hội đồng Nhân quyền vào năm tới.               Để kết thúc, chúng tôi nguyện cầu Thiên Chúa ban cho tất cả Đồng bào Việt Nam trong và  ngoài nước lòng can đảm, sự kiên trì và óc đoàn kết để đấu tranh cho công lý và sự thật, cho dân chủ và nhân quyền tại Quê hương, ngõ hầu đảng và nhà cầm quyền CSVN không còn khả năng tác hại lên toàn thể đất nước và các thế hệ tương lai của Dân tộc.               Làm tại Việt Nam ngày 14-05-2013.               Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền:               - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải              - Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi              - với sự hiệp thông của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý đang ở trong lao tù Cộng sản.      
......

AI ĐÒI ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG?

Ai mà dám đòi chuyện đó ở Việt Nam chỉ có nước tàn đời. Ngay đến các ông cộng sản gộc như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ...mới phát lên những suy nghĩ về đa nguyên cũng bị cho về vườn và bị cô lập cho đến hết đời. Trước xa đó là nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cũng điêu đứng qua vụ án mà cả thế giới đều biết và đến tận bây giờ sau gần nửa thế kỷ mọi người vẫn không quên. Mà nhóm trí thức, văn nghệ sĩ thời đó chỉ mới hé hé ra đôi điều bất ổn của chế độ độc đảng toàn trị chứ có dám nói thẳng đến chuyện đa nguyên đa đảng nào đâu. Sau thời Trần Xuân Bách, từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, tiếp tục xuất hiện những kẻ sĩ  không những suy nghĩ  mà còn đặt thẳng vấn đề đa nguyên đa đảng ra công luận. Đó là các vị trí thức nhân sĩ: Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Phạm Hồng Quế, Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Tiến Trung, Lê Anh Kim, Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Hồng Sơn... Và các vị ấy đang bị như thế nào thì ai cũng biết. Đa nguyên đa đảng là cái gì mà ghê gướm thế? Cái gì mà vì nó  biết bao nhiêu tinh hoa của đất nước phải bước vào vòng lao lý? Mở sách vở lý luận ra xem thì thấy rằng: Đa nguyên là thuộc tính của tự nhiên, do vậy cũng là thuộc tính của muôn loài, trong đó có  loài người.Đa nguyên trong xã hội loài người thể hiện qua sự đa dạng chủng tộc, đa dạng văn hóa, đa dạng tư tưởng, đa dạng cộng đồng, đa dạng khuynh hướng, đa dạng tổ chức... Đa nguyên trong làm ăn kinh tế thể hiện qua đa dạng thành phần, đa dạng lực lượng, đa dạng chủ sở hữu... Đa nguyên trong chính trị thể hiện qua sự đa dạng đường lối, mà mỗi đường lối được đại diện bởi mỗi tổ chức, mỗi đảng phái chính trị. Vì vậy tính đa nguyên trong chính trị thể hiện qua sự đa đảng. Chống lại tồn tại khách quan của đa nguyên là phản khoa học, phản lại tự nhiên, phản lại sự tiến hóa của nhân loại. Các chế độ độc tài không thể không chấp nhận đa nguyên tất yếu trong các lãnh vực nhưng quyết liệt chống lại đa nguyên trong chính trị, nghĩa là không chấp nhận đa đảng để bảo vệ sự cai trị độc tài của họ vì lợi ích cá nhân hoặc lợi ích cục bộ. Ở Việt Nam, dưới chế độ cộng sản, đa nguyên đa đảng là điều úy kị, không được nghĩ đến, không được nói ra và tất nhiên không được phép tuyên truyền cổ xúy. Do vậy trong suốt thời gian dài bất kỳ ai nói đến đa nguyên đa đảng đều bị trấn áp quyết liệt như đã thấy. Thế nhưng những đàn áp ấy có dập tắt được tư duy tất yếu về đa nguyên đa đảng trong dân chúng hay không? Chắc chắn là không.Ngày nay không chỉ có vài mươi người đòi hỏi đa nguyên đa đảng để dễ dàng bị trấn áp như trước, mà đã có hàng vạn người công khai và đồng loạt đứng lên đòi hỏi đa nguyên đa đảng. Hàng vạn người đó là những ai? Đó là trên 14 ngàn người đã ký tên vào Kiến Nghị 72, gần 10 ngàn người ký tên vào Tuyên Bố Công Dân Tự Do, trên 15 ngàn người ký tên vào tuyên bố của Hội Đồng Giám mục Việt Nam... Và đặc biệt những công dân dũng cảm đó không còn đứng riêng lẻ trong việc đòi hỏi đa nguyên đa đảng nữa, họ đã đương nhiên đứng vào các tổ chức tự phát đang hình hành:  Nhóm Kiến nghị 72, Nhóm Công Dân Tự Do, Nhóm công dân đứng sau Hội Đồng Giám Mục. Hoặc họ đang là người của những tổ chức đã có sẵn, đó là các tập thể công dân trong 5 tổ chức tôn giáo cùng ra tuyên bố chung về sửa đổi hiến pháp theo tinh thần của Kiến Nghị 72: Công Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài và Tin Lành. Kiến Nghị 72, như là phát pháo mở đầu phong trào đòi hỏi đa nguyên đa đảng có tổ chức thông qua việc góp ý hiến pháp, đã lôi cuốn sự ủng hộ tuyệt đối của các tổ chức tự phát đang hình thành và các tổ chức có sẵn. Qua đó dù không cố tình nhưng Kiến Nghị 72 dần trở thành một phong trào đoàn kết nhân dân và đoàn kết các tổ chức nhân dân nhằm vào một mục tiêu chung là đấu tranh cho sự phục hồi tính đa nguyên tất yếu trong sinh hoạt chính trị. Điều nầy là một bất ngờ lớn đối với đảng cộng sản độc quyền. Những lãnh đạo cộng sản bảo thủ đã hoảng hốt phản ứng. Ông Nguyễn Sinh Hùng cho rằng đó là việc lợi dụng để “tuyên truyền vận động nhân dân chống lại Đảng, nhà nước, cái đó là ngược chiều, phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn'.  Ông Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: Những kẻ đòi bỏ điều bốn, tức đòi đa nguyên đa đảng là suy thoái đạo đức và chính trị.Thử điểm những người bị cho là suy thoái, là vận động nhân dân chống đảng đó là ai.  Nhìn danh sách gần 15 ngàn người ký tên vào kiến nghị 72 ta thấy ngay trong đó có những người là đảng viên cộng sản, thậm chí là những đảng viên cao cấp từng là cấp trên của các ông Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Phú Trọng, có những người là những bậc trí thức tài năng từng nhiều năm làm cố vấn hoặc làm chuyên gia cho các đời thủ tướng chính phủ, có những người đang là công chức nhà nước, có những người là các chủ doanh nghiệp thành đạt, là các giáo sư, bác sỹ, kĩ sư, văn nghệ sĩ...có chỗ đứng trong xã hội, có những người là cựu chiến binh đã từng đổ máu cho sự ra đời của chế độ nầy, có những người là chức sắc tôn giáo đạo cao đức trọng, có những người là công nhân, là nông dân, là giới trẻ trong và ngoài nước, là bao nhiêu người dân bình thường khác.. Xu thế hướng đến đa nguyên là xu thế tất yếu. Ngay trong nội bộ đảng cũng đang xuất hiện mầm mống đa nguyên. Điều nầy thể hiện rõ qua hai hội nghị TW 6 và 7, ý kiến "nhất nguyên" từ tổng bí thư, từ bộ chính trị đưa ra về việc kỷ luật  và đề bạt nhân sự đã bị phản bác bởi khuynh hướng ngược lại của số đông trong ban chấp hành, một tiền lệ chưa từng có. Người ta đang tim hiểu có những ai đứng sau Kiến Nghị 72. Có hẳn một bài báo lề đảng của một cán bộ tuyên huấn đặt vấn đề kẻ giấu mặt phía sau Kiến Nghị 72 là ai?  Phải chăng người ta đang lo sợ, ngoài những đảng viên cấp cao công khai ký tên như đã biết, có thể còn những đảng viên cấp cao khác lặng lẽ đứng sau? Thậm chí họ còn nghi kỵ có những lãnh đạo đương nhiệm đứng sau Kiến Nghị 72. Những người trong giới lãnh đạo cao cấp, trong suốt thời gian dài, không hề có một lời phản ứng trước sự ra đời của Kiến Nghị 72  đang bị dư luận xầm xì rằng có thể họ là những kẻ đứng sau. Thậm chí có cả những trang web bị nghi là của DLV viết hàng loạt bài nêu đích danh một lãnh đạo cấp cao đương nhiệm là kẻ đứng sau Kiến Nghị 72. Dư luận ấy đúng sai chưa rõ , nhưng chắc chắn đang có sự tồn tại một lực lượng âm thầm đứng sau ủng hộ Kiến Nghị 72. Lực lượng đó là ai? Đó là đám đông thầm lặng. Họ không dám công khai ký tên vào Kiến Nghị 72 hoặc vào các tuyên bố khác, nhưng họ nhiệt tình theo dõi diến tiến của tình tình, họ bàn luận sôi nổi trong các bửa tiệc gia đình, trong các buổi liên hoan cơ quan, trong các quán ăn, trong các quán cà phê, trong các buổi đi dã ngoại...Họ là những người trong số hàng trăm ngàn lượt người mỗi ngày vào đọc các trang "báo lề dân" đang cổ xúy cho Kiến Nghị 72 như: Ba Sàm, Quê Choa, Bauxite Việt Nam, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Viết Đào,  Nguyễn Tường Thụy, Bùi Văn Bồng, JB Nguyễn Hữu Vinh, Đoan Trang, Thùy Linh...Họ có thể là trong số vài chục triệu người đã ký tên "đồng ý" vào bản dự thảo hiến pháp mà chính quyền mang đến tận nhà và yêu cầu họ ký. Họ có thể là đảng viên, là trí thức, là công nhân, là nông dân, là sinh viên... là những người chưa ký vào đâu những đã ký từ trong lòng. Đám đông ấy đang tạm thời im lặng. Nhưng một khi họ lên tiếng thì đa nguyên đa đảng tất nhiên phải trở lại trong sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Vì đó là điều tất yếu mà ngay cả Karl Marx, tổ sư của cộng sản cũng thừa nhận rằng: Tự nhiên cũng như xã hội luôn vận động trong mối quan hệ đa nguyên. HNC HUYNH NGOC CHENH  
......

Cuộc Chiến Cho Quyền Tự Do Báo Chí Đăng Diễn Ra Khá Cam Go Tại Việt Nam

Năm 1988, tiến sĩ Hà Sĩ Phu viết khảo luận "Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ" được bạn bè phổ biến ra dưới dạng bản photocpy rồi chuyền tay nhau đọc. Bài biên khảo của ông vạch ra những điểm sai trái trong lý luận của chủ nghĩa Mác Lenin đã đón nhận sự đồng tình của giới học thuật và gây ra tiếng vang lớn trong dư luận thời ấy. Ngay sau đó, Ông bị nhà cầm quyền chẳng những đã huy động báo chí và một đội ngũ lý luận đông đảo để công kích các bài viết của ông hơn một năm trời, mà còn bỏ tù Ông. Rồi sau khi ra tù, ông còn bị quản chế và bị bao vây canh giữ bao nhiêu năm nay. Lệnh quản chế của ông đã hết hiệu lực từ năm 2003 nhưng ông vẫn không được giải chế và cho đến tận bây giờ ai ra vào thăm ông đều bị an ninh theo dõi và tìm cách gây phiền hà. Ba blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải hợp với nhau thành Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do viết bài trên blog chống hành vi xâm lấn biển và ức hiếp ngư dân VN của nhà cầm quyền Bắc Kinh, giúp đỡ dân oan và người cô thế, phê phán các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên công quyền...liền bị bắt giam và kết án nhiều năm tù.   Nhà báo Phạm Chí Dũng đồng thời là cán bộ của văn phòng thành ủy TP HCM, từ năm 2011 đã viết nhiều bài báo xuất sắc phân tích tình hình kinh tế chính trị xã hội đăng trên các trang web trong và ngoài nước được dư luận đánh giá cao. Cuối năm 2012 ông bị bắt giam với cáo buộc tuyên truyền chống phá nhà nước và cung cấp tài liệu phản động cho báo chí nước ngoài. Mới đây ông đã được tại ngoại và sau đó được đình chỉ điều tra vì không tìm ra các bằng chứng chống lại ông.    Sinh viên Nguyễn Phương Uyên không viết blog, em chỉ viết những câu ngắn biểu lộ tình cảm của em trước hành vi xâm lấn biển đảo VN của nhà cầm quyền Trung cộng trên các tờ giấy rồi mang đi phổ biến liền bị an ninh bắt cóc, tống giam trái phép nhiều ngày. Trước đòi hỏi của gia đình và của dư luận, công an tỉnh Long An mới tổ chức họp báo thông báo rằng em bị bắt vì liên quan đến việc rãi truyền đơn chống chế độ. Đến nay sv Nguyễn Phương Uyên vẫn còn bị giam giữ để chịu sự điều tra xét hỏi.   Đó là ba trong nhiều trường hợp công dân, nhà báo, blgger VN bị đàn áp vì tìm cách nói lên chính kiến và tình cảm của mình một cách ôn hòa trong vòng 10 năm trở lại đây khi mà những ý kiến đó không được đăng tải trên bất kỳ tờ báo nào vì toàn bộ các cơ quan truyền thông đều thuộc nhà nước và bị kiểm soát chặt chẽ bởi đảng cầm quyền.   Theo thống kê, đến nay có khoảng 700 cơ quan báo đài được phép hoạt động ở VN, hầu hết đều là của các cơ quan đảng CSVN, cơ quan nhà nước và các hội đoàn quần chúng của đảng cầm quyền. Đứng đầu các cơ quan nầy là những đảng viên tin cẩn và hàng tuần phải dự họp để nhận những chỉ đạo trực tiếp từ cơ quan tư tưởng đầu não của đảng. Tiếng nói của người dân không đúng với đường lối của đảng CSVN thì không bao giờ được đăng tải trên những ấn phẩm của các cơ quan báo đài nầy.   Tự do ngôn luận của người dân hầu như bị triệt tiêu vào thời điểm internet chưa xuất hiện ở VN.   Sau khi Internet được phổ biến và trong vòng 10 năm trở lại đây, khi các trang web và blog ra đời, tự do ngôn luận của người dân dần được cải thiện. Những tiếng nói phản biện xuất hiện ngày càng nhiều cùng với giới blogger. Có nhiều trang blog uy tín có trên 100.000 lượt người vào đọc mỗi ngày, có thể kể ra đây như: Osin, Ba Sàm, Quê choa, Bauxite Việt Nam, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Tường Thụy, Người Buôn Gió, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất...Những trang blog nầy cùng hàng chục trang khác như Tô Hải, Thùy Linh, Đoan Trang, Mai Xuân Dũng, Giang Nam Lãng Tử, Bùi Thị Minh Hằng, Lê Hiền Đức, JB Nguyễn Hữu Vinh, Bùi Văn Bồng, Xuân Việt Nam, Hoàng Xuân Phú, Nguyễn Đức Kiên, Bà Đầm Xòe, Đào Tuấn, Nguyễn Thông, Mạnh Quân, Nhật Tuấn, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Hồng Sơn…đã tạo nên một hệ thống báo chí đa dạng, tồn tại song song bên cạnh hệ thống báo chí của đảng cầm quyền, được người dân yêu quý gọi là "báo lề dân".    Tuy nhiên hệ thống “báo lề dân” nầy xuất hiện không bao lâu đã phải đối đầu với những thách thức. Một số chủ blog bị gây khó dễ, bị mời làm việc, bị côn đồ hành hung quậy phá. Một số blog phải đóng cửa, một số blog khác bị ngăn chặn tường lửa, bị hacker đánh phá liên tục.   Quyền tự do ngôn luận mà người dân vượt qua sợ hãi, vượt qua các thách thức để vươn tới đang bị ngăn chặn quyết liệt.   Tuy nhiên không vì thế mà tiếng nói của người dân bị dập tắt. Bị chặn tường lửa thì giúp nhau tìm cách vượt tường lửa, trang nầy bị hack thì chủ blog lập ngay trang khác, blogger nầy bị đàn áp thì có ngay những blogger khác lên tiếng bênh vực, blogger nầy bị bắt liền xuất hiện hàng loạt blogger khác mạnh mẽ hơn. Ngay cả những người bị bắt bớ, bị bỏ tù thì sau khi ra tù họ lại tiếp tục chiến đấu bền bỉ và quyết liệt hơn. Bùi Hằng, Hà Sĩ Phu, Phạm Chí Dũng…đã viết nhiều bài báo mạnh mẽ và sâu sắc hơn sau khi đã ra khỏi nhà giam.   Cuộc chiến cho quyền tự do báo chí và những quyền con người khác đang tiếp tục diễn ra trong cam go.  HNC   Nguồn: http://huynhngocchenh.blogspot.com/2013/05/cuoc-chien-cho-quyen-tu-do-bao-chi-ang.html#more
......

Tin đồn đã được xác nhận

Tin đồn về ông Nguyễn Thiện Nhân và bà Nguyễn Thị Kim Ngân được bầu bổ sung vào bộ Chính trị đã được truyền thông chính thống xác nhận. Như vậy TTXVN đưa tin sau TTX vỉa hè đúng 1 tuần. Từ đây chẳng hiểu TTXVN và truyền thông chính thống có để làm gì? Để xác nhận tin của TTX vỉa hè sau đến một tuần? Lẽ ra TTXVN chỉ cần đưa tin: TTXVN được quyền tuyên bố tin về hội nghị TW7 của TTX vỉa hè đưa tin ngày 4-5-2013 là hoàn toàn chính xác. Ông Nguyễn Bá Thanh đã không thể kiếm được cái ghế vào bộ Chính trị, khiến ban Nội chính trở nên một thứ vô quyền, vô lực, chắc chỉ đủ sức hốt mấy bà bán gà, bán cá ở chợ Đồng Xuân. Có thể nói Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thất bại liên tiếp ở hai hội nghị TW 6 và 7, khi ban chấp hành TW đã quyết khác với đề nghị của Tổng Bí thư và bộ Chính trị. Thật ra, điều này cũng không quá khó hiểu bởi vì đó chính là nhược điểm chết người của cơ chế dân chủ. Đó là hiện tượng "sự chuyên chế của đa số" mà các nhà tư tưởng về chính trị học đã chỉ ra từ lâu. Lenin khi xây dựng đảng Cộng sản đã lợi dụng chính hiện tượng "sự chuyên chế của đa số" làm bàn đạp chống đối thủ và thâu tóm quyền lực, gọi là cơ chế "dân chủ tập trung". Thực chất, cơ chế dân chủ tập trung chính là yếu tố nghiêm trọng chống và phá dân chủ và tạo thành sự chuyên chế của đa số, thậm chí có thể dẫn tới sự chuyên chế của cá nhân như lịch sử của nhiều Đảng Cộng sản trên thế giới cho thấy. Đáng tiếc, ông Nguyễn Phú Trọng chỉ được học ở AON về xây dựng Đảng nên chỉ biết dân chủ tập trung, không biết nhược điểm chết người "sự chuyên chế của đa số" mà các nhà chính trị học trên thế giới đã chỉ ra từ rất lâu. Chuyện ông Nguyễn Phú Trọng thất bại ở hai hội nghị TW liên tiếp cho thấy đang có khủng hoảng chính trị ở Việt Nam, khi Tổng Bí thư trên danh nghĩa là người nắm quyền lực cao nhất, nhưng trên thực tế những đề nghị của ông lại  không được chấp nhận. Khủng hoảng chính trị như vậy cũng vẫn xảy ra ở các nước dân chủ, khi Tổng thống đề xuất nhưng Quốc hội không chấp nhận. Tùy theo mức độ mà thỏa hiệp giữa Tổng thống và Quốc hội có thể dàn xếp. Trong nhiều trường hợp khi bất đồng không thể dàn xếp được thì cơ chế dân chủ cho phép Tổng thống giải tán Quốc hội và bầu một Quốc hội mới. Nhưng giải quyết khủng hoảng như vậy chỉ có thể làm được khi Tổng thống và Quốc hội đều được dân bầu trực tiếp. Tổng Bí thư và bộ Chính trị do TW Đảng bầu ra, nhưng TW Đảng lại không chấp nhận các đề nghị của Tổng Bí thư và bộ Chính trị, cho thấy khủng hoảng chính trị trong cơ chế dân chủ tập trung không thể giải quyết được như trong các chế độ dân chủ. Sự tồn tại của Tổng Bí thư và bộ Chính trị như vậy không còn mấy ý nghĩa. Với khủng hoảng chính trị như vậy Việt Nam không sớm thì muộn sẽ ở trong chế độ độc tài cá nhân, bất kể là hiển minh hay giả tá ở hình thức nào đó, trừ phi có những thay đổi cơ bản về chế độ diễn ra.  http://donga01.blogspot.com/2013/05/tin-on-uoc-xac-nhan.html
......

Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 19 "Ngày Nhân Quyền Cho VN"

Hôm thứ Năm mùng 9 tháng Năm (2013) này, Cộng đồng VN vùng Thủ đô Washington, Maryland và Virginia phối hợp với Tổ Chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản cùng Hệ Thống Đài Truyền Hình SBTN tổ chức Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 19 "Ngày Nhân Quyền Cho VN". Ông Daniel Baer, phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động, phát biểu tại Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 19 "Ngày Nhân Quyền Cho VN", hôm 9/5. Photo: RFA   Nhạc sĩ Trúc Hồ SBTN Theo Ban Tổ Chức thì buổi lễ kỷ niệm Ngày Nhân Quyền Cho VN năm 2013 này, diễn ra tại Trụ sở Thượng Viện Hoa Kỳ, nhằm áp lực nhà cầm quyền Hà Nội trả lại những nhân quyền căn bản cho người dân Việt; trả tự do cho các nhà bất đồng chính kiến, các lãnh tụ tôn giáo đang bị giam cầm; tố cáo trước công luận quốc tế việc Hà Nội hiến đất, dâng biển cho ngoại bang; vận động Lập pháp và Hành pháp Mỹ áp lực VN thêm nữa để chấm dứt hành động đàn áp phong trào dân chủ quốc nội; và nhân dịp lễ kỷ niệm này, người Việt hải ngoại bày tỏ tình đoàn kết chặt chẽ, sát cánh với đồng bào trong nước trong công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, tự do, dân chủ cho quê hương VN. Nhân danh Trưởng Ban Tổ Chức, ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch Cộng đồng VN vùng Thủ đô Washington, Maryland và Virginia lên tiếng chào mừng quan khách. Thông điệp mà ông Đoàn Hữu Định gởi đi trong "Ngày Nhân Quyền Cho VN năm 2013" này như sau:   “Nhân Ngày Nhân Quyền Cho VN hôm nay, tôi muốn nói là xin tất cả mọi người – các đồng hương hải ngoại cũng như ở trong nước, nếu có nghe được lời kêu gọi này, thì hãy nói lên những đòi hỏi mà hiện chính phủ Hà Nội không có cho đồng bào ở trong nước. Chuyện quan trọng nhất là tiếng nói của quý vị trong nước bị ngăn chận thì ở hải ngoại này, chúng tôi sẽ chuyển đến tất cả những nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, cho họ biết rằng VN cần phải sự thay đổi dựa trên vấn đề nhân quyền mà VN hiện chưa có, khi nhà cầm quyền tiếp tục đàn áp rất nặng đối với những tiếng nói đối lập, đối kháng.”   Phát biểu cho "Ngày Nhân Quyền Cho VN lần thứ 19", TNS John Cornyn, người bảo trợ buổi lễ năm nay, tác giả của Dự Luật VN Human Rights Acts có biện pháp chế tài do vi phạm nhân quyền, lưu ý rằng thành tích nhân quyền VN hiện tồi tệ hàng đầu, và ông đề nghị đưa VN trở lại danh sách CPC – những nước cần quan tâm đặc biệt vì đàn áp tôn giáo. TNS Cornyn nhân tiện ca ngợi người Việt hải ngoại tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Nhân Quyền Cho VN, góp phần xúc tiến nhân quyền cho VN.   Quan khách tham dự Lễ Kỷ Niệm Năm Thứ 19 Ngày Nhân Quyền Cho VN, hôm 9/5. RFA PHOTO.   Lên tiếng nhân dịp kỷ niệm này, Dân Biểu Leslie Byrne, tác giả Nghị quyết House Resolution 333 mở đường cho Công Luật Tổng Thống ấn định "Ngày Nhân Quyền Cho VN" 11 tháng Năm hàng năm, cho biết:   “Sự thật là tình hình nhân quyền trên thế giới, ở mức dộ nào đó, trở nên tồi tệ hơn, bởi vì chúng ta không thể chấp nhận những gì diễn ra. Hồi năm 2005, chính phủ Hoa Kỳ thương luợng với VN về thương mại nhưng lại không đòi hỏi VN gì cả. Hoa Kỳ cho VN nhiều quyền lợi thương mại, chỉ nói rằng sẽ giúp VN giầu có hơn – cũng giống như trường hợp đối với TQ. Và một lần nữa, chính phủ Hoa Kỳ lại thương lượng với VN, nhưng không  đòi hỏi gì cả về nhân quyền. Đó là lý do tại sao phải có Nghị Quyết về Nhân quyền VN. Phía chính phủ bảo chúng ta ngồi yên, chúng ta phải đứng dậy; Chính phủ bảo chúng ta yên lặng, chúng ta phải nói to lên.”   Hiện diện trong "Ngày Nhân Quyền Cho VN" năm nay có đại diện cao cấp của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Daniel Baer, phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động. Ông cho rằng điều quan trọng là chính phủ Hoa Kỳ vẫn bày tỏ cam kết về tự do, nhân phẩm tại VN, và cả những nơi khác trên thế giới. Ông nhân dịp này bày tỏ vui mừng khi thấy những bạn bè, các đại diện cộng đồng VN khắp Hoa Kỳ và trên thế giới cảm nhận sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với giá trị dân chủ, nhân quyền. Phó Trở Lý Ngoại trưởng Mỹ khẳng định rằng chính phủ Obama tiếp tục cam kết duy trì truyền thống đó. Ông cũng không quên lưu ý về mối quan hệ Mỹ-Việt mà ông cho là “năng động”, và nhờ diễn tiến bình thường hoá bang giao mà mối quan hệ giữa nhân dân 2 nước đã được cải thiện, mức sống của người dân VN được nâng cao, dân chúng sung túc hơn, được học hành hơn, hiểu biết về thế giới bên ngoài nhiều hơn. Nhưng, phó Trợ Lý Ngoại trương Daniel Baer nhấn mạnh:   Đại ý rằng vẫn còn một yếu tố quan trọng nhưng VN lại tụt hậu, và đó là lý do tại sao mọi người lại gặp nhau trong Ngày Nhân Quyền Cho VN hôm nay. Theo ông Baer, thì dù VN trở nên hưng thịnh hơn trước, nhưng người dân Việt vẫn chưa hưởng được nhân quyền mà toàn cầu công nhận cũng như những quyền tự do căn bản của con người.   Hiện diện tại buổi lễ kỷ niệm Ngày Nhân Quyền Cho VN 2013, Tổng Giám đốc Đài ACTD, bà Libby Liu, nói chung phát biểu rằng bà cảm thấy buồn trước tình hình nhân quyền tại VN trong lúc này khi người dân phải hàng ngày đối mặt với tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng, bị đàn áp tín ngưỡng, tự do, dân chủ, bị cưỡng chiếm đất đai, bị nạn buôn người, bị những phiên toà giả dối khiến lãnh những bản án năng nề, nhất là giới bloggers. Nhưng tinh thần chiến đấu dũng cảm của những nhà dân chủ, của người dân VN “đã truyền cảm hứng cho Đài ACTD. Tổng Giám Đốc Libby Liu nhấn mạnh:   Bà Libby Liu, tổng giám đốc đài Á Châu Tự Do có bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm ngày nhân quyền Việt Nam 11/5 được tổ chức ở Washington DC hôm 9 tháng 5 năm 2013. RFA PHOTO.   “Tôi muốn kết luận rằng mọi vụ bắt bớ, mọi án tù khắc nghiệt, mọi cuộc trừng phạt, hăm doạ hay kiểm duyệt thông tin, thì Đài ACTD chúng tôi sẽ có mặt vì người dân VN.”   Nhân Ngày Nhân Quyền Cho VN, BS Nguyễn Quốc Quân, Chủ tịch Tổ chức Quốc tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản, trụ sở tại Virginia, Hoa Kỳ muốn mượn diễn đàn này tại Trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ để nhấn mạnh rằng:   “Thứ nhất là tình trạng nhân quyền VN phải nói là tồi tệ hơn trước. Thứ hai là chúng tôi muốn vận động dư luận quốc tế cùng sự ủng hộ của chính giới Hoa Kỳ đối với công cuộc cuộc vận động, tranh đấu đầy chính nghĩa của dân tộc VN đòi tự do, dân chủ một cách ôn hoà và bất bạo động. Điều thứ ba mà chúng tôi muốn nói với đồng bào trong nước rằng những người Việt hải ngoại không quên những người anh em đang tranh đấu trong nước mà chúng tôi đang có gắng hoạt động, phối hợp với anh em trong nước để đẩy mạnh công cuộc tranh đấu của chúng ta. Điểm cuối cùng chúng tôi muốn nói là xu thế thời đại cũng như điều kiện thuận lợi cho sự thay đổi đang diễn tiến ở VN. Chúng ta cần nắm lấy cơ hội này để xúc tiến hầu giúp cho công cuộc tranh đấu của chúng ta được thành công mỹ mãn.”   BS Đỗ Văn Hội, Chủ tịch Hội Đồng Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Liên Bang Hoa Kỳ phát biểu:   “Ngày hôm nay là Ngày Nhân Quyền Cho VN đã được Lập pháp và Hành pháp Mỹ công nhận. Ngày Nhân Quyền hôm nay, chúng ta sẽ nói lên tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng tại VN, từ đó, cho thế giới biết rằng nước VN cần phải có tự do, dân chủ, và người dân trong nước thấy được ý chí của người Việt hải ngoại cũng như sự ủng hộ của giới lập pháp, hành pháp của Hoa Kỳ, và cả thế giới, đối với vấn đề tự do dân chủ ở VN. Và người Việt chúng ta phải hãnh diện với vì Ngày Nhân Quyền Cho VN chỉ có VN chúng ta có được mà thôi. Trên thế giới không có nước nào có được Ngày Nhân Quyền tại nước Mỹ như vậy. Chắc chắn nhân quyền sẽ đến với VN trong một ngày rất gần.”   Thưa quý vị, nói chung, nhiều diễn giả tại buổi Lễ Kỷ Niệm Ngày Nhân Quyền Cho VN năm 2013, từ TNS, DB tới đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế, đại diện các cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể VN hải ngoại, đại diện các phái đoàn sắc tộc bạn, đều lên án nhà cầm quyền VN ngày càng vi phạm nhân quyền trầm trọng, lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ công cuộc đấu tranh cho nhân quyền, tự do, dân chủ tại VN, cũng như bày tỏ tin tưởng mục tiêu ấy sẽ sớm thành hiện thực, kêu gọi đưa VN trở lại danh sách CPC… trong bối cảnh giới cầm quyền VN tiếp tục đàn áp nhân quyền, bất chấp công luận thế giới. Nhân "Ngày Nhân Quyền Cho VN" lần thứ 19 này, BS Nguyễn Đan Quế, nhà bất đồng nổi tiếng và là sáng lập viên Cao Trào Nhân Bản, gởi thông điệp qua Đài ACTD, như sau:   “Nhân dịp này chúng tôi gởi đến tất cả anh em đang tranh đấu, tất cả đồng bào Việt Nam ở trong nước cũng như tất cả đồng bào Việt Nam ở hải ngoại, ngày nhân quyền Việt Nam là cây cầu nối lịch sử thiêng liêng và hiệu quả để đoàn kết Việt Nam trong nước và ngoài nước trên một cơ sở rất là rõ ràng. Tất cả chúng ta dù là con Hồng cháu Lạc ở trong nước hay đang tha phương đều có chung một mục đích là muốn Việt Nam có nhân quyền, có dân chủ.”   Thanh Quang tường thuật từ trụ sở Quốc Hội Hoa Kỳ.   nguồn:http://www.rfa.org/vietnamese/      
......

Ngẩng Mặt, Không Cúi Đầu

Những người làm thơ nhiều khi không nói thẳng ý kiến của mình, mà nói ngược lại. Thí dụ, blog của Nguyễn Trọng Tạo mới đăng một bài của nhà thơ Gia Hiền, mở đầu như thế này: Thế hệ tôi, một thế hệ cúi đầu Cúi đầu trước tiền tài, cúi đầu sau mông người khác Cúi đầu trước chính mình, cúi đầu bạc nhược Chỉ ngẩng đầu... ... vì... ... đôi lúc... ... phải cạo râu! Nghe mấy câu thơ này thì có vẻ nản thật. Nhà thơ đang viết về những người “thế hệ tôi ba mươi tuổi đã già - và bốn chục thế là đời chấm dứt.” Nhưng có thật là thế hệ của Gia Hiền chịu cúi đầu, bạc nhược hay không? Nhiều thi sĩ viết thế mà người đọc phải nghĩ ngược lại. Như trong bài Tự Phận Ca của Nguyễn Cao, một nhà Nho vào thế kỷ 19, tác giả tự nói về mình như thế này: ta thành người mà thân thể yếu đuối Ðã chẳng bằng con ngựa câu ngàn dặm dọc ngang Lại chẳng bằng con le le sông hồ rong ruổi.” (Ta ta tạo vật hề dĩ ngã vi sinh - Dữ ngã dĩ trí nhi đoản kỳ chí - Dữ ngã dĩ thành nhi bệnh kỳ hình - Ký bất năng vi câu chi ngang ngang thiên lý - Hựu bất năng vi phù chi phiếm phiếm trung hành). Chúng ta biết Tán Cao (chức sau cùng cụ giữ là Tán Tương Quân Vụ Bắc Kỳ) là một nhà Nho người Bắc Ninh khí tiết lẫm liệt. Ðỗ đầu kỳ thi hương năm 39 tuổi (1867), ông không muốn bước vào chốn quan trường, chịu sống nghèo nàn, về dậy dỗ đám trẻ trong làng. Nhưng khi quân Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1873, ông hô hào thanh niên cùng nhau lập đội quân nghĩa dũng, theo Nguyễn Thiên Thuật đánh giặc ngoại xâm trong hơn 10 năm trời, cho tới khi bị bắt. Nguyễn Cao viết Tự Phận Ca chỉ nói đến thân phận mình; còn Gia Hiền nói về cả một thế hệ. “Thế hệ tôi, cơm áo gạo tiền níu thân sát đất Cuộc sống bon chen Tay trần níu chặt Bàn chân trần không dám bước hiên ngang. Thế hệ tôi, nhận quá nhiều những di sản hoang mang Ðâu là tự do, đâu là lý tưởng? Ðâu là vì mình, và đâu là vì nước Những câu hỏi vĩ mô cứ luẩn quẩn loanh quanh...” Bài thơ kết thúc rất buồn: Trăm năm sau, lịch sử sẽ ghi vài dòng vắn tắt: Có một thế hệ buồn, đã nhạt nhẽo đi qua... Nhưng người đọc vẫn nghĩ khác. Vì khi một người, hay một thế hệ đã ý thức được cảnh cúi đầu của mình, thì chắc chắn thế hệ đó, con người đó sẽ biết mình phải ngẩng mặt lên. Nói đến “ngẩng mặt” thì lại phải nhớ đến Nguyễn Ðắc Kiên, một thanh niên sống cùng thế hệ với Gia Hiền. Tập thơ và văn ông mối xuất bản mang tên “Hãy Ngẩng Mặt,” một bài thơ tặng những người đi biểu tình vì Hoàng Sa, Trường Sa vào Tháng Bẩy năm 2012: Hãy ngẩng mặt lên cho tôi thấy đôi mắt bạn không cần hò hét xin hãy cứ lặng im Ðất mẹ có nói gì đâu Ðất mẹ biết hết rồi. Anh lại viết thêm bài thơ nữa tặng những người đi biểu tình vì Hoàng Sa, Trường Sa vào tháng 12 năm 2012: “Nếu một ngày tôi phải vào tù thì chắc chắn là nhà tù cộng sản bởi vì tôi khao khát tự do.” Nguyễn Ðắc Kiên cảm thấy được tiếng nói của Ðất Mẹ, như khi nghe tiếng khóc của một người đàn bà đau khi con sắp ra đời mà cảm thấy đất nước ta lại sắp hồi sinh: “Chẳng sinh linh nào chào đời trên trái đất lại không mang theo nỗi đau của mẹ lúc trở cơn Cơn đau đẻ nước.” Những câu thơ bi thương của Gia Hiền cũng diễn tả một nỗi đau đớn của thế hệ anh, chung trong tiếng khóc của “Cơn đau đẻ nước” mà Nguyễn Ðắc Kiên đang nghe thấy. Ðúng như nhận xét của nhà thơ Allama M. Iqbal người Pakistan viết trước khi quốc gia này ra đời: “Các dân tộc sinh ra từ trái tim của các thi sĩ.” Chúng ta đang nghe thấy những câu thơ báo hiệu nước Việt Nam sắp hồi sinh. Dấu hiệu hồi sinh còn thấy trong hành động của những người cùng thế hệ đã đi biểu tình phân phát các bản tuyên ngôn quốc tế về quyền làm người; ở Sài Gòn có Nguyễn Hoàng Vi, Vũ Sỹ Hoàng;  tại Hà Nội có Bùi Thị Minh Hằng. Họ chứng tỏ đây là một “thế hệ không cúi đầu.” Thế hệ thanh niên ngày nay sẽ không chịu cúi đầu; sẽ không hổ thẹn với tiền nhân. Nguyễn Ðắc Kiên viết những câu thơ quả quyết “độc đảng là sai,” “dân chủ tự do là quyền của con người”: “nếu có một bức tường Hà Nội như Béc-Lin ta sẽ sô đổ Hà Nội sẽ vẫn còn như Béc-Lin bức tường đã đổ. họ cũng như mình, họ cũng đã từng sai.” Chúng ta có thể tin rằng bất cứ thế hệ nào của dân tộc Việt Nam cũng có những người không chịu cúi đầu. Vì chúng ta cùng một dòng dõi với nhà Nho Nguyễn Cao đời trước. Bài Tự Phận Ca ông viết trước khi tự sát năm 1887, để nói lên nỗi ân hận không đánh đuổi được quân xâm lăng. Khi bị giặc Pháp bắt, họ dụ dỗ ông hãy chấp nhận chế độ bảo hộ để mời làm quan, ông đã khẳng khái từ chối. Ông đã tự mổ bụng ra cho quan quân Pháp thấy “gan ruột” mình, rồi nói: “Lòng dạ tôi như thế này đây!” Sau đó ông nhịn ăn, không chịu cho họ chữa thương, rồi chết. Nguyễn Cao đã noi gương Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu. Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương cũng noi gương Ðặng Dung, Trần Bình Trọng. Ðúng là “Hào kiệt đời nào cũng có.” Trong bài Tự Phận Ca Nguyễn Cao trước khi chết đã nhớ đến các tấm gương hào kiệt đời xưa: Kiếm núi Sóc (Phù Ðổng Thiên Vương), Câu thơ đọc ở trên không (Lý Thường Kiệt), và cọc nhọn ở sông Bạch Ðằng (Trần Quốc Tuấn) - nguyên văn - Sóc chi kiếm! Không chi thi! Ðằng chi thung!   Nguồn: Ngô Nhân Dụng, Người Việt
......

Dân chán đảng – Lãnh đạo tuột dốc ở Việt Nam

(VNC) Hội nghị Trung ương 7 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), từ 02 đến 11 tháng 05 (2013), đã lộ ra những bất ổn trong nội bộ ngày một nghiêm trọng và uy tín lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xuống thấp trước giữa nhiệm kỳ 5 năm. Bằng chứng  đã tập trung vào 4 lĩnh vực  trong Bài diễn văn khai mạc Hội nghị của ông Trọng: -Thứ nhất, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở lỏng lẻo, chồng chéo, rườm rà, tự duy cán bộ, đảng viên chậm đổi mới, tiếp tục đùn đầy trách nhiệm và vô trách nhiệm.   -Thứ hai, Đảng không nắm được dân, dân ngày một xa đảng, thù ghét cán bộ. -Thứ ba, Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đã thất bại, các tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền tiếp tục lan rộng. Suy thoái tư tưởng và mất phẩn chất chưa có dấu hiệu suy giảm. -Thứ 4, Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược gặp khó khăn, các phe nhóm lợi ích trong đảng, quân đội và công an tiếp tục lũng đọan, phá nhau để bảo vệ quyền lực, chống “đổi mới chính trị”. Vế điểm một, ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận sau hai khoá đảng IX và X, tổng cộng 10 năm, hệ thống lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn: “ Chưa được phát huy đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chậm được nâng cao; việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa mạnh, tình trạng "hành chính hóa " chậm được khắc phục ? Vì sao cải cách hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; bộ máy tổ chức và tổng biên chế vẫn tiếp tục phình to, nhất là ở cấp tổng cục, các đơn vị trực thuộc bộ và chính quyền cơ sở. Tình trạng "tách ra, nhập vào", "nhập vào, tách ra" vẫn lặp đi lặp lại.” Nhưng tại sao lại có tình trạng này sau  12 năm Việt Nam bắt đầu thực hiện cuộc Cải cách Hành chính (CCHC) từ 2001 ? Lý do chính và quan trọng nhất là “không ai muốn thay đổi vì thay đổi là thất thu cho bản thân và phe nhóm” nên người dân ở Việt Nam đã quen gọi “hành là chính” trong muôn vàn lọai giấy tờ và quyết định, nghị định dù Chính phủ biết không đem lại kết qủa cũng cứ ban hành để vừa làm vừa sửa rồi không sửa gì cả, để mặc cho dân chịu những hậu qủa ! Vì vậy, sau 10 năm “cải cách hành chính” từ 2001 đến 2010 (nhiệm kỳ đảng IX và X thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh), Chính phủ thừa nhận : “Tuy vậy, 10 năm thực hiện CCHC vẫn còn có những hạn chế, yếu kém như tốc độ chậm, kết quả chưa được như mục tiêu đặt ra: Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, vẫn chồng chéo, nhiều về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng; các đầu mối trực thuộc CP giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa giảm; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng; cải cách tài chính công mới chỉ là bước đầu, kết quả còn hạn chế...Đặc biệt, cải cách tiền lương vẫn còn chậm, lương chưa chưa trở thành động lực cho cán bộ, công chức phấn đấu và cống hiến.” (Báo ViệtNamNet, 02/04/2011)  Báo cáo tổng kết CCHC 10 năm cũng nhìn nhận một bộ phận cán bộ, công chức còn "thiếu trách nhiệm, chưa thạo việc, hạn chế về năng lực” nhưng số nhân viên vẫn mỗi ngày một nhiều thêm, thay vì bớt đi như kế họach đã đề ra. Trong một bài nghiên cứu Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Văn Thâm của Học Viện Hành chính Quốc gia viết: “Những tồn tại qua hơn 10 năm cải cách nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều. Có thể kể ra những tồn tại chính như sau: Bộ máy hành chính vẫn mang nặng nhiều dấu ấn cũ trong quá trình điều hành (quan liêu , bao cấp), không theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới, Cụ thể: - Chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; - Hệ thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất. Thủ tục hành chính vẫn còn nhiều điều rườm rà, nặng nề. Kỷ cương quản lý không nghiêm. Nạn lãng phí, tham nhũng không bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng trầm trọng; - Bộ máy vẫn còn cồng kềnh. Phương thức quản lý vừa quan liêu vừa phân tán. Không nắm hết được yêu cầu của dân. - Cơ chế tài chính không thích hợp. Công chức còn nhiều người yếu kém về năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng.” Ông Trọng thay ông Nông Đức Mạnh lãnh đạo đảng kể từ ngày 19/1/2011 nhưng những điều Giáo sư Nguyễn Văn Thâm nêu ra vẫn còn nguyên nên ông Trọng mới nói thêm trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 rằng: “Hoạt động của nhiều ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối vẫn lúng túng. Giữa các bộ, ngành vẫn còn một số nội dung quản lý nhà nước trùng lắp hoặc chưa được phân công cụ thể, rõ ràng. Việc phân cấp của Trung ương cho chính quyền địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới nhìn chung chưa thật hợp lý; có lĩnh vực quá rộng, thiếu sự kiểm tra, giám sát, ảnh hưởng đến sự quản lý thống nhất cả nước; có lĩnh vực lại quá hẹp, không phát huy được quyền chủ động, tính năng động, sáng tạo của địa phương. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện sau khi sắp xếp lại tuy có giảm đầu mối trực thuộc ủy ban nhân dân nhưng lại tăng các đơn vị bên trong các sở, ngành. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vị trí, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Vấn đề biên chế, phụ cấp cho cán bộ cơ sở vẫn chưa có lời giải thấu đáo. Số các hội quần chúng được lập mới vẫn tăng nhanh, một số hội đề nghị có biên chế cán bộ, công chức và hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước...” Như thế rõ ràng là cả hệ thống cầm quyền từ Trung ương xuống cơ sở đã chưa làm theo quyết định của Bộ Nội vụ khi tổng kết 10 thi hành CCHC và đề ra nhiệm vụ cho 5 năm (2011-2016).   Báo cáo do Tiến sỹ Vũ Văn Thái, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Biên chế, Bộ Nội vụ đề ra các nhiệm vụ này gồm:   - Nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đáp ứng tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng XI và tạo cơ sở pháp lý để cải cách cơ bản hơn hệ thống các cơ quan hành chính các cấp. - Xây dựng đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ khoá XIII theo yêu cầu, nâng cao hàm lượng cải cách để tổ chức được tinh gọn, hợp lý hơn. Theo đó, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thống nhất với cơ cấu tổ chức Chính phủ sau khi được điều chỉnh, sắp xếp lại. - Xây dựng, hoàn thiện thể chế tổ chức bộ máy, đặc biệt là ban hành Nghị định quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; các Nghị định riêng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ, nhất là đối với những bộ được sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức. -Tiếp tục rà soát, điều chỉnh việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực giữa Trung ương và địa phương theo yêu cầu giảm mạnh quan hệ “xin - cho” trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. -Nghiên cứu hình thành một cơ quan ngang tầm để thực hiện chức năng chủ sở hữu, và giám sát hoạt động đối với các doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện việc tách căn bản giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý của doanh nghiệp. -Hoàn thiện cơ chế quản lý đối với khu vực sự nghiệp công, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công. -   Đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn với giảm quan hệ “xin – cho” và kiểm soát thủ tục hành chính, trong việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy, liệu thời gian còn lại chỉ còn hơn 2 năm sẽ đến Đại hội đảng XII (nhiệm kỳ 2016-2021), đảng có đủ thời giờ để làm sạch mình và canh tân guồng máy cai trị không ? Và nếu không (phần nhiều là không) thì hậu qủa của “hệ thống chính trị” sa lầy này sẽ đưa dân đi về đâu ? Ngay trong trường hợp Hội nghị Trung ương 7 có “sáng kiến” cho đảng và luôn để giúp bản thân 200 Ủy viên thì cũng để nằm trên giấy, khó mà biến thành hiện thực như đã chứng minh từ bấy lâu nay. DÂN VẬN HAY LÀM CHO DÂN GIẬN ? Về công tác “Dân vận”  ông Trọng thắc mắc : “Vấn đề đặt ra là vì sao lúc này chúng ta lại phải bàn về đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận ? “ Không có gì khó hiểu cả. Nếu ông Trọng trả lời được tại sao cái gì đảng cũng nói là “của dân, do dân và vì dân” mà đảng và cán bộ, đảng viên nắm tất cả và có tất cả còn dân thì trắng tay ? Đảng nói “nhân dân làm chủ” nhưng lại để cho Nhà nước “qủan lý cái dân làm chủ” như không cho dân được quyền tự do ứng cử, bầu cử, tự do lập hội, tự do biều tình, tự do ra báo và tự do thờ phượng và hành đạo, không cho dân có quyền làm chủ ruộng vườn do cha ông đã dầy công khai phá để lại thì làm sao mà đảng nói dân nghe lọt lỗ tai ? Đảng và ngay cả Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã nhiều lần kêu gọi dân giúp đảng vạch mặt, chỉ tên những kẻ có chức, có quyền đã đục khoét công qũy, rút của mồ hôi nước mắt của dân để thanh toán “quốc nạn” tham nhũng, và truy tố những kẻ áp bức, đe dọa dân nhưng lại không dám bảo vệ dân để không bị kẻ ác trù dập thì có ai dám “đưa đầu ra cho chúng báng” ? Lại nữa, khi người dân bị lấy đất, bị cưỡng chế bằng bạo lực thì nhà nước lại bênh vực kẻ có tiền, chủ đầu tư để mặc cho dân bị mất công bằng và bị bóc lột đến trắng tay bại sản thì nhân dân tin ai ? Đấy cũng là nguyên do của các vụ người dân đã không ngại đường xa, nằm đường xó chợ về tận Trung ương, ăn vạ trước Nhà các Lãnh đạo để khiếu kiện đông người, hoặc phải tấn công vào các Trụ sở Ủy ban Nhân dân để đòi công bằng đã diễn ra khắp nước chỉ vì các cấp chính quyền đã đùn đẩy cho nhau đến vô cảm trước đau khổ, đói nghèo của dân. Ngay đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân chống mọi mưu toan chiếm đất, chiếm biển Việt Nam của Trung Cộng mà nhà nước cũng ra tay đàn áp, bắt dân bỏ tù để làm hài lòng “các đồng chí anh em” Bắc Kinh thì làm sao mà dân không nghi ngờ trong đảng đã có những kẻ “nối giáo cho giặc” hoặc “cõng rắn cắn gà nhà” như lời cảnh báo của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang? Vì vậy, ông Nguyễn Phú Trọng đã “bắt trúng mạch” bất mãn của dân khi ông nhìn nhận: “Phải chăng là do bối cảnh, tình hình đã và đang có nhiều thay đổi. Bên cạnh mặt thuận lợi cơ bản, cũng xuất hiện không ít khó khăn, thách thức mới, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới và bản thân công tác dân vận hiện còn những hạn chế, yếu kém? ….Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân cực, phân tầng xã hội; những biến đổi về quan hệ lợi ích, hệ giá trị xã hội; sự cách biệt về kinh tế, xã hội… làm nảy sinh tiền đề của sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng…. Những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... đang làm tổn thương đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của nhân dân.” Ông Trọng nói đúng và trúng. Nhưng khi ông “chạy quanh” đổ vạ chuyện rối ren nội bộ, ruỗng rữa trong hàng ngũ là do “các thế lực thù đich” đã lợi dụng cơ hội để “nói xấu chế độ” và “bôi nhọ đội ngũ lãnh đạo” là ông không thành thật chịu trách nhiệm của một người lãnh đạo. Ông nói: “Lợi dụng những khó khăn của nước ta trên con đường phát triển, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hòa bình", xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nói xấu chế độ, bôi nhọ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tìm mọi thủ đoạn phân hóa nội bộ Đảng, kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.” Ông Trọng và các lãnh đạo Nhà nước hãy nghiêm chỉnh soi gương xem trên mặt mình có vết nhám nào không rồi hãy lên án những người chỉ trích mình thì có lẽ phải đạo hơn là cứ nhắm mắt che dấu những khuyết điểm của mình và của đồng chí để tạo nghi ngờ trong dân, trong khi không lo sửa mình như Nghị quyết Trung ương 4 đã đòi hỏi. CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC VÀ LÁ PHIẾU TÍN NHIỆM Điểm thứ ba, tuy ông Trọng nói dài về kết qủa 1 năm sau ngày thi hành Nghị quyết 4 về  "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" nhưng ông không “vớt vát” được những mất mát nghiêm trọng do chính ông gây ra tại Hội nghị Trung ương 6. Tại Hội nghị 6,  ông Trọng đã để cho các phe phái thao túng Ủy ban Trung ương đảng để  đưa đến việc không kỷ luật Bộ Chính trị và cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dù ông Dũng và một số người khác đã có “có biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó, đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.” Mặc dù tại Hội nghị 7 ông Trọng nhìn nhận “trong hơn một năm qua, dù thời gian còn ngắn, nhiều việc mới triển khai hoặc chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng được kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân…”, nhưng ông không lấy lại được niềm tin trong dân mà ông và Ban Chấp hành Trung ương đã đánh mất tại Hội nghị 6. Ông Trọng đã thất bại và uy tín của ông cũng đã xuống dốc như chiếc xe mất thắng sau hơn 2 năm lãnh đạo. Những điều ông “phân bua” trong Diễn văn khai mạc Hội nghị 7 về Nghị quyết 4 chỉ làm cho đảng viên và người dân đứng xa ông hơn. Do đó, những gì ông nói về công tác được gọi là “xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” cho niên khóa đảng XII (20016-2021) cũng không gây được ấn tượng gì trong nhân dân, nếu lấy kinh nghiệm “mánh mung, phe cánh, chạy chọt, đùn đầy, chia chác” đã diễn ra tại Đại hội đảng XI để soi gương. Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy ông Trọng đã rào đón rằng: “Đây là lần đầu tiên Trung ương tiến hành xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, chắc là không tránh khỏi những mặt còn hạn chế, chúng ta sẽ vừa làm vừa rút kinh nghiệm.” Nhưng Đảng đã có qúa nhiều kế họach, dự án kinh tế được gọi là “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” để sau đó đổ vỡ, lãng phí không biết bao nhiêu triệu tỷ đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân như  “phong trào mía đường”, “nhà máy xi-măng”, “bến cảng” đến “đánh bắt xa bờ”. Ngay cả “dự án khai thác Bauxite” trên Tây Nguyên cũng đang lâm vào ngõ bí thì có hy vọng gì trong dự án “quy họach cán bộ cấp chiến lược” cho tương lai đảng sẽ bảo đảm không xẩy ra nạn bè phái, bênh che, nể nang, chạy chọt của các “nhóm lợi ích” đang lũng đọan trong Quân đội, Công an và bộ máy kinh tế-tài chính ở Việt Nam? Ấy là chưa kể đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khai mạc ngày 20/5 (2013) sẽ có việc thảo luận việc “lấy phiếu tín nhiệm” 49 Chức danh do Quốc hội phê chuẩn. Nhiều lời cảnh giác trong dân về dự phòng sẽ có tình rạng “chạy chức chạy quyền”, “bỏ phiếu cho có lệ”,  “chín bỏ làm mười”, “nay anh mai tôi”, “cùng đồng chí với nhau” ai nỡ làm khó nhau, “chạy cửa hậu”  v.v… đã đến ngưỡng cửa Quốc hội. Các chức danh sẽ “bị” lấy phiếu  tín nhiệm tại Quốc hội gồm :  Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước. Nhưng từ khi “lấy phiếu” đến giai đoạn “bỏ phiếu tín nhiệm” còn dài. Theo dự kiến thì người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm”. Đây sẽ là cuộc trắc nghiệm mới mà 500 Đại biểu Quốc hội phải chứng minh với nhân dân xem họ có thật lòng muốn “đổi mới bộ mặt chính trị” của Việt Nam hay sẽ lại  tiếp tục đi theo đường cũ “đảng bảo sao tôi làm vậy” như từng xẩy ra trước đây. Vì vậy mọi con mắt ở Việt Nam đang tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội có ảnh hưởng đến địa vị chính trị của ông hay ông sẽ thoát khỏi thêm lần nữa như đã xẩy ra tại Hội nghị Trung ương 6 ? Phạm Trần (05/2013)
......

NGƯỜI ĂN MÀY TỰ DO

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".   Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ   Người ăn mày tự do Rất có thể là Đất Nước Có phải mẹ Âu Cơ lưng còng hình chữ S Chống gậy Trường Sơn Đeo bị rách Biển Đông Đi hành khất nhân quyền ?       Mẹ đòi quyền được nói lên sự thật Quyền được yêu nước mình Quyền không phải yêu nước khác Quyền được biểu tình Quyền được đả đảo bọn cướp nước Và bán nước   Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội bị ngăn cản   Trên xứ thiên đường “Trại súc vật” Những đám mây bị cùm Những dòng thác bị xiềng xích Người ngồi trong tù có thể tự do Người ở ngoài tù có thể bị nhốt   Ăn mày nhân quyền sao bị bắt ? Đêm đêm làm hành khất tự do Ai dã ngoại quyền con người bị đánh đập Máu đòi quyền sống có trời cho ?   Hỡi người mãi mãi đi ăn mày quyền được sống Rất có thể anh đã bị thủ tiêu (Ví dụ như Lê Trí Tuệ…) Có phải hồn anh theo gió Đêm đêm hồn hú cửa từng nhà   Hồn ăn mày gió xin được thở Hồn ăn mày người xin được kêu Hồn ăn mày nước xin được uống Hồn ăn mày tự do Hồn đòi quyền sống lại ?   Không ai có thể trả cho hồn Quyền được làm một người sống Một người không bị bịt miệng Một người không bị bịt mắt   Đêm đêm những cơn gió dại Vẫn bị ai bóp cổ ngoài đường…   Sài Gòn ngày 10-5-2013 Trần Mạnh Hảo
......

TÌNH MẸ TRONG THI CA

Kính dâng một bông hồng tưởng nhớ Mẹ   Chúa Jesus, Phật Thích Ca, Mohammed là những người con tâm linh của Thượng Đế đều chào đời trong vòng tay của mẹ. Thời xa xưa các dân tộc trên thế giới đã thờ mẹ. Người Ai Cập/Ägypten tôn vinh Đức mẹ Isis. Người Hy Lạp/Griechen thờ nữ thần Rhea được gọi là mẹ của các vị thần (Rhea có nghiã dòng nước của sự sống, „dòng nước là sữa mẹ đã nuôi con„. Người La Mã (Römern) thờ Kybele. Thiên Chúa tôn kính Đức mẹ Maria. Phật giáo thờ Phật bà Quan Âm. Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất trên thế giới nầy, truyền thống thờ mẹ kính cha đã in sâu vào tâm hồn của người dân Việt, gắn liền với văn hóa dân tộc.   Sánh công cha cao như núi, để thể hiện sự tôn kính Cha là cột trụ trong gia đình, nghiã Mẹ như nước trong nguồn bất tận, với sự tận tụy hy sinh yêu thương đùm bọc con cái không bờ bến...Người Tây phương thường gọi Vaterland / Fatherland để chỉ quê Cha, người Việt Nam mình gọi quê Cha, đất Tổ, và quê Mẹ, đất Mẹ, trường Mẹ, tiếng Mẹ đẻ. Người Hy Lạp cổ đại vào giữa tháng ba tổ chức lễ tôn vinh thần nữ Rhea. Anh quốc thực hiện ngày của Mẹ từ thế kỷ thứ 13 „Mothering Sunday" vào ngày Chủ Nhật thứ tư của mùa chay (vì nó được ban cho Đức Maria, mẹ của Chúa Kitô). Ngày lễ tưởng nhớ công ơn mẹ Muttertag/ Mother’s day theo lịch sử truyền thống ngày lễ của Mẹ ở Hoa Kỳ (cuốn American Book of Days) thì có trước thời nội chiến (Civil war)?   Bà Julia Ward Howe (1819-†1910), người viết lời quốc ca "The Battle Hymn of the Republic..", bà đề nghị một ngày của mẹ dành riêng cho hòa bình trong cuộc Nội chiến Nam Bắc. (là cuộc tranh chấp quân sự giữa Chính phủ Liên bang và 11 tiểu bang phiá Nam Hoa Kỳ từ ngày 12.04.1861 đến 9.04.1865. Bốn năm phân tranh làm 970.000 người chết, trong đó 620.000 là binh lính, gần hai phần ba do bệnh tật).  Bà Ann Maria Reeves Jarvis (1832-†1905) ở Virginia Philadelphia khởi xướng ngày Mother's Friendship Days (Mütter-Freundschaftstage) thành lập đội tình nguyện chăm sóc cho những người lính Mỹ bị thương ở cả hai chiến tuyến. Phong trào này của bà Ann Jarvis được đánh giá cao, nhưng không được phổ biến rộng rãi. Vào ngày 12 tháng 5 năm 1907 sau khi bà Ann Jarvis qua đời được 2 năm, người con bà là cô Anna Marie Jarvis (1864-†1948), vì nhớ thương Mẹ tổ chức lễ kỷ niệm ở nhà Thờ, cô kết những bông hoa màu trắng đẹp nhất dành cho Mẹ, và nói lên những lời yêu thương tưởng nhớ mẹ hiền.   Việc làm của cô Anna gây xúc động nhiều người có mặt trong thánh lễ và nhận thức được tầm quan trọng của người Mẹ đối với gia đình và xã hội. Nên vào ngày 10 tháng 5 năm 1908, sau đó 1 năm, những người trong Giáo hội quyết định tổ chức ngày lễ dành cho các bà Mẹ lần đầu tiên tại nhà thờ St. Andrew's Methodist Episcopal. Những người con thay phiên nhau gửi những lời chúc tốt đẹp và đầy yêu thương đến Mẹ của mình. Phong trào này ngày càng lan rộng ra nhiều tiểu bang khác của Mỹ. Mother's Day được công nhận lần đầu tiên năm 1910 là một ngày nghỉ chính thức tại Virginia. Đến năm 1914 Tổng tống thứ 28 của Hoa Kỳ ông Thomas Woodrow Wilson (1856-†1924) nhiệm kỳ (1913-1921) chính thức công nhận là ngày lễ dành cho các bà mẹ ở Hoa Kỳ, International Mother's Day Shrine (Denkmal des Internationalen Muttertages) và được quyết định vào ngày chủ nhật thứ 2 tháng 5.   Trong Thế chiến thứ nhất, Thụy Sĩ là một trong các quốc gia Châu Âu đầu tiên giới thiệu Ngày của mẹ (năm 1917) và lần đầu tiên được tổ chức tại Đức vào năm 1923, sau đó được chính phủ chấp nhận là ngày lễ quốc gia trong danh dự của mẹ năm 1933.  Áo quốc năm 1926 vào ngày chủ nhật thứ hai Tháng Năm, cũng giống như ở Mỹ, Australia, Brazil, Italia, Nhật Bản và nhiều nước khác...Tại Mexico và phần lớn châu Mỹ Latinh ngày của Mẹ là ngày 10 tháng Năm, nhưng Pháp và Thụy Điển ngày của Mẹ là Chủ Nhật cuối tháng năm. Lễ của Mẹ hàng năm theo dương lịch là những: ngày 12.05.2013; 11.5.2014; 10.5.2015; 08.5.2016.   Người Việt Nam tôn vinh công ơn cha cao như núi, nghiã mẹ như biển rộng bao la con cái phải biết ơn sống cho trọn chữ hiếu, qua ca dao: Công cha như núi Thái SơnNghiã Mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ Mẹ kính ChaCho tròn chử hiếu mới là đạo con.Công cha như núi ngất trờiNghiã mẹ như nước ở ngoài biển ĐôngNúi cao biển rộng mênh môngCù lao chín chữ, ghi lòngcon ơi  Trên trời có bấy nhiêu saoCông ơn cha mẹ cũng bao nhiêu lần.                                    Vị trí của mẹ quan trọng không thể thiếu trong gia đình Việt Nam:  Mẹ già như ánh trăng khuyuaDịu dàng soi tỏ bước đi con hiền  Con có cha như nhà có nócCon có mẹ như bẹ ấp măng  Lạy cha ba lạy một qùyLạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng  Còn mẹ ăn cơm với cáHết mẹ liếm lá gặm xương   Tình yêu của Cha cũng bao la tha thiết, nhưng cha không bộc lộ tình cảm như người Mẹ vuốt ve, âu yếm. Bởi vậy trong đời sống vui buồn các con thường thì thầm bày tỏ với mẹ, trong ký ức các con mang nhiều hình ảnh đẹp, đầy ấp kỷ niệm với tình yêu thiêng liêng của Cha Mẹ.  Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹGánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ Mây mờ che khuất không phủ kín công cha...    (không biết tác giả)   Cha mẹ suốt đời làm việc vất vả nuôi dạy con cái, dựng vợ gả chồng, giúp con tạo lập cuộc đời riêng, mong các con có cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp với đời tràn đầy tình cảm yêu thương.  Con ơi! mẹ bảo con này,Học buôn học bán cho tày người taCon đừng học thói chua ngoaHọ hàng ghét bỏ, người ta chê cười   Hay  Khôn ngoan đối đáp người ngoàiGà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau   Đời sống gia đình Việt Nam thường gắn bó. Cha mẹ suốt một đời lo cho con, lúc về già thường thích sống gần con cháu để khỏi cô đơn. Nếu được con cháu báo hiếu, phụng dưỡng là niềm vui cuối đời. Để tỏ lòng hiếu thảo, các con không cần phải tìm của ngon vật lạ dâng cho cha mẹ, hàng ngày dù có bận công việc, nên dành thời gian tiếp xúc thăm hỏi quan tâm tới cha mẹ, tuổi già chỉ cần một lời thăm hỏi có thể làm ông bà hài lòng.  Chẳng được miếng thịt miếng xôi Cũng được lời nói cho tôi vừa lòng.     Khi cha mẹ còn sống các con không lo phụng dưỡng thì sau nầy sẽ hối tiếc  Ngó lên nhang tắc đèn mờMuốn nuôi cha mẹ bây giờ ở đâu?Bây giờ muốn đáp ơn caoThì cha mẹ đã không bao giờ còn   Sống không phụng dưỡng cha mẹ, lúc qua đời có thương nhớ cũng không còn ý nghiã, những ngày giỗ tưởng nhớ cha mẹ chỉ là một hình thức:  Sống thì cơm chẳng cho ănChết thì xôi thịt làm văn tế ruồi!   Đạo làm người thể hiện qua đời sống theo luật nhân quả, nhắc nhở con cháu noi theo cái đạo hiếu. Nếu chúng ta kính yêu cha mẹ thì con cháu sẽ kính yêu mình như vậy.  Nếu mình hiếu với cha mẹThì con cũng hiếu với ta khác gì.              Những ai may mắn còn mẹ, cảm thấy mình diễm phúc nhất đời. Nhưng mất mẹ không bao giờ tìm lại được tình yêu bao la thiêng liêng ấy. Tôi đã mất mẹ ngày về viếng mộ, đặt những đóa hoa tươi, đốt nén nhang thơm tưởng nhớ mẹ mà nước mắt lưng tròng...Kỷ niệm những ngày dài hạnh phúc tuổi thơ bên mẹ tôi chỉ biết cúi đầu hồi tưởng! tình yêu của mẹ đã đi vào thế giới xa xôi, không bao giờ tìm lại được!  Gío mùa thu mẹ ru con ngủNăm canh chày thức đủ năm canhNgồi buồn nhớ mẹ ta xưaMiệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương                               Ca dao   Nhạc phẩm bất hủ Lòng Mẹ của Y Vân tri ân mẹ hiền:   Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt ràoTình Mẹ tha thiết như giòng suối biển ngọt ngàoLời Mẹ êm ái như đồng lúa rì ràoTiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.  Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thuTình Mẹ yêu mến như như làn gió đùa mặt hồLời ru man mác êm như sáo diều dật dờNắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ  Thương con thao thức bao đêm trườngCon đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết baoThương con khuya sớm bao tháng ngày.Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn  Dù cho mưa gío không quản  thân gầy Mẹ hiền.Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiềnNgày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềmTiếng ru êm đềm Mẹ hiền năm tháng triền miên....                       Y Vân  Biến cố lịch sử từ ngày 30.4.1975, các con đã không làm tròn bổn phận phụng dưỡng mẹ già. Ngược lại mẹ phải tảo tần, dành dụm tiền để thăm con trong trại cải tạo trên núi rừng ngút ngàn sơn lam chướng khí. Mẹ không ngại đường xa vượt qua những đường dài hoang vắng gập ghềnh tiếp tế cho con! Tuổi già tháng ngày vất vả,  sức khoẻ hao mòn. Sau thời gian dài trong trại tập trung, lúc con được về đòan tụ với gia đình thì mẹ đã vĩnh viễn ra đi về bên kia thế giới, nhìn ngôi mộ cỏ xanh trong cô đơn vắng lặng! Tình yêu của mẹ như những vầng sao trên trời, không thể đếm được trong thiên thể mênh mông, thiếu tình mẹ như bầu trời thiếu ánh sao đêm. Trịnh Công Sơn nhắc đến gia tài của Mẹ Việt Nam. Mẹ Việt Nam lầm lũi, mất mát sau chiến tranh, nó cũng là hình ảnh thảm thương, đau khổ của cả một dân tộc trong cơn binh đao, khói lửa cho cả hai miền Nam-Bắc. Dân tộc Việt Nam đã kiệt quệ, xác xơ sau thời chinh chiến. (tôi chỉ trích một phần nhạc nói về Mẹ, không lạm bàn đến vấn đề phản chiến trong nhạc họ Trịnh)  Một ngàn năm nô lệ giặc TàuMột trăm năm đô hộ giặc TâyHai mươi năm nội chiến từng ngàyGia tài của Mẹ, một rừng xương khôGià tài của Mẹ, một núi đầy mồ  Gia tài của mẹ TCS   Rằm tháng Bảy âm lịch là lễ Vu Lan Bồn (Ullambana) theo kinh điển Tôn giả Mục Kiền Liên, lo cứu Mẹ bà Thanh Đề thoát khỏi cảnh khổ ở điạ ngục, và cầu nguyện cho chúng sinh được siêu thoát, khỏi vòng sinh tử luân hồi. Trong ngày lễ nầy người ta thường cài lên áo hoa hồng đỏ, hay hoa cẩm chướng tượng trưng cho mẹ còn sống, hoa trắng để tưởng nhớ Mẹ hiền. Người được hoa hồng đỏ sẽ thấy sung sướng mình còn mẹ, để khỏi hối hận khi một ngày nào đó Mẹ cũng sẽ ra đi theo luật tạo hóa „cát bụi trở về với cát buị„. Người còn mẹ phải cố gắng làm vui lòng mẹ tuổi già, tóc bạc, lưng còng …. Lúc còn tại thế cần làm tròn bổn phận và hiếu thảo. Khi mất cha mẹ rồi có khóc than, cúng tế cũng bằng thừa. Ðạo Phật đề cao hạnh hiếu, đó chính là nền tảng của đời người.  Tâm Hiếu là tâm PhậtHạnh Hiếu là hạnh Phật   Thiền sư Thích Nhất Hạnh, cuộc đời của sư ông có nhiều dư luận trong đời sống đạo và đời, nhưng bài thơ bông hồng cài áo dễ thương, nói lên được tình yêu với mẹ do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc  Một bông Hồng cho emMột bông Hồng cho anhVà một bông Hồng cho những aiCho những ai đang còn MẹĐang còn Mẹ để lòng vui sướng hơnRủi mai nầy Mẹ hiền có mất điNhư đoá hoa không mặt trờiNhư trẻ thơ không nụ cườiNgỡ đời mình không lớn khôn thêmNhư bầu trời thiếu ánh sao đêmMẹ, Mẹ là giòng suối dịu hiềnMẹ, Mẹ là bài hát thần tiênLà bóng mát trên caoLà mắt sáng trên caoLà ánh đuốc trong đêm khi lạc lốiMẹ, Mẹ là lọn miá ngọt ngàoMẹ, Mẹ là nải chuối buồng cauLà tiếng dế đêm thâuLà nắng ấm mương dâuLà vốn liếng yêu thương cho cuộc đờiRồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâuRồi nói, nói với Mẹ rằng „Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không?“Biết gì? Biết là, biết là con thương Mẹ không? „Đoá hoa màu hồng vưà cài lên áo đó anhĐoá hoa màu hồng vưà cài lên áo đó emThì xin anh, thì xin emHãy cùng tôi vui sướng đi...Thích Nhất Hạnh   Đời sống người Việt Nam khác với người Tây phương, ở Việt Nam Cha Mẹ con cháu thường sống chung trong một đại gia đình, dù nghèo hay giàu cha mẹ lúc nào cũng sống gần con cháu. Hằng năm lễ Vu Lan nhắc nhở các con nhớ ngày tình yêu cao cả của mẹ. Chúng ta xa quê hương, không sống gần cha mẹ, luôn mang nỗi buồn mênh mang ngút ngàn thương nhớ.  Áo người hoa đỏ người vuiÁo con hoa trắng ngậm ngùi phận conMẹ ơi ba chục năm hơnHoa kia mấy độ tủi hờn với hoaCõi trần từ mẹ lìa xaĐau thương, thân phận con là mồ côi….                 Hoa Trắng  Ngô Minh Hằng  Chúng con là người Việt Nam lưu lạc Ngày ra đi không hẹn buổi quay về Chẳng phải là sương mù sao khóc lúc đêm khuya Chẳng phải gió sao đời là giông bão Chẳng phải mây sao miệt mài trôi nổi Chẳng phải là rừng sao héo úa mỗi tàn thu….                   Thưa Mẹ, chúng con đi (Trần Trung Đạo)   Hình ảnh mẹ trong thi ca, qua những vần thơ ngọt ngào, tha thiết và nhắn các em dâng mẹ một cành hồng tưởng nhớ:  Hẳn em tôi còn nhớCắt dâng mẹ cành hồngTừ vườn hoa đầu ngõVẫn ngọt ngào đơm bôngHoa thay lòng tưởng nhớCủa đứa con phiêu bồngHoa thay dòng lệ nhỏThương nhớ mẹ vô cùng   Tuỳ Anh  trong tập Trầm ngải thiết tha  Có nỗi đau nào hơn nỗi đau mất mẹMẹ ra đi, đi mãi không vềĐể ngày buồn tháng nhớ mãi lê thêMẹ ra đi trọn đời vỉnh viễn           Thơ Lệ Mi   Trong xã hội Tây phương cha mẹ dù tuổi già nắng xế nhưng họ sống riêng, dù đời sống vật chất cao, phương tiện đầy đủ nhưng không thể khoả lấp khoảng trống tinh thần vì sự thiếu vắng tình cảm gia đình. Tuổi già thường cô đơn, con cháu bận rộn công việc. Bởi vậy hằng năm đều có ngày tưởng nhớ ghi ơn mẹ và khởi đầu cài hoa cẩm chướng (Carnation, Nelke, Oeillet) để tưởng nhớ mẹ, hoa cẩm chướng biểu tượng cho người mẹ là loài hoa nở quanh năm, cánh hoa mỏng và thoảng hương thơm nhẹ.     Dâng Mẹ đôi tim nhỏDâng Mẹ tình yêu lên ngôiDâng Mẹ yêu thương đong đầyDâng Mẹ cuộc sống tương lai...     Tình hồng dâng Mẹ của Văn Chi………….Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn          Bên đời gió tạt với mưa tuôn Con đi góp lá nghìn phương lại                    Đốt lửa cho đời tan khói sương          Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngàoTiếng Người hay chỉ tiếng chiêm-baoMẹ xa xôi quá làm sao vói                             Biết đến bao giờ trông thấy nhau                 Trần Trung Đạo   Mẹ là dòng suối, là kho tàng tình yêu vô tận … Mẹ lo cho con từ miếng ăn, giấc ngủ cho đến lúc trưởng thành, phận làm trai thời loạn phải thi hành nhiệm vụ. Có những đêm ánh hoả châu rực sáng rồi chợt tắt, đạn bom tàn phá quê hương đã làm mẹ lo âu không ngủ… Trịnh Công Sơn vang bóng một thời với những tình khúc như Gia tài của mẹ mang tâm trạng của Mẹ Việt Nam  Mẹ ngồi ru con tiếng hát lênh đênhMẹ ngồi ru con mây vào hồnMẹ dạy cho con tiếng nói quê hươngMẹ nhìn con đi phút giây bàng hoàng  Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn đong đưa phận mìnhMẹ ngồi ru con nghe đất gọi thầm trọn nợ lưu vongMẹ ngồi trăm năm như thân tượng buồn để lại quê hươngTuổi còn bơ vơ thế giới chiến tranh ngục tù            Trịnh Công Sơn   Thời gian trôi qua trong âm thầm lặng lẽ, 38 năm chúng ta xa xứ để rồi xót xa thân phận kiếp lưu vong. Nhớ về mẹ,  tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu, không có mẹ sẽ thiếu tất cả tình yêu trên cõi đời nầy:  Bàn tay chắt chiu vô vàn yêu thươngMẹ như lá hoa thơm vườn nhân áiTình quê hương vương vần bước chân phiêu bồngLắng sâu trong tiếng ru dịu êmLời buồn ru ca dao hôm nào vọng vangMẹ đắng cay trong thầm lặng đếm hư khôngNiềm thương quê tê tái trái tim u hoàiXót xa thương thân phận lưu vong   (Nỗi Niềm Ly Hương – Tình khúc Lê Mạnh Trùy-Vương Ngọc Long)   Chúng ta đều mơ ước ngày về thăm quê hương cầm đôi bàn tay mẹ để sưởi ấm tâm hồn, sau cuộc đổi đời con cháu phân ly:  Mẹ là gío uốn quanhTrên đời con thầm lặngTrong câu hát thanh bìnhMẹ là gío mong manhMẹ là nước chứa chan,Trôi dùm con phiền muộnCho đời mãi trong lànhMẹ chìm dưới nhân gian...        Trịnh Công Sơn   Tình yêu của Mẹ là ánh sáng là giọt sương mai, là tiếng chim hót trên cành buổi sáng:  Mẹ là mùa xuân trên cánh chim bay Mẹ là mùa đông tóc bạc như mây Mẹ là mùa thu, niềm đau gió cát Mẹ là mưa hạ, hạt nhòa đắng cay Mẹ là trời xanh cho nắng vươn cao Mẹ là biển đông sóng gọi xôn xao Mẹ là bình nguyên tình yêu bát ngát Mẹ là ngân hà, lòng mẹ bao la ...                Trường Đinh    Chúng ta không dấu được ngậm ngùi, nỗi nhớ về Mẹ và quê hương là những kỳ quan tuyệt thế đã trở thành thiêng liêng, nhiệm màu muôn thưở. Lúc con ốm đau, khóc la mẹ luôn ôm ấp, vỗ về bồng bế thâu đêm. Mẹ như một thiên thần dịu hiền. Nhạc sỹ Anh Bằng đã sáng tác nhạc phẩm “Khóc Mẹ Đêm Mưa“ vinh danh Mẹ hiền, qua giọng hát thiết tha não nùng của Đặng Thế Luân, khóc mẹ cũng là một thông điệp nhắc nhở những người còn mẹ phải làm tròn bổn phận .  Có những lần con khóc giữa đêm mưaKhi hình Mẹ hiện về năm khói lửaGiặc đêm đêm về quê ta vây khốnBắt cha đi Mẹ khóc suốt đêm buồnÔi thương Mẹ vất vã sống nuôi conĐi vội về sợ con thơ ngóng chờNhưng Mẹ đi không bao giờ về nữaNgã trên đường tức tủi chết trong mưaTan chiêm bao nước mắt thành dòngCon gọi Mẹ một mình trong đêm vắngMẹ ơi! Mẹ ơi  Tha hương con gục đầu tưởng nhớTrên đời nầy Mẹ con không gặp nửa.Mẹ ơi! con khóc giữa đêm mưa!   Thời đại nầy các bà mẹ vì đi làm, hoặc mến tiếc cái tròn trịa của tuổi xuân thì, nên cho con bú sữa bình. Thời xưa bên quê nhà phần lớn các bà mẹ thường ở nhà lo việc tề gia nội trợ, cho con bú sữa mẹ. Tình yêu của mẹ tuyệt vời, qua hơi thở, qua tiếng đập con tim …Mẹ hy sinh tất cả cái đẹp đẽ của mình cho con…  Sữa mẹ ngọt ngào nuôi con lớnTiếng nói đầu đời gọi Mẹ ơi!Mẹ ơi! tiếng gọi từ thơ ấuẤm áp tim con suốt một đời  Từ thuở ngỡ ngàng đi chập chữngMẹ làm điểm tựa bước chân sonVừa  đi  vừa ngả trong tình mẹLớn thật  nhanh cây mạnh xanh chồi   Mẹ ơi! thơ –T. Thất  Phú Sĩ   Kho tàng thi ca bình dân, cũng như những nhạc phẩm thời đại. Ca tụng những lời như ngàn đời nhớ ơn Mẹ. Bởi vì mẹ cho các con hành trang lên đường, dạy các con sống cho phải đạo làm người …  Ơn cha nặng lắm ai ơiNghiã Mẹ bằng trời, chín tháng cưu mangƠn cha, nghiã mẹ nặng trìuRa công báo đáp, ít nhiều phận con    Hay  Mẹ cha là biển, là trờiLàm sao con dám cãi lời mẹ cha.Thương mẹ, nhớ cha như kim châm vào dạ,Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơiMột mai gặt lúa đem về,Thờ cha, kính mẹ nhiều bề hiếu trungBao giờ cho cá hóa longĐền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa      Ngày nay khoa học tiến bộ, khoa học trở thành cái chung của nhân loại, nhưng mỗi quốc gia đều có tính chất khác biệt đó là dân tộc tính. Ở hải ngoại chúng ta không tìm thấy chiếc nôi bằng tre cho em bé, hoặc nghe tiếng hát ru con của mẹ hiền, hay bà nội bà ngoại ru cháu bằng giọng hát ạ ời! Nhưng nếu chúng ta nghe lại lời ru ấy ở nơi nào đó không thể kềm được lòng cảm xúc, lưu luyến hồn dân tộc, thiết tha tình quê hương và tình yêu của mẹ. Nơi xứ người, thời gian âm thầm trôi qua với những tháng ngày bận rộn trong công việc trả nợ áo cơm. Chúng con không bao giờ quên, xin dâng lên mẹ những lời cầu nguyện trân trọng nhất .   Nguyễn Quý Đại Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây nhạc Nguyễn Ánh 9 Lời: Hoàng Phong Linh  http://www.youtube.com/watch?v=rWdloUNWZwg   (kho tàng văn hoá dân tộc qua ca dao, tục ngữ thường nói về mẹ, như một lời nhắn nhủ đầy ắp yêu thương, các thi nhân, nhạc sĩ đã có hàng trăm ngàn đề tài viết về MẸ. Tôi xin phép các tác giả trích những đoạn thơ về Mẹ, trong giới hạn của bài để vinh danh Mẹ, các hình nguồn từ Internet . Xin trân trọng NQĐ)
......

Chuyện đọc 30/4: Đức - Tình Yêu của một Phóng Viên cho một Dân Tộc nhiều Đau Thương

Cuốn sách "Đức - A reporter's love for a wounded people" (Đức - Tình Yêu của một Phóng Viên cho một Dân Tộc nhiều Đau Thương) của tác giả Uwe Siemon-Netto, một nhà báo kỳ cựu từng cộng tác một thời gian dài với hãng tin AP, với gần 10 năm phục vụ như một phóng viên ở nước ngoài trong đó có Việt Nam. Mới đây ông đã cho xuất bản cuốn sách này, và bản tiếng Việt cũng đang được dự trù xuất bản vào dịp 30-4 năm nay. Dưới đây là đoạn kết rất xúc động mà tác giả đã nói lên ước muốn cùng với người Việt Nam nuôi dưỡng niềm hy vọng một ngày không xa Tự Do Dân Chủ sẽ trở lại với quê hương khốn khổ của chúng ta. Được phép tác giả, dịch giả đã gửi đến DienDanCTM phổ biến đoạn kết này và xin được giới thiệu quyển sách đến quý bạn. Nơi đặt mua sách (sách viết bằng tiếng anh đã xuất bản, và bản dịch tiếng Việt, xuất bản tháng 5. 2013)http://www.siemon-netto.org/ Đức: A reporter's love for a wounded people by Uwe Siemon-Netto (available now) Đức - Tình Yêu của một Phóng Viên cho một Dân Tộc nhiều Đau Thương Tác giả: Uwe Siemon-Netto Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền (mới xuất bản) *** Đoạn kết: Hậu quả của khủng bố và đức hạnh của hy vọng      Uwe Siemon-Netto Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ khi tôi giã biệt Việt Nam. Vào năm 2015, thế giới sẽ chứng kiến kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng của Cộng sản và nhiều người sẽ gọi đó là ngày "giải phóng." Ga xe lửa Huế, nơi một đầu máy và một toa hành lý khởi hành chuyến tầu tượng trưng 500 thước mỗi buổi sáng vào lúc 8 giờ sẽ không còn đáng đi vào kịch trường của sự phi lý nữa. Nó đã được phục hồi đẹp đẽ và sơn phết lại mầu hồng. Một lần nữa, tương tự như những ngày dưới sự thống trị của người Pháp, nó là nhà ga xe lửa đẹp nhất vùng Đông Dương và tài xế tắc-xi không phải chờ đợi vô ích bên ngoài. Mười chuyến tầu thong dong chạy qua mỗi ngày, năm chuyến xuôi Nam và năm chuyến ra Bắc. Gộp chung lại chúng được mệnh danh một cách không chính thức là Tàu Tốc Hành Thống Nhất. Chẳng lẽ nào tôi lại không mừng vui? Chuyện này có khác nào bên Đức khi bức tường Bá Linh đổ xuống và những bãi mìn biến mất, và nay những chuyến tầu cao tốc phóng ngược xuôi giữa hai xứ nguyên là Cộng sản bên Đông và Dân chủ bên Tây với tốc độ lên tới 200 dặm một giờ? Hiển nhiên là tôi rất vui khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam được thống nhất và phát triển, những chuyến xe lửa đã hoạt động trở lại và các bãi mìn đã được tháo gỡ. Nhưng đến đây thì sự tương đồng với nước Đức chấm dứt. Nước Đức hoàn thành sự thống nhất, một phần nhờ người dân tại Đông Đức đã lật đổ chế độ độc tài toàn trị bằng những cuộc biểu tình và phản kháng ôn hoà, một phần nhờ vào sự khôn ngoan của các nguyên thủ quốc tế như các vị Tổng thống Ronald Reagan và George G.W. Bush, của Thủ tướng Helmut Kohl, của lãnh tụ Sô Viết Mikhail Gorbachev, và cũng phần khác vì sự sụp đổ có thể đoán trước được của hệ thống xã hội chủ nghĩa sai lầm trong khối Sô Viết. Không có ai bị thiệt mạng trong tiến trình này, không một ai bị tra tấn, chẳng có ai phải vào trại tù và cũng không có ai bị buộc phải trốn chạy. Có một khuynh hướng khó hiểu, ngay cả trong số các vị học giả đáng kính của phương Tây đã diễn tả sự kiện Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam như là một cuộc "giải phóng." Điều này đặt ra một câu hỏi: giải phóng cái gì và cho ai? Có phải miền Nam đã được "giải phóng" khỏi sự áp đặt một nhà nước độc đảng toàn trị được xếp hạng chung với những chế độ vi phạm tồi tệ nhất thế giới về các nguyên tắc tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do báo chí? Một cái thứ giải phóng gì đã làm chết 3,8 triệu người dân Việt từ 1954 đến 1975 và đã buộc hơn một triệu người khác phải trốn ra khỏi đất nước, không những từ miền Nam bại cuộc mà cả từ những bến cảng miền Bắc và làm từ 200.000 đến 400.000 người gọi là thuyền nhân bị chết đuối? Có phải là hành động giải phóng không khi xử tử 100.000 người lính miền Nam và viên chức chính phủ sau ngày Sàigòn thất thủ? Phải chăng chỉ là một màn trình diễn nhân đạo của bên thắng cuộc bằng cách lùa từ một triệu đến 2 triệu rưỡi người miền Nam vào các trại tù cải tạo, trong đó có khoảng 165.000 người mất mạng và hàng ngàn người khác đã bị tổn thương sọ não lâu dài và bị các vấn đề tâm thần do hậu quả của tra tấn, theo một cuộc nghiên cứu của một nhóm học giả quốc tế do Bác sĩ tâm thần Richard F. Molina của đại học Harvard dẫn đầu? Từ giữa những năm 1960, những tay bịa đặt chuyện huyền thoại về chính trị và lịch sử của phương Tây, hoặc ngây thơ hoặc bất lương, đã chấp nhận lời giải thích của Hà Nội rằng cuộc xung đột là một cuộc "chiến tranh nhân dân." Cũng đúng thôi nếu chấp nhận định nghĩa của Mao Trạch Đông và Võ Nguyên Giáp về cụm chữ đó. Nhưng theo luật văn phạm về sở hữu tự theo cách Saxon Genitive qui định thì "chiến tranh nhân dân" phải được hiểu là cuộc "chiến tranh của nhân dân." Thực tế không phải như vậy. Đã có khoảng 3,8 triệu người Việt Nam đã bị giết giữa các năm 1954 và 1975. Khoảng 164.000 thường dân miền Nam đã bị thủ tiêu trong cuộc tru diệt bởi Cộng sản trong cùng thời kỳ, theo nhà học giả chính trị Rudolf Joseph Rummel của trường Đại học Hawaii. Ngũ Giác Đài ước tính khoảng 950.000 lính Bắc Việt và hơn 200.000 lính VNCH đã ngã xuống ngoài trận mạc, cộng thêm 58.000 quân Hoa Kỳ nữa. Đây không thể là một cuộc chiến tranh của nhân dân mà chính là chiến tranh chống nhân dân. Trong tất cả những lập luận đạo đức giả về cuộc chiến Việt Nam ta gặp quá thường trong vòng 40 năm qua, cái câu hỏi quan trọng nhất đã bị mất dấu hay AWOL, nếu dùng một từ ngữ viết tắt quân sự có nghĩa là "vắng mặt không phép," câu hỏi đó là: Dân Việt Nam có mong muốn một chế độ Cộng sản hay không? Nếu có, tại sao gần một triệu người miền Bắc đã di cư vào Nam sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954, trong khi chỉ có vào khoảng 130.000 cảm tình viên Việt Minh đi hướng ngược lại? Ai đã khởi đầu cuộc chiến tranh? Có bất kỳ đơn vị miền Nam nào đã hoạt động ở miền Bắc hay không? Không. Có du kích quân miền Nam nào vượt vĩ tuyến 17 để mổ bụng và treo cổ những người trưởng làng thân cộng, cùng vợ và con cái họ ở đồng quê miền Bắc hay không? Không. Chế độ miền Nam có tàn sát cả một giai cấp hàng chục ngàn người trên lãnh thổ của họ sau năm 1954 bằng cách tiêu diệt địa chủ và các đối thủ tiềm năng khác theo cách thống trị theo lối Sô Viết của họ hay không? Không. Miền Nam có thiết lập chế độ độc đảng toàn trị hay không? Không. Với cương vị một người công dân Đức, tôi không can dự gì đến cuộc chiến này, hay nói theo lối người Mỹ là "I have no dog in this fight" (tôi chẳng có con chó nào trong vụ cắn lộn này cả). Nhưng, nhằm chú giải cho cuốn sách "Lời nguyện của nhà báo", tương tự như các phóng viên kỳ cựu có lương tâm, lòng tôi đã từng và vẫn còn đứng về phía dân tộc Việt Nam nhiều đau thương. Lòng tôi hướng về những người phụ nữ tuyệt vời với tính tình rất thẳng thắn và vui vẻ; hướng về những người đàn ông Việt Nam khôn ngoan và vô cùng phức tạp đang theo đuổi giấc mơ tuyệt hảo theo phong cách Khổng giáo; hướng về các chiến binh giống như trẻ con đi ra ngoài mặt trận mang theo cái tài sản duy nhất là một lồng chim hoàng yến; hướng về các goá phụ chiến tranh trẻ với cơ thể bị nhào nặn méo mó chỉ vì muốn bắt một tấm chồng lính Mỹ nhằm tạo một ngôi nhà mới cho con cái và có thể cho chính họ, còn hơn là đối mặt với độc tài Cộng sản; hướng về nhóm trẻ em bụi đời trong thành thị cũng như ngoài nông thôn săn sóc lẫn nhau và những con trâu đồng. Với trái tim chai cứng còn lại, lòng tôi thuộc về những người trốn chạy khỏi lò sát sinh và vùng chiến sự, luôn luôn đi về hướng Nam mà không bao giờ về hướng Bắc cho đến tận cùng, khi không còn một tấc đất nào vắng bóng Cộng sản nữa để mà trốn. Tôi đã chứng kiến họ bị thảm sát hay bị chôn sống trong những ngôi mồ tập thể và mũi tôi vẫn còn phảng phất mùi hôi thối của những thi thể đang thối rữa. Tôi không có mặt vào lúc Sàigòn thất thủ sau khi toàn bộ các đơn vị Quân Lực VNCH, thường xuyên bị bôi bẩn một cách ác độc bởi truyền thông Hoa Kỳ, giờ đây bị những đồng minh người Mỹ của họ bỏ rơi, đã chiến đấu một cách cao thượng, biết rằng họ không thể thắng hay sống sót khỏi trận đánh cuối cùng này. Tôi đang ở Paris, lòng sầu thảm khi tất cả những chuyện này xẩy ra và tôi ước gì có dịp tỏ lòng kính trọng năm vị tướng lãnh VNCH trước khi họ quyên sinh lúc mọi chuyện chấm dứt, một cuộc chiến mà họ đã có thể thắng: Lê Văn Hưng (sinh năm 1933), Lê Nguyên Vỹ (sinh năm 1933), Nguyễn Khoa Nam (sinh năm 1927), Trần Văn Hai (sinh năm 1927) và Phạm Văn Phú (sinh năm 1927). Khi tôi viết đoạn kết này, một ký giả đồng nghiệp và một loại học giả, sinh năm 1975 khi Sàigòn bị thất thủ, đã tự tạo cho bản thân một thứ tên tuổi bằng cách bêu xấu tội ác chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Vâng, họ thật đáng bị bêu xấu. Đúng, đó là sự thật. Mỹ Lai có thật. Tôi biết, tôi đã có mặt trong phiên toà mặt trận khi Trung úy William Calley bị kết án là có tội. Tôi biết cái tiêu chuẩn đếm xác chết được tôn sùng bởi đầu óc méo mó của các cấp chỉ huy quân sự cũng như dân sự thời đại Mc Namara tại Washington và bản doanh Hoa Kỳ tại Sàigòn đã làm tổn hại hàng ngàn mạng sống của người dân vô tội. Nhưng không có hành vi tàn ác nào của các đơn vị rối loạn Hoa Kỳ và VNCH có thể sánh bằng cuộc tàn sát do lệnh nhà nước giáng xuống đầu người miền Nam nhân danh Hồ Chí Minh. Những tội ác mà cho đến ngày nay những kẻ kế thừa thậm chí vẫn không thừa nhận vì không ai có cái dũng cảm hỏi họ: Tại sao các anh thảm sát tất cả những người vô tội mà các anh rêu rao là đi chiến đấu để giải phóng họ? Với tư cách một người Đức, tôi xin được thêm một đoạn chú thích như sau: tại sao các anh giết người bạn của tôi là Hasso Rüdt von Collenberg, tại sao lại giết các bác sĩ người Đức ở Huế, và anh Otto Söllner tội nghiệp mà "tội ác" duy nhất là dạy trẻ em Việt Nam cách điều khiển một ban nhạc hoà tấu? Tại sao các anh bắt cóc những thanh niên thiện nguyện Knights of Malta, làm cho một số bị chết trong rừng rậm và số khác thì bị giam cầm tại Hà Nội? Tại sao các anh không bao giờ tự xét lương tâm về những hành động đó, theo cách những người Mỹ chính trực trong khi họ đã được xác định một cách đúng đắn là họ thuộc về phía lẽ phải trong cuộc Đại Chiến Thứ Hai, vẫn bị dằn vặt bởi cái di sản khủng khiếp để lại vì đánh bom rải thảm những khu dân cư trong nước Đức và tấn công bằng bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki? Hồi tưởng lại cuộc thử thách trên con đường mòn Hồ Chí Minh trong tạp chí Der Spiegel, cô y tá Tây Đức Monika Schwinn nhớ lại cuộc gặp gỡ với các đơn vị chiến đấu Bắc Việt trên đường xuống phía Nam như là một trong những kinh nghiệm khủng khiếp nhất. Cô diễn tả cái cường độ của mối hận thù trên khuôn mặt của những tên lính đó và cô viết chính những tên Việt Cộng canh chừng phải khó khăn lắm mới ngăn chận họ không giết những người Đức ngay tại chỗ. Không có ai sinh ra là biết hận thù cả. Sự thù hận chỉ có thể có được do dậy dỗ. Nuôi dưỡng tính giết người trong lòng thanh niên là một khuôn phép huấn luyện chỉ có trường phái chủ nghĩa toàn trị là giỏi nhất. Trong cuốn tiểu sử rất hay nói về tay chỉ huy SS Heinrich Himmler, sử gia Peter Longerich diễn tả là ngay cả gã sáng lập viên cái lực lượng tàn độc gồm những tên côn đồ mặc đồ đen cũng khó lòng buộc thuộc hạ vượt qua sự kiềm chế tự nhiên để thi hành lệnh thảm sát Holocaust (Longerich. Heinrich Himmler. Oxford: 2012). Chính cái ánh mắt thù hận của những tên sát nhân Bắc Việt tại Huế làm ám ảnh những người tôi phỏng vấn hơn cả. Nhưng dĩ nhiên phải dành nhiều thời gian với họ, chịu sự đau khổ cùng họ, tạo niềm tin và trò chuyện với họ thì mới khám phá ra cái cốt lõi của một phần nhân tính con người, một hiểm họa về mặt chính trị và quân sự vẫn còn quanh quẩn bên chúng ta từ bốn thập niên qua. Chỉ phán ý kiến về nó từ trên tháp ngà đài truyền hình New York hay các trường đại học Ivy League thì không bao giờ đủ cả. Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xẩy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xẩy ra như sau: Giáp: "Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!" Charton: "Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố." Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật. Cái nửa kia là các nền dân chủ như Hoa Kỳ đúng là không được trang bị về chính trị và tâm lý để theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ. Sự nhận thức này, cùng với cách sử dụng các phương tiện khủng bố đã trở thành trụ cột trong chiến lược của Võ Nguyên Giáp. Ông ta đã đúng và ông ta đã thắng. Thậm chí nguy hiểm hơn nữa là ngày nay các chế độ toàn trị đang chú ý đến điểm này. Cho đến tận ngày hôm nay tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi cái kết luận tôi bắt buộc phải rút ra từ kinh nghiệm về Việt Nam là: khi một nền văn hoá bê tha hủ hoá đã mệt mỏi về lòng hy sinh, nó sẽ có khả năng vứt bỏ tất cả. Nó đã chín mùi để bỏ rơi một dân tộc mà đáng lẽ nó phải bảo vệ. Nó còn thậm chí sẵn sàng xoá đi những mạng sống, sức khoẻ về thể chất và tinh thần, nhân phẩm, trí nhớ và danh thơm của những thanh niên đã được đưa ra mặt trận. Điều này đã xẩy ra trong trường hợp các cựu chiến binh Việt Nam. Tác động của sự khiếm khuyết đã ăn sâu trong các nền dân chủ tự do này rất đáng sợ vì cuối cùng nó sẽ phá hỏng chính nghĩa và tiêu diệt một xã hội tự do. Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm chỉnh lại kết quả, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Nhưng là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc Việt Nam, tôi tin là họ sẽ cuối cùng tìm ra phương cách ôn hoà và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xẩy ra. Trong ý nghĩa này, tôi bây giờ chỉ muốn xếp hàng vào đoàn xích-lô bên ngoài ga xe lửa Huế vào năm 1972, nơi chẳng có người khách nào quay trở lại. Chỗ của tôi ở đâu bây giờ? Tôi còn lại gì nữa ngoài niềm hy vọng?
......

Nhạc sĩ Tô Hải: Chính ngày 30 tháng 4 là ngày đã giải phóng cho tôi khỏi kiếp nô lệ

Ngày 30/4 Nhật ký mở lại (lần thứ 45): NHÂN 30 THÁNG 4, TÔI TUYÊN BỐ   ...cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng Hòa, “ông” naỳ, “ông” kia…chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!…Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy  có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!?     Ngày 30/4/2013 Nhật ký mở lại (lần thứ 45) NHÂN 30 THÁNG 4, TÔI TUYÊN BỐ …  …Tưởng rằng mình đã hết ý để nói về cái ngày “tưởng rằng vui” 30 tháng 4 này. Lý do: Năm nào mình cũng có viết về nó với những ý mới.    Nhớ lại suốt 5 năm về già vui thú với bờ-nốc-bờ-niếc, mình đã từng vạch trần ra cái âm mưu áp đặt bằng võ lực lên toàn thế giới (mà thành công một bước mới là trên mảnh đất chữ S), một chế độ mà tất cả mọi con người đều bị biến thành một “trại súc vật”, sống thế nào? làm thế nào? vui buồn, yêu, ghét ra sao?... thậm chí cả chết kiểu nào cũng đều do một nhóm người ưu tú nhất mang tên Đảng Công Sản quyết định! 1- Mình còn nhớ mình đã ghi lại cái cảnh ông Hoàng Tùng, Bí thư TƯ đảng, Trưởng Ban Tuyên Huấn dặn dò bọn văn nghệ sỹ chúng mình khi thẳng đường bay thẳng vô Nam: Bằng một cử chỉ hung hăng, ông hùng hồn giơ hai nắm đấm trước ngực đấm đấm vào nhau mà nói: ”Cuộc chiến đấu ai thắng ai hãy tạm dừng ở đây! Chúng ta cần có thời gian để củng cố lực luợng, cải tạo bọn ngụy và…nếu có sức chúng ta chẳng ngại gì không ….tiến thẳng tới New Delhi!” Ai cầm cờ vào dinh Độc Lập? chuyện này mà nay vẫn còn chưa trung thực, tranh công, phản bác nhau mãi...   2- Mình cũng là người đã “sợ” cái chuyện trắng trợn tuyên bố và kể công lao to lớn của mấy ông trùm cộng sản khi huênh hoang với toàn thế giới “Chính nhờ có họ, mà một nuớc nhỏ mà đã đánh thắng 3 đế quốc to” trong khi đó chỉ cách đó không lâu họ vẫn xưng xưng: ”Không có chuyện Miền Bắc xâm lược miền Nam”, Và họ cũng không muốn hoặc không đủ khả năng hiểu nổi câu đối đáp của vị Thủ Tướng Thái Lan là “Nước tôi hân hạnh vì một nước nhỏ mà KHÔNG PHẢI ĐÁNH NHAU VỐI MỘT NƯỚC TO NÀO…” nghĩa là gì v.v... và v.v... Cán ngố bên những chiếc xe đạp thồ tiến về dinh Độc Lập 30/4/75 - ảnh amazonaws.com   3- Mình cũng đã vạch thẳng thừng ra cái sự “miền Bắc được giải phóng” cả về sinh hoạt lẫn tư tưởng bằng những câu chuyện: miền Bắc như hàng triệu cái lò xo lâu nay bị đè ép, bỗng bung ra và không có một sức mạnh nào có thể ngăn cản được. Bằng những câu chuyện sớm “tự cải tạo” từ cách suy nghĩ đến cách sống và làm ăn, người miền Bắc mà 99,9% đều có người thân hy sinh cho cách mạng, đều có người là đảng viên, lao đầu vào những thứ phồn vinh giả tạo như những con thiêu thân,..kệ ai cao đạo giáo dục “cảnh giác, giữ vững lập trường”!!! Trong khi ở miền Nam, người ta cấm “nhạc vàng nhạc ngụy”, đốt sách ngụy thì miền Bắc, oang oang ngày đêm những Giao Linh, Khánh Ly,…sách “phản động đồi trụy” cứ ùn ùn kéo ra Bắc, làm mê say cả mọi lớp người lâu nay chỉ biết ăn có món văn nghệ tuyên truyền cho Đảng! 4-Mình cũng vạch ra cái ngu cực kỳ do tính “kiêu binh hỗn xược” của bọn tưởng rằng mình thắng cuộc thì muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm khi vừa tuyên bố “Mọi người Việt Nam đều là người chiến thắng” thì ngay hôm sau đánh lừa cả gần triệu sĩ quan và cán bộ cao cấp “ngụy” mang 20 ngày gạo “đi học tập” rồi giam không án không hạn tù trong các trại gọi là cải tạo khắp nơi thâm sơn cùng cốc rừng sâu nước độc suốt cả chục năm trời hoặc hơn...khiến không ít người bỏ xác nơi nào chả ai biết hoặc nếu sống sót trở về thì có đi H.O cũng chỉ còn là những thân xác ốm yếu vì bị đọa đầy cho thân tàn ma dại! Kèm theo là cả chục triệu những con người là vợ con, người thân,.. của họ bị mang hận thù sưốt năm này qua tháng khác vì bị cưỡng bức đi kinh tế mới, hoặc đành liều mạng vượt biên, người đến nơi nào đó làm “quê hương thứ 2”, người bỏ xác nơi đại dương, đến cái xương cũng không còn đường về quê mẹ!  Trong khi đó, tối tối, con em họ phải tập trung để “bị” học hát: ”Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” hoặc “Đêm qua em mơ gặp bác Hồ”! Mình đã chửi thẳng những thằng "bên thắng cuộc" cho là “các cháu Miền Nam khoanh tay, cúi đầu chào khách là….ảnh hưởng của chế độ phong kiến” (!?) cũng như bọn chủ chương phổ biến những bài hát chiến thắng huênh hoang là những bọn cực kỳ ngu xuẩn và hoàn toàn không có một xu tâm lý học! Riêng về mặt văn hóa văn nghệ, đã hơn một lần mình đã nói thẳng cái “hơn hẳn” của văn nghệ sỹ, trí thức miền Nam chân chính. Đó là: a- Họ hoàn toàn tự do, muốn viết gì thì viết, muốn theo trường phái nào thì theo, hoàn toàn tự do sáng tác kể cả viết những gì mà chính quyền không mong muốn … b- Họ được tự do tiếp xúc với đủ mọi thứ văn hóa nghệ thuật nước ngoài kể cả với những tác phầm của phe cộng sản. c- Đa số đều thành thạo 1 hoặc 2 ngoại ngữ giúp họ sớm tiếp cận với những gì là văn minh tiến bộ nhất của loài người. Trái lại văn nhân nghệ sỹ miền Bắc, trừ những người theo Tây học trước 45, hầu hết đều… mù ngoại ngữ nên chỉ biết Shakespeare, Balzac,…qua bản dịch …Còn những tác phẩm hiện đại thì chỉ “nghe mấy anh văn nghệ có quyền” phán rằng là “Camus, Sartre …nó phản động thế này ,…thế kia…” nên rất chi là nhục nhã khi tự mình tổ chức ra cái hội nghị lên án “văn hóa thực dân mới” giữa cái đất Saigon đầy những trí thức am hiểu, sành Triết Tây lẫn những fan của Sartre của Camus! Điều tự sỉ nhục này mình đã lấy làm cái cớ để động viên cả nhà Phạm Duy còn bị kẹt lại Saigon (mà trực tiếp đến với mình là Phạm đình Chương và Duy Quang) là: "Hãy tìm đường mà cuốn xéo nhanh kẻo có ngày mất mạng vì phản ứng với cái bọn “kiêu binh văn hóa cộng sản” này". Và tất cả họ đã nghe theo mình … Cái ĐƯỢC và MẤT của 30 tháng 4, Nguyễn Khải, trên giường bệnh đã nói thẳng không ngại ngùng (vốn có theo bản tính thận trọng) là: Miền Bắc đã cho tôi ĐỘC LẬP, Miền Nam đã cho tôi TỰ DO…..Còn tớ thì laị: CHÍNH NHỜ MIỀN NAM NÀY MÀ MÌNH ĐÃ TÌM ĐƯỢC Ý NGHĨA CỦA CẢ ĐỘC LẬP LẪN TỰ DO    5- Cũng chính mình đã đưa ra cái ý kiến về câu “Có triệu người vui cũng có triệu người buồn“ của ông Võ văn Kiệt là: “Bề Trên”, ”Kẻ cả” và cực kỳ…”chủ quan” bằng những lý lẽ để “bổ xung” (thực chất là để “bác bỏ”). Rằng thì là: “Chẳng có cái tỷ lệ chung chung, bằng nhau đó đâu!” Sự thật thì cái ngày 30 tháng 4 đó có mở ra một vài hướng sống mới cho riêng dân miền Bắc, cả 30 năm sống kiếp ngựa trâu nhưng lại là bắt đầu cả một giai đoạn cực khổ tủi nhục, bất công chưa từng thấy cho toàn thể nhân dân miền Nam!  Đặc biệt khi chủ nghĩa cộng sản, sau khi ra mặt công khai lãnh đạo toàn diện cả cái nước “xuống hố cả nút” này rồi...thoái hóa tới mức “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa???” thì…mọi mặt xã hội của cả 2 miền đều bị dìm vào các cuộc đại…”loạn” …Vô tướng bất tài, vô lương tâm, vô học …đã trở thành những ông chủ thực sự từ xã đến trung ương, đã nắm tất tần tật mọi chức vụ quyết định sự sinh tồn của đất nước, kể cả… bán hay không bán nước!!! Vậy mà cứ đến ngày 30 tháng 4 đến họ lại không ngớt dùng bộ máy khổng lồ tuyên truyền của họ cao giọng huênh hoang, tăng cường chửi Mỹ, chửi “ngụy”. Dù có đôi chút hạn chế hơn trước (tỉ như thỉnh thoảng có nhắc tới cái tên Việt Nam Cộng Hòa, “ông” naỳ, “ông” kia…chứ không xách mé, hỗn xược, khinh người như trước) nhưng vẫn không ngớt phịa ra các thứ chiến công tưởng tượng như “giải phóng Trường Sa”, như “tiến đánh dinh Độc Lập”, kể cả “địa đạo trại Davis”, những chuyện chẳng ai biết, chẳng ai làm chứng những ngày 30 tháng tư trước bao giờ!…Cứ như đánh đâu thắng đấy nhưng sự thật thì như mình đã viết: Đây là một cuộc đá bóng mà một bên đã ra khỏi bãi vì không đá nữa! Vậy có có đá với ai đâu mà “đá thắng” cơ chứ!? Tóm lại, đã qua 38 năm cái 30 tháng 4, mỗi lần nó đến, mình chỉ buồn chứ chẳng vui chỉ vì: Mỗi lần nó đến lại gợi lại nỗi phân chia đôi ngả của cả một dân tộc Việt Nam, trong đó có gia đình mình: Cả 6 đứa em đều không sao đàng hoàng về thăm lại nơi chôn rau cắt rốn. Còn thằng anh cả duy nhất còn ở lại Việt Nam này thì chưa chắc lúc chết được đặt nắm tro tàn cạnh Bố Mẹ, anh em, con cháu họ Tô chắc vẫn chỉ là một giấc mơ khó trở thành sự thực! Ôi! 30 tháng tư, mình là một trong những kẻ đau nhất vì MÁT nhiều nhất! Mỗi lần nó đến lại như khoét sâu vào những nỗi đau của cả triệu triệu con người, vì nó mà con mất cha, vợ mất chồng, dân mất nước để cho một lũ chẳng một ngày xung phong cầm súng, chẳng một ngày đánh Pháp, đuổi Nhật, thậm chí cả chẳng một ngày “chống Mỹ xâm lược” bỗng dưng ăn trên ngồi chốc, làm vua hiểu dụ thần dân những điều vô lý, vô lẽ, vô luân… mà vẫn dám vỗ ngực là cộng sản là “chủ tập thể” của đất đai, là không có tam tứ quyền phân lập, phân liệt gì xất …nào là “tao có quyền lãnh đạo tuyệt đối muôn năm đất nước này, là quân đội do tao dựng lập ra nên phải phục vụ tao! rằng…tao nhất định sẽ lên…thiên đường! Kẻ nào phản đối, tao cho vô tù hết! Nhà tù 30 tháng tư nào cũng được mở rộng để khoan hồng cho những tên cướp, giết, hiếp, nhưng cũng để rộng chỗ cho những người “thoái hóa” như Phương Uyên, Điếu Cày, Nguyễn tiến Trung…và tất cả những tên lưu manh trí thức, cơ hội chính trị…! Rõ ràng, những kẻ kiêu binh ăn mày dĩ vãng tanh mùi máu và đẫm mặn nước mắt đang ngày càng gây thêm thù, thêm oán… Rõ ràng 30 tháng 4 không hề làm cho họ phải giật mình soi lại xem vì sao từ những giới trẻ như nhóm sinh viên luật đến lớp già như những trí thức, đảng viên lão thành lại ngày càng đông người ra mặt công khai lên tiếng phản đối mọi chủ trương đường lối phản nước hại dân của những đàn sâu phá hoại đất nước cực kỳ … Và mình, đến hôm nay, nhân ngày 30 tháng 4/2013, cũng nhân thể nhắc các bạn gần xa đọc lại trên to-hai.blogspot.com những gì mình đã tóm tắt lại ở trên mà tuyên bố rằng: CHÍNH NGÀY 30 THÁNG 4 NÀY LÀ NGÀY ĐÃ GIẢI PHÓNG CHO TÔI, MỘT CÔNG DÂN MIỀN BẮC, KHỎI KIẾP NÔ LỆ MỘT THỨ TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ NGOẠI LAI CỰC KỲ PHẢN ĐỘNG VÀ SẼ NGUYỀN GÓP SỨC ĐỂ SỚM CHÔN VÙI NÓ CÙNG VỚI NHỮNG KẺ SỐNG BÁM VÀO NÓ TRONG NHỮNG NĂM THÁNG CÒN LẠI CỦA CUỘC ĐỜI!   Nguồn: http://to-hai.blogspot.com/2013/05/ngay-30nhat-ky-mo-lai-lan-thu-45-nhan.html  
......

“Nói với mình và các bạn”: Biểu tình, đình công và tẩy chay

Dưới đây là bài viết thứ bảy trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Mục đích mà loạt bài hướng tới là góp phần giúp độc giả, nhất là các bạn trẻ, hiểu hơn về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất tuân dân sự, về kỹ thuật bầu cử và làm thế nào để có bầu cử tự do, công bằng. Còn mục đích của bài này là nói về một vài hình thức hoạt động chính trị khác: biểu tình, đình công, và một hình thức vẫn còn tương đối xa lạ với người dân Việt Nam, đó là tẩy chay.Phạm Đoan Trang  * * *  Kỳ 7 BIỂU TÌNH, ĐÌNH CÔNG VÀ TẨY CHAY   Sau những cuộc biểu tình (có thể chỉ vài chục, cũng có lần tới vài trăm người tham gia) ở Hà Nội và TP HCM để chống chính sách đối ngoại hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, đến giờ, số đông chúng ta hẳn là đã hình thành một khái niệm nào đó về biểu tình – cho dù là tán đồng hay phản đối hành động đó.  Trên lý thuyết, biểu tình được định nghĩa là một hành động chính trị, trong đó nhiều người tham gia tuần hành cùng nhau nhằm thể hiện một chính kiến, ví dụ bày tỏ sự ủng hộ hoặc phản đối một cá nhân/ tổ chức/ sự việc nào đó. Việc tuần hành có thể được thực hiện bằng đi bộ, đạp xe hoặc sử dụng phương tiện khác. Việc tuần hành có thể kết hợp với gây tiếng động – gọi loa, gõ trống, khua chiêng, thổi kèn, hô khẩu hiệu, hát. Trong nhiều cuộc biểu tình ở nước ngoài, người ta còn đốt cả ảnh, hình nộm của quan chức. Tuần hành thường bắt đầu và/ hoặc kết thúc bằng một cuộc tụ tập tại một địa điểm nhất định, tại đây người ta cùng đọc và nghe diễn văn, tuyên cáo, tuyên bố, v.v. Phong toả đường đi lối lại, và ngồi bệt (tọa kháng) cũng được coi là biểu tình – trường hợp sau được gọi là “biểu tình ngồi”.    Chẳng hạn, để phản đối chính quyền Trung Quốc tham lam, ưa gây hấn và bắt nạt các quốc gia nhỏ yếu, hoặc để phản đối chính sách đối ngoại thiếu minh bạch và thiếu nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, một nhóm công dân ở Hà Nội có thể tuần hành đến Đại sứ quán Trung Quốc hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam, tụ tập trước cổng các cơ quan này, tổ chức mít-tinh, ra thông cáo, đọc diễn văn, v.v.    Biểu tình có thể là phi bạo lực hoặc bạo lực, hoặc lúc đầu thì ôn hoà nhưng về sau lại nảy sinh bạo lực – giữa công an, cảnh sát với những người tuần hành, hoặc giữa chính những người tham gia với nhau, ví dụ nhóm ủng hộ mâu thuẫn, đánh lộn với nhóm phản đối. Cho nên, luật pháp ở các quốc gia đa phần đều loại bỏ bạo lực, chỉ chấp nhận biểu tình ôn hoà; và sự hiện diện của lực lượng công an, cảnh sát chỉ là để ngăn chặn bạo lực xảy ra.   Với những hành động được chấp nhận (tuần hành, hô khẩu hiệu, hát, v.v.), các bạn có thể thấy ngay là không cuộc biểu tình nào lại không mang tính chất “gây rối trật tự công cộng” ở một mức độ nào đó. Nói cách khác, đã là biểu tình thì phải tạo chú ý, mà đã tạo chú ý thì những người biểu tình không thể không làm ồn; chưa nói đã là một cuộc tụ tập nơi công cộng thì đương nhiên phải có tổ chức. Lấy lý do “gây rối trật tự công cộng” để giải tán biểu tình chỉ là một chiêu bài để đàn áp quyền tự do tụ tập (freedom of assembly) và tự do thể hiện chính kiến (freedom of expression, còn được dịch là “tự do biểu đạt”) của người dân.  (Chúng ta sẽ bàn về những mặt hạn chế của biểu tình trong kỳ sau của bài viết này.)  Đình công – quyền của người lao động  Theo nghĩa nguyên thuỷ, đình công chỉ giới hạn trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, khi những người làm công tổ chức ngừng làm việc trên quy mô tập thể để phản đối hoặc ra yêu sách nào đó với giới chủ: tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện vệ sinh, an toàn lao động, v.v. Tuy nhiên, trên thực tế, cũng có khi đình công vươn ra ngoài quan hệ giữa người lao động và giới chủ và dẫn đến thay đổi trong chính sách của nhà nước, thậm chí thay đổi chính thể. Ví dụ đáng nhớ nhất là những cuộc đình công của phong trào Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan những năm 1980.  Ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động, từ khi Luật Lao động có hiệu lực (năm 1995) cho đến năm 2012, cả nước xảy ra 4.922 cuộc đình công (nguồn: Dân Trí ngày 6/4/2013). Bài báo của Dân Trí cũng cho biết, hầu hết đình công đều tự phát, “100% không do công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo”, “không theo đúng trình tự pháp luật quy định, có xu hướng lây lan từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác”.     Nếu điều này là có thật, nhà hoạch định chính sách có trách nhiệm sẽ phải nhận thấy ít nhất hai câu hỏi đặt ra: (1) Trình tự pháp luật quy định có vấn đề gì không? (2) Công đoàn cơ sở đã thật sự đại diện cho người lao động chưa? Trong một xã hội dân chủ, nếu nhà hoạch định chính sách không nhận ra vấn đề thì sẽ có những cá nhân, tổ chức dân sự vận động để ông/bà ta phải “làm gì đó cho công nhân đi”, bằng không sẽ mất chức. Ở Việt Nam thì chưa được như vậy, thậm chí, ngay cả chuyện bạn đến gặp Chủ tịch Công đoàn đề nghị tổ chức đình công cũng đã là việc không nên làm – vì… bạn có chắc là Công đoàn đứng về phía bạn không?  “Tẩy chay các chú”  Tẩy chay là việc một số người/ nhóm (tức là cá nhân hoặc tổ chức) từ chối giao thiệp với một đối tượng nào đó, ví dụ một doanh nghiệp bóc lột lao động, hoặc toàn bộ hàng hoá của các doanh nghiệp bán hàng giả hàng rởm, gây ô nhiễm môi trường, đối xử thô lỗ và từng lăng mạ khách hàng, v.v.  Chuyện tẩy chay không còn là mới mẻ, nhất là trong nền kinh tế toàn cầu hoá. Ví dụ, ở Hàn Quốc từng có phong trào tẩy chay thịt bò Mỹ (năm 2008), còn tại Trung Quốc, khi tranh chấp biển đảo với Nhật Bản leo thang, nhiều hiệu sách Bắc Kinh đã ngừng bán các ấn phẩm của Nhật. Tương tự, doanh nghiệp xuất khẩu chuối Philippines khốn đốn khi đối tác Trung Quốc đồng loạt từ chối nhập khẩu để trả đũa Philippines trong tranh chấp chủ quyền. Ngay sau sự cố này, cơ quan xúc tiến thương mại của Philippines đã phải tính đến khả năng tìm kiếm, mở rộng thị trường hoa quả ở các nước khác, như châu Âu. Tại Việt Nam, vào năm 1919, cũng từng có phong trào “tẩy chay các chú”, tức là tẩy chay các chú khách (doanh nhân Hoa kiều). Tinh thần chung là “người Việt Nam buôn bán với nhau, không mua hàng của Hoa kiều”. Có tài liệu nói rằng phong trào được sự hưởng ứng của cả giới doanh thương lẫn sinh viên, viên chức tại Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định… 89 năm sau, vào năm 2008, với sự cố Vedan xả nước “giết” sông Thị Vải, một chiến dịch tẩy chay đã nổi lên, khởi đầu từ những lời kêu gọi trên mạng Internet. Nhiều siêu thị lớn tại Hà Nội và TP HCM đồng loạt ngừng phân phối sản phẩm bột ngọt Vedan. Không rõ chiến dịch này kéo dài bao lâu.  Tuy nhiên, về căn bản, tẩy chay rất hiếm xảy ra ở Việt Nam, ngay cả trong những chuyện không liên quan gì đến chính quyền, nghĩa là chẳng có gì nhạy cảm: Như các hàng “phở quát, cháo chửi” khét tiếng ở thủ đô Hà Nội chẳng hạn, chưa bao giờ họ nghĩ đến khả năng bị tẩy chay. Một nhân viên kiểm toán xã hội ở tập đoàn Bureau Veritas từng cho người viết bài này biết: “Người tiêu dùng có ý thức cao là người không chỉ quan tâm tới chất lượng và giá cả, mà còn rất quan tâm tới một điểm thứ ba, là sản phẩm được làm ra như thế nào. Ở các nước phát triển, người ta sẵn sàng tẩy chay một sản phẩm nếu họ biết rằng nhà sản xuất ra nó sử dụng lao động trẻ em, hay gây ảnh hưởng độc hại đến môi trường. Chỉ cần một lần vi phạm bị phát hiện, cả một thương hiệu nổi tiếng có thể đi tong”. Đối chiếu với đó, các bạn có thể thấy là người tiêu dùng Việt Nam còn chưa có ý thức bảo vệ chính mình, nói gì đến ý thức bảo vệ môi trường hay quan tâm đến quyền lợi của những người lao động khác.  Bên cạnh việc người dân thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa cũng là nguyên nhân dẫn đến chuyện tẩy chay – với ý nghĩa là một hành động chính trị – hầu như không được sử dụng để gây áp lực. Kêu gọi tẩy chay trên mạng (như với vụ Vedan) có lẽ vẫn quá yếu, không đủ tạo hiệu quả đáng kể nào.       Một cuộc biểu tình ở Hà Nội, sáng chủ nhật 9/12/2012. Ảnh: AFP   Đình công, biểu tình trong văn hoá chính trị Việt Nam Trở lại với chuyện biểu tình, có thể bạn cũng đã nhận thấy đó là một hình thức hoạt động chính trị có hiệu quả đối với những người tham gia, ở chỗ nó tác động mạnh tới cộng đồng, nó gây chú ý và khiến người biểu tình có thể tạo sức ép chính trị. Nhưng đối với những người khác, nó không thể không gây thiệt hại dù ít dù nhiều: Chẳng hạn, nó cản trở quyền tự do đi lại của một số công dân, có khi là rất nhiều công dân. Với đình công cũng vậy. Trên thế giới, từng có những cuộc biểu tình và đình công của ngành hàng không, đường sắt, taxi, làm trì trệ, thậm chí gây tê liệt giao thông của cả một thành phố.     Do vậy, để nhìn nhận sự việc một cách khách quan, đến đây, chúng ta sẽ đi sâu vào các khía cạnh có thể gây tranh cãi của biểu tình trong bối cảnh văn hoá chính trị Việt Nam, nơi số đông dân chúng vẫn giữ tâm lý sợ nhà nước, chưa suy nghĩ nhiều về nhân quyền và chưa biết cách “thực hành dân chủ”.  Tuy nhiên, đó là câu chuyện của kỳ sau.  Kỳ sau: Đình công, biểu tình trong văn hoá chính trị Việt Nam  Kỳ 1: Chính trị ảnh hưởng đến tất cả chúng taKỳ 2: Đừng lên án người vô cảmKỳ 3: Tham gia chính trị là làm gì?Kỳ 4: Vận động hành lang, thành lập đảng…Kỳ 5: Làm truyền thông hay là “tuyên truyền phản tuyên truyền”Kỳ 6: Kiện, tại sao không?    Đ.T. Nguồn: http://www.phamdoantrang.com/2013/05/noi-voi-minh-va-cac-ban-bieu-tinh-inh.html
......

Blogger Tạ Phong Tần đã bị chuyển ra giam ở miền Bắc

(07.05.2013) – Sài Gòn – Ông T vừa đi thăm vợ ở trại K5, Xuân Lộc, Đồng Nai về cho biết: “Cô Tạ Phong Tần đã bị chuyển trại giam, đưa ra Miền Bắc”. Vợ ông T là một dân oan, sau thời gian dài đi kiện các quan chức địa phương cướp đất và tham nhũng đã bị bắt đi tù. Khi vào trại giam, vợ ông T quen với blogger Tạ Phong Tần. Ông hỏi vợ rằng cô Tần bị chuyển đi chổ nào, một viên công an đang đứng canh ở chổ thăm nuôi cho biết: “Đưa ra ngoài Cao Bằng – Lạng Sơn rồi”, nhưng cụ thể là trại giam nào thì người công an này không cho biết. Cô Tạ Minh Tú, em cô Tần cho biết chưa hề nhận được thông báo nào của trại giam hay công an cho biết việc chuyển trại giam của cô Tạ Phong Tần. Như vậy, 2 trong 3 blogger của Câu lạc bộ nhà báo tự do đã bị chuyển ra Miền Bắc. Việc làm này có thể nhằm vào việc gây khó khăn cho sự đi lại của thân nhân, vì đường xa và chi tiêu tốn kém hơn rất nhiều, hòng giảm tối đa lần thăm gặp của thân nhân hai blogger nổi tiếng Điếu Cày và Tạ Phong Tần. Nhà cầm quyền thực sự sợ hãi khi thông tin về tình hình các bloggers này bị đối xử tệ bạc và vi phạm pháp luật ngay trong trại giam, khiến dư luận quốc tế, và người Việt định cư ở nước ngoài phản ứng tiêu cực với họ. Nhưng với việc “cách lý” này lại càng làm cho dư luận tin rằng nhà cầm quyền đang có ý đồ xấu nào đó đối với các tù nhân lương tâm và chính trị này, khiến họ phải bằng mọi cách che dấu tin tức về các bloggers này, bất chấp việc công khai vi phạm pháp luật. Việc nhà cầm quyền công khai vi phạm pháp luật sẽ thúc đẩy dân chúng bất tuân pháp luật, làm tiền đề cho sự nổi loạn của xã hội. PV. VRNs http://www.chuacuuthe.com/2013/05/07/blogger-ta-phong-tan-da-bi-chuyen-ra-giam-o-mien-bac/
......

Nhục quá trời!

Báo Thanh niên đưa một cái tin rất chi là sang trọng hùng dũng: Trung Quốc ngang ngược dùng vòi rồng đuổi tàu cá ở Trường Sa ( Tại đây). Tin như vầy: Truyền thông Trung Quốc vào hôm nay, 6.5, loan tin một tàu ngư chính của nước này đã ngang nhiên sử dụng vòi rồng để xua đuổi một tàu cá tại khu vực đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Tường thuật trên website của tờ Nhân dân Nhật báo nói tàu Ngư chính 45001 của Trung Quốc đã bắn vòi rồng vào một tàu được mô tả là tàu nước ngoài song không nói rõ thời điểm xảy ra vụ việc và chiếc tàu cá bị xua đuổi là của nước nào. Đọc cái tin mà sôi gan. Sôi gan vì TQ một, sôi gan vì ta mười. Việc tàu ngư chính TQ ngang nhiên coi biển đảo của ta là biển đảo chúng nó xảy ra từ lâu rồi, chẳng lạ gì nữa. Cái chính là tàu giặc xâm hại biển đảo ta tại sao ta không biết? Không biết hay không dám biết? Đến một cái tin cũng phải cậy nhờ báo đảng TQ đăng trước, khi đó đài báo nước nhà mới biết để đăng sau. Tội nghiệp báo chí nước Nam quá trời! Cũng chẳng lạ gì cái sự im hơi lặng tiếng nhục nhã của ta, nhưng đến nước này thì không chịu nổi. Không phải giặc vào nhà ta mà ta không biết, biết cả đấy nhưng không dám ho he, từ trên xuống dưới từ dưới lên trên hết thảy đều im hơi lặng tiếng. Hội nghị TW 7 không thấy nhắc đến nửa chữ biển đông, trong khi quá lo lắng vấn đề biến đổi khí hậu, một vấn đề rất chi là thế giới ! Đem chuyện biến đổi khí hậu ra bàn để làm gì? Có phải mấy ông muốn né tránh chuyện nợ công, nợ xấu, chuyện lạm phát, chuyện Bauxite, chuyện đấu thầu vàng? Có phải quí vị muốn lờ đi cái biển đông nhà mình đang nước sôi lửa bỏng? Ai chỉ thị cho quí vị đem chuyện biến đổi khí hậu ra bàn trong khi biển đông đang dậy sóng, có phải các đồng chí 4 tốt không? Ối giời ơi nhục ơi là nhục! NQL Nguồn: Quê Choa
......

Tin tổng hợp: Trung quốc leo thang xâm phạm biển Đông

Trung Quốc kéo dàn khoan bằng tòa nhà 18 tầng ra Biển Đông Tân Hoa Xã ngày 6/5 đưa tin, bắt đầu từ trưa hôm qua 5/5 giới chức Trung Quốc phái 9 con tàu hộ tống và kéo dàn khoan - lọc dầu khí Lệ Loan 3-1 cao bằng tòa nhà 18 tầng từ Thanh Đảo cơ động nhằm về hướng Biển Đông. Dàn khoan - lọc dầu khí khổng lồ này di chuyển trên biển với tốc độ 3 đến 4 hải lý/giờ, theo tính toán của giới chức Trung Quốc sau 12 ngày nó sẽ tới một mỏ khí thiên nhiên ở "một vùng nước sâu trên Biển Đông".   Lệ Loan 3-1 cao gần 100 mét, bắt đầu rời khỏi cảng Thanh Đảo lúc 12 giờ 30 phút trưa hôm qua, 5/5. Dàn khoan này do Bắc Kinh tự nghiên cứu, chế tạo với thời gian 21 tháng với kiến trúc 3 tầng, toàn bộ sử dụng khung thép. Sau khi hút khí từ dưới đáy biển lên dàn khoan, nó sẽ tự động phân lọc dầu, khí đốt, loại bỏ nước và tạp chất, tất cả thành một hệ thống khép kín.   Bản tin trên Tân Hoa Xã cho hay cuối tháng 9/2013 dàn khoan khủng này sẽ bắt đầu "khai thác dầu khí" trên một vùng biển ở Biển Đông. Đội tàu cá TQ ào ra Trường Sa của Việt Nam Đội tàu đánh cá Đam Châu (tỉnh Hải Nam, Trung Quốc) gồm 32 chiếc sáng 6/5 đã xuất phát từ cảng cá Bạch Mã Tỉnh tiến ra ngư trường Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt hải sản. Mạng Tin tức Trung Quốc cho hay đây là đội tàu đánh cá quy mô lớn nhất của Trung Quốc đến hoạt động tại ngư trường Trường Sa từ đầu năm đến nay. Theo nguồn tin, số tàu trên đều là tàu đánh cá cỡ lớn từ hơn 100 tấn trở lên, được lắp đặt thiết bị thông tin hiện đại, bảo đảm thông tin liên lạc với đất liền 24/24 giờ. Trong số này có một tàu tiếp tế hậu cần tổng hợp trọng tải 4.000 tấn và một tàu vận tải trọng tải 1.500 tấn . Được biết, thời gian hoạt động của đội tàu này sẽ kéo dài trong khoảng 40 ngày. Đây là hành động mới nhất xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, tiếp theo một số hành động gần đây của Trung Quốc tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, như việc quan chức cao cấp Trung Quốc cắt băng khánh thành nhà sách Tân Hoa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa, tổ chức đưa khách du lịch tới quần đảo Hoàng Sa và chuẩn bị tổ chức thi câu cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trong thời gian qua Trung Quốc đã liên tục leo thang gây căng thẳng trên Biển Đông với những hoạt động tập trận quân sự trái phép ở khu vực Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động bành trướng trên thực địa khiến khu vực và cộng đồng quốc tế không khỏi quan ngại.
......

Tổng LSQ Pháp quan tâm đến buổi dã ngoại trao đổi về Quyền Con Người

Sáng ngày 02/05/2013, blogger Nguyễn Hoàng Vi và Vũ Sỹ Hoàng đã có một cuộc gặp gỡ không chính thức với ông Faubrice Maurice Tổng Lãnh sự quán Pháp tại Sài Gòn. Cuộc trò chuyện diễn ra khoảng 1 tiếng đồng hồ. Phía Lãnh sự quán đưa ra những vấn đề mà họ quan tâm đặc biệt: 1. Thăm hỏi về cuộc dã ngoạitrao đổi về Nhân Quyền vào Chủ Nhật ngày 5 tháng 5 này.   2. Suy nghĩ của blogger Việt Nam về vụ án Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, đặc biệt là bản án đối với anh Điếu Cày.   3. Thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam đối với những người biểu tình chống Trung Quốc.   4. Những đàn áp, sách nhiễu từ phía nhà cầm quyền đối với cá nhân Nguyễn Hoàng Vi và các bloggers khác, đặc biệt trong ngày diễn ra phiên tòa xử phúc thẩm các thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do.   5. Suy nghĩ của chúng tôi về lãnh đạo đảng CSVN điển hình là về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.   Ông Faubrice Maurice đã đặc biệt quan tâm là với những đàn áp của nhà cầm quyền, điều gì đã làm cho những Công Dân Tự Do không sợ hãi và công khai tổ chức buổi dã ngoại trao đổi về Quyền con người vào ngày Chủ Nhật 5/5/2013.   Blogger Nguyễn Hoàng Vi đã trả lời rằng Nhân quyền cần phải được thể hiện công khai và quyền con người sẽ không có nếu nó chỉ được thể hiện trong sự sợ hãi hoặc lén lút. Bên cạnh đó, Việt Nam đang nộp đơn để xin trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc thì không có lý do gì, hay chính xác hơn là một nghịch lý nếu ngăn cản công dân Việt Nam thảo luận nội dung của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng như phân phát tài liệu quan trọng này cho những công dân khác để hiểu rõ những quyền mà nhà nước đang bàn thảo để cho vào trong Hiến pháp mới.   Ông cũng thắc mắc là tại sao Điếu Cày với các blogger cách xa về tuổi tác mà mọi người vẫn luôn luôn có cùng chí hướng và ủng hộ anh ấy. Blogger Vũ Sỹ Hoàng đã trả lời rằng anh Điếu Cày là biểu tượng của Tự do Ngôn luận, là người tiên phong của phong trào Dân Báo Việt Nam và cũng là người từ những ngày đầu đã lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Do đó, những bạn bè, blogger đàn em phải tiếp nối anh để làm những viên gạch lót đường nhằm góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn.   Trước khi chia tay, ông Maurice đã chúc cho buổi dã ngoại của các Công Dân Tự Do Việt Nam thành công và nói rằng dù lãnh sự quán Pháp không trực tiếp tham gia với các bạn nhưng sẽ luôn quan tâm và quan sát buổi dã ngoại của các bạn.   Ông cũng nói là sẽ luôn luôn quan tâm theo sát những vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam, tình trạng của blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và mong rằng các blogger Việt Nam sẽ giữ mối liên hệ chặt chẽ và thường xuyên với Lãnh sự quán Pháp trong tương lai.   nguồn: blog Nguyễn Hoàng Vi
......

Buổi dã ngoại thảo luận quyền con người ở Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nhà Trang

  Tại Sài Gòn: Từ 7g30, công viên trước dinh Thống Nhất đã bố trí đầy nhân viên trật tự và an chìm nổi Tuy vậy các bạn trẻ vẫn thực hiện việc phân phát tài liệu về quyền con người cho mọi người tham dự buổi dã ngoại   Các bạn trẻ dã ngoại trao đổi để hiểu biết về quyền con người Theo thông báo của nhà thơ Phan Đắc Lữ, blogger Nguyễn Hoàng Vi vừa bị bắt. Nhà văn Phạm Đình Trọng, nhà thơ Phan Đắc Lữ, nhà báo Kha Lương Ngãi và nhiều nhân sĩ khác đang có mặt tại khu công viên để hỗ trợ các bạn trẻ. Nhà thơ Đỗ Trung Quân cho biết: Từ sáng sớm anh đã bị canh cửa và anh bị ngăn chặn không được ra ngoài. Công ty cây xanh(?) cho xịt nước khắp nơi để không ai có thể tập trung trên bãi cỏ công viên Tin mới nhất: Hành Nhân và August Anh cũng vừa bị bắt Tại Hà Nội: lúc 9 giờ đoàn người đã đi vòng quanh công viên Tài liệu về quyền con người được phân phát đến tay mọi người   Trần Thúy Nga và hai con, đêm trước bị đuổi ra khỏi nhà trọ phải ngủ vệ đường thế nhưng sáng nay vẫn có mặt vì quyền con người Tại Hải Phòng: Blogger Phan Thanh Nghiên cùng mẹ thực hiện dã ngoại vì nhân quyền trước cửa nhà Tại Nha Trang:  Blogger Mẹ Nấm đang nói về quyền con người, sau khi bị CA ép buộc vào quán cafe nhằm ngăn chặn không cho đến điểm hẹn tham dự buổi dã ngoại. Trong khi đó, tại điểm hẹn công viên Bạch Đằng - Nha Trang, rất đông công an và đoàn viên xuất hiện để 'dã ngoại' với dàn loa công suất lớn. Đây cũng là lực lượng được chuẩn bị trước nhằm phá rối cuộc hẹn trao đổi về quyền con người của các Công dân Tự do. http://huynhngocchenh.blogspot.de/2013/05/tuong-thuat-buoi-da-ngoai-thao...
......

30 Tháng Tư, lo trước về tương lai

Chúng ta không thể tránh được, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm lại chợt nhớ về quá khứ. Niềm tưởng nhớ thường có trong một ngày giỗ. Mà đúng hôm nay là một ngày giỗ. Ngoài những vị tướng chỉ huy tử tiết, như Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, còn biết bao nhiêu các binh sĩ, sĩ quan khác cũng đã chết để bày tỏ khí tiết trong cùng một ngày. Có vị sĩ quan cảnh sát Trung Tá Nguyễn Văn Long chọn công viên Lam Sơn làm nơi thể hiện lời nguyền chết vinh hơn sống nhục. Nhiều vị sĩ quan, công chức, đã về nhà, cùng chết với gia đình. Chúng ta hướng về tất cả những anh hùng liệt sĩ đó trong ngày giỗ tập thể hôm nay. Và nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa. Trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có nhiều nhóm quân nhân (Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, vân vân) đã quyết định cùng chết với nhau. Họ đứng khoác vai nhau, tự sát bằng những trái lựu đạn. Họ đã lựa chọn cùng nhau thể hiện tình “đồng sinh đồng tử, huynh đệ chi binh” một lần cuối cùng, trước khi tan hàng vĩnh viễn.   Chúng ta biết những chiến binh này có thể lựa chọn cách khác. Họ có thể chiếm cứ bất cứ ngôi nhà nào bên đường, lấy đó làm nơi tử thủ. Họ có thể bắn cho hết những viên đạn cuối cùng trước khi bị bên địch hạ sát. Giống như những người lính Nhật sau cùng trong trận Iwo Jima, lấy mạng đổi mạng. Nhưng vào giây phút tuyệt vọng nhất của đời mình, những người chiến binh này vẫn chứng tỏ họ vẫn sống nền đạo lý ngàn năm của dân tộc. Họ không muốn lôi kéo thêm những người lính khác phải chết với mình. Dù vừa mấy giờ phút trước đó, nhìn chỉ thấy đó là quân địch. Vì một tấm lòng từ bi vẫn chảy trong dòng máu Việt, các chiến sĩ này đã thấy: Cha mẹ, vợ con những người lính vô danh bên kia chắc cũng đang ngóng chờ ngày họ sống sót trở về. Nhớ lại những hành động tự sát tập thể trong giây phút tuyệt vọng đó, chúng ta chợt hiểu lời nguyện mà cha ông đã để lại: “Ðem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo). Chúng ta đều có thể hãnh diện về hành động tự sát của những người lính Việt Nam Cộng Hòa này.     Các thế hệ sau phải làm gì để những người đã chết đều không ai chết uổng? Những con người tuẫn tiết đó đều chết trong khi chiến đấu bảo vệ quyền sống trong tự do dân chủ của người Việt ở miền Nam. Từ năm 1975 đến nay mấy thế hệ vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu thiết lập một chế độ dân chủ tự do trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến nhiều bạn trẻ còn non nớt hay sinh sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, ở trong Nam hay ngoài Bắc, đang dấn thân trên con đường đó. Họ xứng đáng là những người nối dõi khí tiết hào hùng của các tiền nhân. Những người như Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ðắc Kiên, Huỳnh Thục Vi, Trịnh Kim Tiến, Việt Khang, vân vân, bị đánh đập, tù đày, gia đình bị dọa nạt, đàn áp, có bà mẹ đã tự thiêu chết; chỉ vì họ đòi phải cho dân tộc Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Các bạn trẻ này đã thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc; và cũng theo đuổi chí nguyện của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, và những những tử sĩ hy sinh ngày 30 Tháng Tư năm 1975.   Trong ngày 30 Tháng Tư nhìn lại 38 năm qua, chúng ta vui mừng vì cuộc vận động tranh đấu cho dân chủ tự do ở nước ta hiện ngày càng tiến mạnh hơn và nhanh hơn. Ðảng Cộng Sản đang trên đà tan rã, không thể nào tránh được. Giáo Sư Ðào Văn Dương, một người đã hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, thường nói với các học sinh cũ đến thăm cụ: “Các anh chị sẽ thấy, chế độ Cộng Sản sẽ chết trước mình.” Viễn ảnh đó không còn xa xôi nữa. Chế độ Cộng Sản đang trong giờ hấp hối. Cái chết này thực sự bắt đầu từ năm 1975. Ðó là thời điểm những mà những thủ đoạn lừa gạt tinh vi nhất của đảng Cộng Sản bắt đầu bị lộ diện; và càng ngày càng đưa họ xuống dốc.   Từ năm 1945, đảng Cộng Sản đã núp dưới chiêu bài dân tộc để lôi cuốn nhân dân. Họ núp dưới danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước” để đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết. Trong khi mục tiêu chính của họ là bành trướng một chủ nghĩa, một chế độ chính trị. Công cuộc bành trướng đó do Nga Xô và Trung Cộng lãnh đạo; còn nuôi tham vọng sau khi chiếm được toàn thể Việt Nam rồi sẽ nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á rồi lan khắp Châu Á và thế giới. Ðảng Cộng Sản đưa dân tộc Việt Nam ra hứng bom đạn trong cuộc tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng Sản. Họ có vẻ hãnh diện về vai trò tiên phong này. Lê Duẩn nói: Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc. Năm 1976 Phạm Văn Ðồng tới một hội nghị các nước Á Phi còn dậy chính phủ các nước khác rằng họ chưa thực sự độc lập, chưa thoát khỏi chế độ thực dân. Ông nói: “Chỉ khi nào theo chủ nghĩa xã hội thì mới thực sự độc lập,” khiến các người tham dự rùng mình.   Khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể dùng chiêu bài yêu nước như trước nữa. Không thể dùng khẩu hiệu “chống Mỹ” để biện minh cho các chính sách độc đoán và sai lầm làm dân ngày càng nghèo đói. Ðảng Cộng Sản để lộ bộ mặt thật của họ, là một guồng máy chuyên chế, tham nhũng và bất lực trước các vấn đề hiện đại hóa đất nước. Người dân Việt cũng có dịp so sánh hai chế độ ở miền Nam và Bắc, trước năm 1975. Nhiều nhà trí thức miền Bắc nhìn thấy những dấu vết của một xã hội tự do ở miền Nam, mặc dù chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn dễ thở hơn ở miền Bắc. Một cậu bé năm đó 13 tuổi ở Thanh Hóa, sau cũng nhận ra khi nói “Giải phóng” thì phải thấy chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc! Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Thiệu bảo: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói...” Sau năm 1975 người đầu tiên nhìn ra lời đó đúng, là ông Trương Như Tảng, một Việt Cộng thứ thiệt. Thấy rồi, ông ta cũng tìm đường vượt biên. Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản ở Âu Châu càng giúp người Việt Nam thấy rõ cả của chế độ mà Hồ Chí Minh đã gây dựng lên theo kiểu mẫu ông học ở Nga Xô chỉ tàn hại đất nước. Nhưng chưa bao giờ dân Việt Nam chán ngán và thù ghét chế độ Cộng Sản như bây giờ. Ðúng vào lúc chế độ đó đang lúng túng. Không những không biết lần mò ra đường nào để giữ cho đời sống kinh tế của nhân dân phát triển, mà họ còn không biết có cách nào để giải quyết những tranh chấp quyền lợi bên trong với nhau.   Nhưng chúng ta phải lo lắng trước, khi nhìn thấy tình trạng đảng Cộng Sản tan rã. Không thể đứng chờ và chứng kiến, không lo lắng. Những liệt sĩ Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn đã được huấn luyện với khẩu hiệu: “Lúc bình an phải lo trước cơn nguy biến sẽ tới” (cư an, tư nguy). Bây giờ là lúc thể hiện châm ngôn đó.   Chế độ Cộng Sản thế nào cũng tàn tạ. Giống như một trái cây chín rồi, tự nó sẽ rụng. Giới thanh niên, trí thức trong cả nước đang rung cây cho trái rụng càng sớm càng tốt. Ðiều đáng ưu tư của dân tộc bây giờ không còn là lo chấm dứt chế độ tham nhũng bất công đó. Ðiều cần lo ngay tự bây giờ, là sau khi chế độ này tàn thì dân tộc Việt Nam xây dựng lại đất nước ra sao?   Trước hết, làm sao cho tiến trình dân chủ hóa được thực hiện mà không vấp phải những chướng ngại, như đã từng diễn ra ở nhiều nước đã trải qua kinh nghiệm chuyển từ độc tài hay chuyên chế sang chế độ dân chủ? Trong mục này tuần trước, chúng tôi đã trình bày trường hợp Bulgaria, một chế độ Cộng Sản đã “tự đảo chính,” một ngày sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ðảng Cộng Sản đã sửa hiến pháp, chính họ xóa bỏ điều số một (giống như điều bốn trong hiến pháp Việt Nam bây giờ) dành độc quyền cai trị cho đảng. Họ tự đổi tên, tổ chức bầu cử tự do, và thắng cử. Ở Rumania cũng vậy, chính các lãnh tụ Cộng Sản đã giết vợ chồng Nicolae Ceausescu để chạy theo các cuộc cách mạng 1989 ở Ðông Âu. Nhưng họ đã hành động chỉ để cướp lấy ngọn cờ cách mạng, để duy trì cả hệ thống quyền hành và tiếp tục trục lợi.   Thủ đoạn “tiếm danh nghĩa cách mạng” và “tiếm quyền cai trị” đã từng được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng lành nghề, trong năm 1945. Nhưng đó cũng chỉ là một, trong nhiều mối nguy mà tiến trình dân chủ hóa có thể vướng mắc, cần phải biết để tránh vết xe đổ. Tại một nước đã chuyển từ độc tài quân phiệt sang dân chủ tự do như Chile, tiến trình dân chủ hóa đã bị cản trở trong 15 năm vì ngay từ đầu các nhà tranh đấu dân chủ đã nhượng bộ quá nhiều khi thương thuyết cuộc chuyển giao quyền hành với Tướng Augusto Pinochet. Tại những nước như Nga, Ukraine, tiến trình dân chủ hóa vụng về, để cho một số người tập trung các nguồn lợi kinh tế vào trong tay. Những nhà tư bản độc quyền này đã dùng tiền bạc chi phối và “tiếm vị” thao túng cả guồng máy nhà nước. Ngay tại những nước dân chủ hóa thành công nhất, như Ba Lan và Tiệp Khắc, thái độ “dửng dưng với chính trị” của những nhà lãnh đạo như Walesa, Havel, đã tạo ra một khoảng trống chính trị khiến nhiều vấn đề của quốc gia không được giải quyết sớm bằng các định chế và thủ tục dân chủ. Một hậu quả dễ thấy nhất, là nước Tiệp Khắc đã phải chia đôi, thành Cộng Hòa Tiệp và Slovac, mặc dù vào lúc quyết định chia đôi đó, dân chúng cả hai miền đều muốn giữ thể chế liên bang (trên 54% ở cả hai vùng).   Dân chủ hóa là một con đường đầy chông gai, một dòng sông có nhiều mỏm đá ngầm. Ngày 30 Tháng Tư này, chúng ta cần suy nghĩ ngay về vấn đề đó, để chuẩn bị tương lai một nước Việt Nam tự do dân chủ. Ðó là một cách đền ơn nghĩa những người đã chết trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trong khi đang tranh đấu bảo vệ một mảnh đất tự do của nước Việt Nam. nguồn: http://www.nguoi-viet.com/  
......

30 Tháng Tư, vì sao chưa thể quên?

30 Tháng Tư 1975-30 Tháng Tư 2013. Cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc đã 38 năm rồi, nhưng dường như nó vẫn chưa bao giờ thật sự trở thành “một chương đã qua, đã xong” trong lòng đa số người dân Việt Nam trong và ngoài nước.      Ðối với “bên thắng cuộc” là đảng và nhà nước cộng sản, cuộc chiến tranh ấy tiếp tục được họ nhắc đi nhắc lại vào những ngày lễ 2 Tháng Chín, 30 Tháng Tư, cùng vô số ngày kỷ niệm khác, vẫn được tổ chức tưng bừng.   Khi những thất bại của mô hình thể chế chính trị hiện tại và trong toàn bộ sự điều hành lãnh đạo đất nước của nhà cầm quyền ngày càng không thể che giấu trước mắt người dân Việt và thế giới, họ càng cố bám víu vào những “hào quang xưa cũ” từ cuộc chiến. Họ càng cố “ăn mày dĩ vãng” để níu kéo lòng tin đã cạn kiệt của nhân dân và biện minh cho sự tồn tại của đảng, của chế độ. Những người cùng khổ kiếm không đủ ăn vẫn chiếm đại đa số ở Việt Nam trong khi một thiểu số ăn trên ngồi trốc thì tiền thừa mứa Ðối với “bên thua cuộc”, lúc đầu chỉ là những người trực tiếp và gián tiếp liên quan đến chế độ miền Nam Cộng Hòa, tiếp theo là hàng triệu người bỏ nước ra đi vì không chịu nổi chế độ mới sau “giải phóng”... nhưng dần dần, cả dân tộc cay đắng nhận ra nhân dân Việt Nam chính là bên thua cuộc.   Và khi cuộc chiến càng lùi xa, những sự thật càng được sáng tỏ, cùng với sự thối nát của chế độ này ngày càng lộ rõ, thì tất cả nguyên nhân, diễn biến của cuộc chiến tranh đã qua cùng với cái kết thúc ngày 30 Tháng Tư 1975 lại được nhớ lại. Trở thành nỗi day dứt đối với tất cả những ai quan tâm đến số phận đất nước, dân tộc.   Những câu nói “Nếu như... giá như...” lại dằn vặt người Việt Nam.   Khi từng ngày từng giờ chứng kiến thực trạng xã hội Việt Nam ngày hôm nay, sau gần 4 thập kỷ thống nhất đất nước.   Khi nhìn sang những quốc gia láng giềng như Thái Lan, Singapore, Indonesia, Nam Hàn... mà ở thời điểm cách đây 38 năm, về nhiều mặt còn thua hoặc không hơn miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ bao nhiêu, nay đã đi được một chặng đường rất dài. Trở thành những quốc gia thịnh vượng và khoảng cách với Việt Nam bây giờ là hàng chục năm, thậm chí cả trăm năm.   Những quốc gia Ðông Âu cũ một thời cũng do các đảng cộng sản lãnh đạo, nay đã thay đổi rất nhiều chỉ sau hai thập niên đổi sang mô hình tự do dân chủ.   Và nhìn rộng ra trên toàn thế giới, để thấy vị trí của Việt Nam ở đâu, đời sống vật chất tinh thần của người dân Việt Nam so với người dân ở các quốc gia phát triển ra sao.   Có nhiều người tự hỏi vì sao người Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đã kết thúc từ lâu?   Không có gì là khó hiểu. Ðối với nhà nước Cộng Sản Việt Nam, tuy tưởng là thắng cuộc nhưng càng ngày họ càng nhận ra họ không thể thu phục được nhân tâm “bên thua cuộc” cũng như lòng tin của nhân dân.   Càng ngày họ càng nhận ra họ không thể chiến thắng trong thời bình. Không thể đưa đất nước thành một quốc gia giàu mạnh, không thực hiện được khẩu hiệu “độc lập-tự do-hạnh phúc”, còn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội thì lại càng xa vời vợi. Cho dù mù quáng, bảo thủ đến đâu, tự sâu trong thâm tâm, họ hẳn phải nhìn ra con đường mà họ đi là sai lầm, sự chọn lựa của họ là sai lầm và có tội với đất nước, dân tộc.   Lịch sử rồi sẽ phán xét công tội rõ ràng của đảng Cộng Sản Việt Nam.   38 năm sau ngày hân hoan mừng chiến thắng và ở trên đỉnh cao của sự kiêu ngạo, giờ đây, những gì người ta có thể nhận thấy ở nhà nước Cộng Sản Việt Nam là sự hoang mang, bế tắc, khủng hoảng về mọi mặt.   Ðối ngoại, hèn nhát, bất lực trước âm mưu bành trướng bá quyền xâm lược Việt Nam ngày càng lộ rõ của Trung Quốc. Ðối nội, bế tắc, bất lực trong điều hành quản lý về kinh tế, xã hội, trong cuộc chiến chống tham nhũng, chỉnh đốn đảng, kể cả những cuộc tranh giành đấu đá nhau giữa các phe phái để giành ghế.   Sự lúng túng, mất phương hướng còn thể hiện qua hàng loạt động thái giả như kêu gọi sửa đổi Hiến pháp, đổi tên nước, trong khi vẫn ra sức đàn áp, ngăn chặn mọi tiếng nói đối lập, mọi sự thay đổi theo chiều hướng dân chủ hóa trong xã hội.   Ðối với “bên thua cuộc” và cả nhân dân Việt Nam, nếu như sau 38 năm, đảng cộng sản đã thành công trong việc đưa đất nước trở thành một quốc gia hùng cường, độc lập về chính trị, bảo vệ toàn vẹn toàn lãnh thổ lãnh hải, đem lại cuộc sống tự do, no ấm, công bằng cho nhân dân... Có lẽ nỗi đau về sự thua cuộc và cái giá quá lớn phải trả cho cuộc chiến sẽ qua đi. Ngược lại, cuộc chiến tranh sẽ tiếp tục còn là nỗi ám ảnh khi Việt Nam vẫn còn là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, khi nhân dân Việt Nam chưa thật sự được hưởng quyền tự do, dân chủ, sự bình an trong đời sống.   Một nguyên nhân khác khiến cho quá khứ khó quên, là từ trong chính tính cách của người Việt Nam.   Không chỉ riêng nhà cầm quyền là những kẻ bảo thủ và không muốn thay đổi, dường như cái tính ít chịu thay đổi, thiếu rộng lượng, khoan dung cũng nằm trong mỗi người Việt Nam. Cứ nhìn cách người Việt chúng ta hành xử với nhau trong đời thường hay quan điểm của chúng ta trước hầu hết mọi vấn đề trong cuộc sống thì rõ.   Sở dĩ như vậy cũng bởi vì chúng ta phải sống quá lâu trong một chế độ độc tài ngu dân. Ðặc biệt khi chế độ đó lại kết hợp trong nó những cái tồi tệ nhất của chủ nghĩa phong kiến hủ lậu, chủ nghĩa tư bản thời man rợ và chủ nghĩa cộng sản khát máu, vô thần, như ở Việt Nam hay Trung Quốc.   Cái thiện, nhân tính trong từng con người bị hủy hoại đến tận cùng. Sự chia rẽ, nghi kỵ, thiếu khoan dung, vô cảm, tàn ác... những sản phẩm của một chế độ không tin ở con người, không tôn trọng con người, cũng vì thế mà nảy nở sinh sôi.   Ðã nhiều lần nhà cầm quyền nhắc đến cụm từ hòa giải hòa hợp dân tộc. Và cứ mỗi khi ngày 30 Tháng Tư trở về, vấn đề này lại được xới lại.   Thiết nghĩ, cách hòa giải hòa hợp hiệu quả nhất không phải nằm trên bề mặt ngôn từ hay một vài hành động tỏ ra thiện chí từ phía nhà cầm quyền, mà là hãy dũng cảm thay đổi. Dứt khoát chọn lựa một con đường đi đúng đắn để vực dậy đất nước khỏi sự tụt hậu, bế tắc, cả nguy cơ đánh mất chủ quyền và độc lập vào tay bá quyền phương Bắc.   Một khi Việt Nam đã thoát ra khỏi thời kỳ do đảng cộng sản lãnh đạo để xây dựng lại đất nước, vết thương về cuộc chiến tranh tức khắc sẽ lành.   Bởi không còn có cảnh cứ vào mỗi ngày 30 Tháng Tư người thì tiếp tục ăn mừng ngày giải phóng, ngày chiến thắng, người cay đắng gọi là ngày Quốc Hận, Tháng Tư Ðen. Sẽ không còn có những cuộc tranh cãi bất tận về cờ vàng cờ đỏ, ai mới thật sự giải phóng ai hay tên gọi đúng nhất của cuộc chiến là gì, v.v...   Quá khứ chỉ có thể qua đi khi hiện tại cả dân tộc đã ở trên một nấc thang khác, một bước phát triển khác.   Nguồn: Song Chi Facebook    
......

Ba mươi tám năm về trước, Ngày 30-4-1975, Hoa Kỳ chạy khỏi VNCH

 Thật ra việc Hoa Kỳ bán đứng hai đồng minh VNCH và Đài Loan, để đổi lấy sự liên kết và trao đổi thương mại với Trung Cộng qua chuyến công du của cặp Nixon-Kissinger từ năm 1972, đã bị ông Daniel Ellsberg tiết lộ cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ hơn 40 năm về trước. Vì không thể giấu giếm mãi một sự kiện lịch sữ đã bị phanh phui, do đó ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bó buộc đã phải cho giải mật (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan trước 30-4-1975.. Sau đó, National Security Archive tại George Washington University công bố thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai, càng làm cho hầu như cả thế giới (từng là đồng minh hay chiến hữu của Hoa Kỳ) nhìn ra sự thật phũ phàng, qua việc siêu cường số 1 đứng đầu khối tự do, vì quyền lợi cá nhân đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự hòa hoản và giao thương với Trung Cộng. Xét cho cùng, việc làm trên chẳng qua cũng chỉ là để xác nhận một cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, với hy vọng chấm dứt những thị phi bất lợi về chữ tín của Mỹ trên thế giới, nhất là trong giai đoạn Hoa Kỳ rất cần nhiều đồng minh mới lẫn cũ, khi có ý định trở lại Châu Á-Thái Bình Dương hiện nay, chắc là để cùng Trung Cộng tiếp nối những giao kết bí mật còn dang dỡ của bốn mươi mươi năm về trước ?   Tài liệu trên đã làm lộ bộ mặt thật của Kissinger, qua nhiều hồi ký đã xuất bản nay không còn giá trị vì nhiều điều viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Tóm lại Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ trên hết, bất chấp sự phản bội những đồng minh cũng như đã giấu giếm và lừa đảo cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ. Do ác tâm trên, nên từ đầu thập niên 1970, Hoa Kỳ vì cần bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô, nên nhẫn tâm loại Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Tàu đỏ vào thay thế vị trí này, đồng thời còn  công nhận chỉ có một nước Tàu  và Đài Loan chỉ là một tỉnh của Trung Cộng cho đến ngày nay vẫn không thay đổi.   Tài liệu cũng cho thấy  Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa để mặc cộng sản Bắc Việt chiếm trong lúc Mỹ-Việt đang liên minh quân sự chống kẻ thù chung VC. Quan trọng nhất là Mỹ đã cam kết với Tàu đỏ sẽ phủi tay và bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng trong vài thập niên. Tài liệu còn ghi rõ vào dịp giáng sinh năm 1972, Bắc Việt rất hổn loạn và đang chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B-52 bỏ bom ở Hà Nội, nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì VC đã đầu hàng. Nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom trong lúc chiến thắng đang gần kề, thay vào đó lại ký hiệp định ngưng bắn 28-1-1973 tại Ba Lê như một văn kiện bán đứng Miền Nam VN cho cộng sản đệ tam quốc tế !   Hiệp định Paris 1973 Lê Đức Thọ - Kissinger   Vì biết chắc Mỹ đã bán đứng đồng minh cho mình, nên đầu tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng xua hải quân cưởng đoạt quần đảo Hoàng Sa của VNCH. Hải Quân Miền Nam đã chiến đấu thật oanh liệt và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo nhưng dù đã nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu, hải quân Mỹ vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan nghiệt trên Biển Đông. Trận Hải Chiến Hoàng Sa giữa VNCH & TC 1974   http://www.youtube.com/watch?v=54PCp2Eny74 Chính vì đã có ý định phủi tay bỏ Nam VN, nên cuối năm 1974, tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, đã bắt đầu lập bản dự thảo kế hoạch rút số viên chức còn lại, cũng như di tản những thành phần bản xứ có liên hệ với họ. Ðó là chiến dịch ‘ Talon Vice ‘, sau được đổi thành ‘Frequent Wind ‘.Theo sử liệu bật mí mới đây, sở dĩ kế hoạch trên vào phút chót, trở thành ‘đầu gà đít vịt ‘, là do sự bất đồng ý kiến giữa đại sứ Mỹ Martin và phái bộ quân sự Hoa Kỳ (Dao). Nhưng đây cũng chỉ là cái cớ, để phần nào làm nhẹ bớt tội tắc trách của ông đại sứ. Cũng theo tài liệu, sự thất bại còn có rất nhiều lý do khác, chẳng hạn do tướng Smith, trưởng cơ quan Dao, đã tiết lộ kế hoạch chạy của Mỹ, trong bữa tiệc do Tổng Cục Tiếp Vận tổ chức trong đêm giáng sinh 24-12-1974.   Tin này lập tức được loan truyền rộng rải, nên thay vì Mỹ di tản các thành phần quan trọng có nguy hai tới tánh mạng khi VC vào, lại chỉ vớt toàn bọn nhà giàu và đặc biệt là không ít tướng-tá ăn không ngồi chơi xơi nước tại các cơ quan đầu não trung ương về quân sự cũng như hành chánh. Bọn này đa số đều giàu có về tiền bạc cũng như quyền thế và phe cánh Mỹ, nên ra đi ngoài gia đình nội ngoại ba đời, còn có cả con sen thằng ở. Sau rốt là do đại sứ Martin tới giờ phút chót, vẫn còn ngu xuẩn, cả tin vào sự hẹn hứa của Bắc Việt, nên nuôi ảo vọng thương thuyết, khi chấp nhận điều kiện ‘ đổi ngựa ‘ hết Nguyễn Văn Thiệu, tới Trần Văn Hương và cuối cùng là Dương Văn Minh. Nhưng kết cuộc Mỹ đã bị VC bịp xã láng, nên đã phải bỏ chạy nhục nhã trong đêm tối 29-4-1975, khắp các mái nhà Sài Gòn, đến nỗi quên cả cuốn và vác cờ theo. Thật là một trò hề vô cùng sĩ nhục của siêu cường Hoa Kỳ, lãnh tụ của phe thế giới tự do.     Theo bản dự thảo ban đầu, chiến dịch di tản gồm có bốn giải pháp, tùy theo hoàn cảnh để thi hành như 1- Dùng hàng không dân sự để di tản người tại phi trường Tân Sơn Nhất. 2- Sử dụng các vận tải cơ C123,130 và C5 để bốc người tại Sài Gòn cũng như các tỉnh lân cận. 3- Sử dụng các loại thương thuyền có sẵn tại bến Bạch Ðằng. 4- Dùng trực thăng bốc người từ Sài Gòn, đưa ra các chiến hạm.   Sau khi quân đoàn I và II tan rã, ngày 1-4-1975 Dao đã cho thành lập một cơ quan điều hợp di tản, gọi tắt là DCC tại Tân Sơn Nhất và giải pháp (4) dùng trực thăng bốc người được chọn, nếu phi trường Tân Sơn Nhất bất khiển dụng.  Ngày 3-4-1975, Dao lại thành lập thêm Toán Thiết Kế đặc biệt, có nhiệm vụ thanh lọc, để xác nhận tổng số người VN cần di tản và tới ngày 7-4-1975, có 70.000 người được lên danh sách. Ngay sau đó, Dao đã tổ chức một đoàn xe Bus, chuyên chở họ từ tư gia vào phi trường TSN. Vì hầu hết sân thượng tại Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịnh không đủ tiêu chuẩn để cho các loại trực thăng H46 và H53 đáp, nên Dao phải trưng dụng tất cả các trực thăng nhỏ của hãng Air American do CIA thuê mướn, bốc người khắp nơi về Dao, sau đó trực thăng lớn mới chở ho ra chiến hạm.    Ngày 9-4-1975, Bắc Việt xua đại quân tấn công Xuân Lộc. Cơn phẫn nộ của QLVNCH và dân chúng được bộc phát tại đây. Sư Ðoàn 18 BB, Lữ Ðoàn 1 Dù, Thiết đoàn 5 kỵ binh, Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân Long Khánh, chẳng những đã chận đứng cộng quân tại chiến trường mà còn tiệu diệt cả vạn quân xâm lăng phương bắc, khiến cho Hà Nội lại la làng là Mỹ bội tín đem bom nguyên tử vào thả tại VN.    Do tình hình chiến trường biến động khắp nơi, báo hiệu nguy cơ miền Nam sắp mất, nên Dao đã mướn nhà thầu sửa chữa các sân thượng tại đây, đồng thời yêu cầu toà đại sứ cho đốn cây cổ thụ trước sân, để làm bãi đáp khi hữu sự nhưng đã bị Martin phản đối và bác bỏ.    Ngày 16-4-1975, tướng Home Smith chỉ huy trưởng Dao, ra lệnh đóng cửa các PX, đồng thời bắt buộc các quân nhân không cần thiết và tất cả nhân viên dân chính cùng gia đình, đều phải hồi hương.    Ngày 24-4-1975 thời tổng thống Trần văn Hương, do tình hình chiến sự bùng nổ dữ dội lhắp nơi, nên đại sứ Martin mới cho thi hành giải pháp (3) trong chiến dịch Frequeent Wind, sử dụng tất cả các thương thuyền trống, sau khi đã giở hàng để di tản. Trong lúc đó, vì tuân thủ theo lệnh của chính phủ VNCH, nên hầu hết các máy bay quân sự của Mỹ khi rời Sài Gòn đều trống không, dù có rất nhiều người đang sắp hàng ngày lại ngày, để chờ phương tiện xuất ngoại.    Ngoài việc di tản quân nhân, viên chức tòa đại sứ rời VN, ngày 4-4-1975, Dao lại cho thực hiện chiến dịch ‘ Baby Lift ‘, di tản 250 em mồ côi VN tại các cô nhi viện sang Hoa Kỳ, bằng vận tải cơ khổng lồ C5A-Galaxy. Tháp tùng trong chuyến đi này, còn có 37 nữ thơ ký và phân tách viên của Dao, với nhiệm vụ giúp đỡ và săn sóc các em trong suốt cuộc hành trình. Nhưng than ôi công tác đầy nhân đạo này, đã bị bàn tay bí mật nào đó phá vỡ ngay. Bởi vậy máy bay vừa mới cất cánh, thì đã rớt xuống ngay tại đầu phi đạo tan tành. Rốt cục chỉ còn sống sót 175 người. Tới nay sự việc trên vẫn chưa được soi sáng , nên đâu biết ai là thủ phạm đã gây nên tai nạn thương tâm cho các em bé mồ côi khốn khổ trên.     Tại Subic Bay-Phi Luật Tân, ngày 17-4-1975, lực lượng đặc nhiệm 76 của Hải quân Hoa Kỳ, vừa mới cặp bến để tu bổ và sửa chữa tàu bè, sau một thời gian dài đã tham dự cuộc hành quân Eagle tại Ấn Ðộ Dương, thì lại nhận được lệnh rời bến, tới chờ lệnh tại biển Nam Hải, ngoài hải phận Nam VN.    Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, tình hình chiến sự tại miền Nam vô cùng sôi động. Khắp nơi, những đơn vị còn lại của QLVNCH gồm Sư đoàn Dù, Sư đoàn TQLC, các Liên Ðoàn Kỵ Binh, Pháo Binh, Lực Lượng III Xung Kích, Sư đoàn 18, 5, 25, 22, các Sinh viên sĩ quan Trường Võ Bị QG.Ðà Lạt, Chiến Tranh Chính Trị, Thủ Ðức, Học Viện Sĩ quan Cảnh sát, khóa sinh HSQ-Binh sĩ quân dịch các Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp, Quang Trung, Lực lượng Ðịa Phương Quâm-Nghĩa Quân, Cảnh sát Dã chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông thôn cả Nhân Dân Tự vệ.. phối họp với Không quân, Hải quân và Quân đoàn IV, gần như tử chiến với mấy trăm ngàn cán binh-bộ đội cọng sản Bắc Việt, từng giây phút, suốt đêm ngày.. trong nổi đoạn trường máu lệ. Tất cả đã lấy xương thịt và thân xác, thay súng đạn ngăn chận xe tăng, đại pháo và biển giặc, vì người Mỹ đã cúp hết quân viện từ ngày 25-4-1975.   Ðêm 28-4-1975, Nguyễn Thành Trung hay Ðinh Thành Trung, con rớt của một cán bộ tập kết ở Bến Tre, nằm vùng trong không quân VNCH. Thi hành theo lệnh của Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng quân đội VC, lái A37 giội bom phi trường Tân Sơn Nhất. Theo Lê văn Trí, tư lệnh KQ cọng sản miền bắc, thì VC đã dùng các máy bay của QLVNCH đã bỏ lại tại các phi trường Ðà Nẳng, Phù Cát để oanh tạc Sài Gòn. Sáng 28-4-1975, sáu chiếc A37 được chuyển vào sân bay Thanh Sơn (Phan Rang), do Trung làm phi đội trưởng, hợp với các phi công Băc Việt gồm Từ Ðể, Nguyễn văn Lục, Hoàng Mai Vượng, Hàn Văn Quảng và một tên phi công phản tặc khác của VNCH là Trần văn On. Vì các máy bay trên không mở đèn, hơn nửa lực lượng phòng vệ ở dưới đất tưởng là bạn, nên chúng mới toàn mạng. Vụ oanh tạc trên đả làm hư hại 3 chiếc Hỏa Long AC119, vài chiếc C47 nhưng quan trọng nhất là đã tạo tình trạng hỗn loạn tại phi trường, đang có nhiều người đợi máy bay di tản. Ngoài ra còn có nhiều đoạn phi đạo bị bom và đạn pháo kích làm hư hỏng, không còn sử dụng được. Trước tình trạng hỗn loạn này, tướng Smith ra lệnh giới nghiêm Dao 24/24, trong khi đó tại tòa đại sứ, Matin vẫn bất động.  Sau này qua các tài liệu báo chí, đọc được nhiều chuyện vui cười ra nước mắt, liên quan tới sự người Mỹ tiếp tục quân viện cho VNCH, theo tinh thần hiệp định Ba Lê 1973 và những lời hứa của Nixon, từ các thơ riêng viết tay. Thật sự để có lý do hạ cánh những vận tải cơ khổng lồ C5, người Mỹ giả bộ chở tới một vài khẩu súng đại bác 105 ly thời Thế chiến 1, ít trăm bộ nón sắt cháo lòng không giống ai. Tàn nhẫn nhất trong số những thứ rác phế thải này, có nhiều thùng băng cá nhân đã xử dụng. Biết Hoa Kỳ đã tận tuyệt rồi nhưng chính phủ VNCH vẫn giả đò tương kế tựu kế, họp báo đăng tin, để phần nào giữ lại chút niềm tin cho người lính đang xả thân nơi chiến trường, trong giờ thứ 25 đối mặt với thù trong giặc ngoài. Riêng Mỹ thì mục đích đến là để chuyển tải tất cả hồ sơ mật và những vật dụng máy móc điện tử quý giá về nước.  Lạ lùng nhất là lúc 3 giờ sáng ngày 29-4-1975, tại Dao có 3 chiếc vận tải cơ C130, thường trực chuyển người ra chiến hạm. Nhưng không biết vì lẽ gì, lại chở từ biển vào Sài Gòn, ba quả bom con heo tiểu nguyên tử (Blue 82 Daisy Cutter), loại bom 15.000 Lbs, mà QLVNCH đã sử dụng tại mặt trận Xuân Lộc-Long Khánh vừa qua. Khôi hài hơn là trong lúc các chuyên viên Mỹ-Việt đang hì hục tháo gỡ đem bom vào kho, thì một phi công Hoa Kỳ lại bạch thoại trên vô tuyến, khiến cho CS Bắc Việt bắt được tần số và nã ngay hỏa tiễn 122 ly vào phi trường, làm cháy một vận tải cơ C130 đang bốc người. Thế là Dao chấm dứt kế hoạch di tản bằng máy bay lớn ra hạm, vì phi trường đã bất khiển dụng.   Trong lúc những lãnh đạo chính trị của Miền Nam đang trầm kha trong ảo vọng thương thuyết hòa hợp để kết thúc cuộc chiến, thì đúng nửa đêm 29-4-1975 cũng là giờ mà cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, chọn là giờ ‘ G’ ngày ‘ N’ tổng tấn công dứt điểm VNCH. Sài Gòn đã rối loạn vì hơn mấy chục sư đoàn cọng sản Bắc Việt đã áp sát thủ đô. Một số đại pháo được tập trung nã vào các khu vực đông dân cư trong nội thành. Phần khác là do đám quan quyền, ngày thường ngồi trên ăn đủ, cùng với bọn nhà giàu,. tới tấp ra đi, khiến cho lòng người càng thêm tơi tả, không biết đâu mà mò. Tuy rằng trung ương không còn đại bàng nhớn nhưng khắp bốn hướng, quân lực VNCH vẫn chiến đấu dũng mãnh, gần như lấy máu xương của chính mình để ngăn cản bước tiến của giặc. Lữ đoàn 4 Nhảy Dù, Sư Ðoàn TQLC, Sư đoàn 18 BB, Lực lượng III Xung Kích, Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân, Sư đoàn 22 BB, Giang Ðoàn 54 Tuần Thám, Lực Lượng Ðịa Phương Quân + Nghĩa Quân.. và đặc biệt là Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, từ ngày 26-4-1975, đã được lệnh về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.   Anh hùng tử khí hùng bất tử Nhưng giữa lúc người lính bộ đang lội trong biển máu thù, thì trên trời gần hết những phi công anh hùng của QLVNCH đã ngoảnh mặt phủi tay ra đi không trở lại, hoặc bay về đất Thái hay hướng thẳng biển đông. Khiến cho phi trường Tân Sơn Nhất thêm hiu quạnh thảm thê với xác người nằm bất động, lẫn lộn với quân trang quân dụng , cơ phận máy bay, vũ khí và những lính quèn hèn mọn, giờ phút cuối vẫn ở lại tử thủ với phi trường!   Nhưng không phải ai cũng tham sống sợ chết, chỉ muốn hưởng vinh hoa phú quý mà người Mỹ hứa hẹn. Vẫn còn vài chiếc Hoả Long AC119 K, cùng với hai khu trục A1 Skyraider, đã không ngừng lên xuống, nã đạn pháo, thả hỏa châu, soi sáng giúp quân bạn đang chiến đấu dưới đất. Kiên cường nhất là Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Ông đã lái AC119 bắn phá những vị trí pháo của VC quanh phi trường, nhờ vậy nhiều người trong số này có tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu tư lệnh KQ, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH.. mới bay được trực thăng riêng từ tư gia ở Tân Sơn Nhất, ra chiến hạm đi Mỹ. Thương thay người hiền không bao giờ sống lâu, nên Trung Uý Thành đã gãy cánh vào lúc 6 giờ 46 phút, sáng ngày 29-4-1975, khi chíếc hỏa long của ông bị một hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 chém đứt cánh máy bay và bốc cháy trên bầu trời.   9 giờ 30 sáng ngày 29-4-1975, Sài Gòn đã hỗn loạn khắp nơi. Do trên tướng Smith yêu cầu đại sứ Martin cho thi hành giải pháp ‘ 4’ trong chiến dịch di tản, nhưng đã bị từ chối. Nguyên do vì đại sứ Mỹ lúc đó vẫn còn ngây thơ tin rằng tổng thống VNCH Dương văn Minh, có khả năng hoà hợp, hòa giải với VC để vãn hồi hòa bình cho VN. Cùng ngày, từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, Kissinger đã gọi điện khẩn cấp sang Sài Gòn, ra lệnh cho đại sứ Martin phải di tản gấp. Từ đó, Martin mới cho lệnh đốn cây đa cổ thụ trước sân toà đại sứ vào lúc 11 giờ 01 phút, để làm bãi đáp cho trực thăng. Ðây cũng là thời gian, Martin gơi ý nhờ TT. Dương văn Minh giả bộ đuổi Mỹ trên đài phát thanh Sài Gòn. Có như vậy siêu cường Hoa Kỳ mới chạy khỏi VN trong danh dự, đồng thời giúp TT Minh có chính nghĩa   TT Dương Văn Minh Nhờ bài bản xuất sắc, diễn viên ăn khớp, Martin đã cứu nước Mỹ phần nào bớt mất mặt trước đồng minh thuộc phe thế giới tự do, cũng như đàn em kẻ thù Liên Xô-Trung Cộng. Nhưng đồng thời Martin chính là người đã phá hỏng kế hoạch di tản, vì lúc chịu thi hành thì trời đã tối, nên các tài xế xe bus đều nghĩ việc, khiến cho nhiều người có tên trong danh sách di tản không được đón. Ðể cứu vãn tình thế nguy cấp tồi tệ trên, tướng Smith đã cho các loại trực thăng nhỏ của hãng Air American đi bốc người thế xe bus.. nhưng đã quá trễ.    Ba mươi tám năm về trước, người Sài Gòn làm sao quên được cảnh tượng hai ngày 29 và 30-4-1975, nếu có dịp đi ngang qua tòa đại sứ Hoa kỳ, kế toà đại sứ Pháp và nhà thờ Tin Lành, nằm trong chu vi các đường Hồng Thập Tự, Hai Bà Trưng và đại lộ Thống Nhất. Có thể gọi được là một biển người, đã tụ tập trước hai cánh cổng sắt vô tri của tòa đại sứ. Lúc đó hầu như người nào cũng giơ hai tay lên cao, trong đó ngoài các giấy tờ còn có những nắm đô la dầy cộm, với những tiếng gào thét, van nài nghe thật là bi thiết não nuột, trước những cặp mắt gần như lạc thần lạnh lẽo của lính thủy quân lục chiến Mỹ. Ai cũng lăm lăm tay súng có gắn lưỡi lê, làm như đã sẵn sàng phanh thây bầm xác bất cứ ai, muốn xé rào vượt cổng.   Trước Cổng Tòa Đại Sứ Mỹ   Cùng lúc quang cảnh phía bên trong khuông viên của tòa đại sứ cũng đâu có khác gì bên ngoài. Sóng người đang đùn ép, xô lấn, cấu xé với nhau để tới cho được chân tường, dẫn vào cầu thang lên sân thượng, nơi đoàn trực thăng dùng làm bãi đáp lên xuống, để bốc người ra chiến hạm. Màn đêm lúc đó như được Thượng Ðế ban thêm ân huệ, nên cứ kéo dài hơn, để cho những kẻ chờ đợi nuôi chút hy vọng mỏng manh trong cơn tuyệt vọng. Tóm lại đến giờ phút hỗn loạn đó, thì không ai còn cần chú ý làm gì tới danh sách nửa. Bốc người tại chỗ, có nghĩa là ai mạnh chen được tới trước thì đi, khiến cho hằng vạn người từng giúp Mỹ rất đắc lực như thơ ký, thông dịch viên, nhân viên tình báo, cảnh sát chìm.. cứ ngóng cổ chờ di tản, rốt cục sáng ra mới biết Mỹ đã đi hết rồi.    Ðể thi hành chiến dịch di tản bằng trực thăng, tướng tư lệnh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là Carey từ chiến hạm bay vào tòa đại sứ lúc 13 giờ 15 ‘ chiều 29-4-1975 và hạ cánh tại Dao. Cùng lúc có một Toán Không Lưu do thiếu tá KQ Dave Cox chỉ huy. Họ dọn dẹp sân thượng và chỉ dẫn đoàn trực thăng từ biển vào bốc người. Trong lúc đó súng cối và đại bác của VC quanh Sài Gòn nổ tới tắp.  15 giờ 06 phút chiều 29-4-1975, một đoàn 12 chiếc trực thăng Mỹ, chở TQLC do trung tá J.L Bowltan chỉ huy, thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 76 tới bố trí quanh Dao để giữ an ninh. Ðoàn trực thăng lên xuống bốc người không ngớt, mỗi chiếc chở một lần từ 50-60 người.   Nhưng cuộc di tản đã gặp trở ngại vì bãi đáp trực thăng trúng đạn pháo kích của VC bốc cháy. Trong lúc sự liên lạc giữa toán không lưu và các phi công cũng bi trục trặc vì máy truyền tin bị hỏng, còn trung tâm tiếp vận đài tại Sài Gòn hoàn toàn tê liệt.    Những giờ phút cuối, để giải quyết số người còn ứ đọng, Mỹ phải dùng các loại trực thăng lớn CH6 và H53 đáp ngay tại bãi đậu xe trước tòa đại sứ. Song song với trực thăng Mỹ, trực thăng của KQ.VNCH cũng bốc người ra đi từng đoàn. Thành phố đã bị cúp điện hoàn toàn từ 6 giờ 30 tốì 29-4-1975. Khắp nơi trời đất tối thui, dân đen thì run rẩy núp kín trong nhà để giữ mạng, phần lính tráng còn lại, từ quan tới thuộc cấp, ai củng cố chóng con mắt chờ sáng trong các giao thông hào, đợi phép lạ mà tổng thống Dương văn Minh đã hứa là sẽ tới vào sáng ngày 30-4-1975.     Sài Gòn đã chết từ đó, chỉ còn có tiếng quạt của các loại trực thăng gầm thét đinh tai điếc óc, nơi khoảng không gian mà Mỹ còn làm chủ, nhờ sự bảo vệ của QLVNCH trong giờ thứ 25 dưới đất. Ðây cũng là những lời thóa mạ cuối cùng của người Mỹ trước khi về nước, để lại nghìn đời trên xác chết chưa chôn của miền nam VN trong thế kỷ XX.   Cũng lúc đó, nơi các nẻo đường vắng ngắt dẫn về thương cảng, bến tàu Sài Gòn, từng chặp từng chặp lai xao động bởi tiếng máy nổ ròn của đủ loại xe dân, lính.. xen lẫn đâu đó là các tràng súng ngắn. Lúc này bọn sĩ quan đào ngủ, bọn nhà giàu bất lương, bọn trí thức cà chớn một thời phá nát miền Nam.. cũng ôm đầu chạy trối chết, tới các bến tàu, để tìm đường vượt thoát cọng sản, trên các chiến hạm Hải quân và Thương thuyền đang hối hả nhổ neo ra khơi. Súng nổ, đạn cối rơi, hỏa tiễn xuyên phá, tiếng trực thăng gào thét.. như những giọt nước mắt trước cơn mưa thống hận VN, ba mươi tám năm qua cũng vẫn là những hình ảnh và âm thanh , mà người Sài Gòn đã cảm nhận trước vài giờ, khi toàn thể non sông Hồng Lạc bị đắm chìm trong vũng bùn ô uế của xã nghĩa thiên đàng, mà thực chất là chốn địa ngục có thật, do quỹ vương Hồ Chí Minh mang từ Nga Tàu về đày đọa đồng bào.   Ðúng 9 giờ tối đêm 29-4-1975 cuộc di tản tại Dao kết thúc. Người Mỹ vội cho thiêu hủy toàn bộ những gì còn lại trong toà nhà này, mà một thời được coi như một tiểu bạch ốc ở phương đông. Chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh lúc 12 giờ đêm, bỏ lại đằng sau cảnh đời trong biển lửa.   Riêng tại tòa đại sứ Mỹ, sự di tản đã gặp rất nhiều khó khăn vì đen không đủ soi sáng hiện trường, còn bãi đáp thì quá nhỏ không thích hợp cho các loại trực thăng lớn, Tuy nhiên việc bốc người vẫn được tiếp tục, từ 11 giờ đêm 29-4-1975 cho tới 3 giờ sáng ngày 30-4-1975. Sự liên lạc bằng vô tuyến giữa Sài Gòn và Hoa thịnh Ðốn cũng chấm dứt lúc 1 giờ 06 phút, khi trạm liên lạc vệ tinh tại Dao đã bị phá hủy. Ðể nối liên lạc giữa Mỹ và toà đại sứ, Không quân Hoa Kỳ phải thiết lập một trạm liên viễn thông vệ tinh trên chiếc C130, nhưng vẫn không mấy hiệu quả.   3 giờ sáng ngày 30-4-1975, bộ ngoại giao Mỹ ra lệnh cho tòa đại sứ Sài Gòn chấm dứt di tản nhưng Martin không chịu thi hành, vì lúc đó tại chỗ vẫn còn hơn 12.000 người chờ bốc ra chiến hạm. Tới 4 giờ 56’ sàng, chính Tổng thống Ford ra lệnh bằng điện thoại, bắt buộc ông đại sứ phải rời VN. Do không còn cách nào lựa chọn, Martin đành phải bỏ lại 420 người đang đợi, trong số người này có cả nhân viên của toà đại sứ Nam Hàn. Martin ra đi đơn độc với con chó nhỏ tên Nitnoy, trên chiếc trực thăng CH46, do Ðại Uý Thủy Quân Lục Chiến tên G.Berry lái.  Tù phút đó, chỉ còn lại toán lính TQLC Mỹ giữ an ninh tòa đại sứ. Họ rút hết vào bên trong tòa nhà, đóng cửa sắt và lên trên sân thượng đợi. Ðúng 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trực thăng ngoài biển bay vào đón họ, chấm dứt sự hiện hữu lần thứ ba của người Mỹ trên nước VN, tính tròn 21 năm , từ lúc tướng Edward Landale của CIA đặt chân tới Sài Gòn. Tình đồng minh, đồng hướng và chiến hữu giữa VNCH cùng Hoa Kỳ, cũng chấm dứt từ đó.   Theo tài liệu được Mỹ công bố, thì tòa đại sứ và Dao ngày 29 rạng 30-4-1975 chỉ di tản được 7014 người, phần lớn không có tên trong danh sách được lập lúc ban đầu. Ðể hoàn thành công tác trên, người Mỹ đã sử dung trực thăng của Sư đoàn 7 Không quân và Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Suốt thời gian chiến dịch, chỉ có một A6 bị mất tích, một trực thăng AH1J. Cobra rớt xuống biển và 2 lính TQLC Mỹ bị tử thương khi VC pháo kích vào Dao tại phi trường Tân Sơn Nhất.   Tuy người Mỹ đả chính thức rời Sài Gòn vào lúc 7 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975 nhưng trọn ngày đó cho tới hôm sau 1-5-1975, nhiều trực thăng của Không quân VNCH khắp nơi bay tới Hàng Không Mẫu Hạm Midway, đang bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu để xin đáp. Vì có quá nhiều người, nên Mỹ đã phải xô nhiều trực thăng xuống biển, để làm bãi đáp cho các trực thăng tị nạn. Dù việc làm trên có thiệt hại hằng triệu mỹ kim nhưng cũng đã cứu vớt đươc nhiều chiến binh trong giờ phút cuối cùng, không còn một lựa chọn nào khác hơn, trong khi nước đã mất.       Ba mươi tám năm qua rồi, ngày nay chắc gì còn ai nhớ tới chuyện cũ, kể cả những đắng cay đoạn trường mà tất cả quân cán chính VNCH và đồng bào Miền Nam hứng lãnh trong địa ngục Cộng Sản có thật trên quê hương mình!   Xóm Cồn Hạ Uy Di Tháng 4-2013. Mường Giang   http://huongvebinhthuan.org/index.php?categoryid=1&p2_articleid=387
......

Tưởng niệm tháng Tư Đen 2013 tại Frankfurt, Đức quốc

Mặc dù đã cuối tháng 4, cái lạnh 6 độ C vẫn còn vương vấn và từ 3 hôm trước dự báo thời tiết đã cho biết trời sẽ mưa dầm và lạnh vào ngày thứ Bảy, 27.4.13, nhưng không làm sờn lòng hơn 200 người Việt còn trăn trở với hiện tình đất nước, đặc biệt từ các tiểu bang xa như Berlin, Hamburg, München, Bremen,...đã tụ về trước Lãnh sự quán CSVN nằm trên đường Kennedyalle thuộc thành phố Frankfurt / Main để tham dự cuộc biểu tình tưởng niệm biến cố đau thương 30.4 cách đây 38 năm, cũng như hun đúc tinh thần và khẳng định quyết tâm chống lại sự cai trị bạo tàn của đảng Cộng sản Việt Nam, do Hội NVTNCS tại Frankfurt phối hợp với Liên Hội NVTNCS và nhiều tổ chức, đoàn thể người Việt tại CHLB Đức tổ chức. Đặc biệt nhất là sự hiện diện của cụ Nguyễn Đình Tâm tròn 90 tuổi, đến từ Berlin đã được mọi người vỗ tay trân trọng tán thưởng. Đối diện lãnh sự quán CSVN Chương trình sinh hoạt ngày Quốc Hận đã bắt đầu vào lúc 12 giờ 30 bằng nghi thức chào cờ và mặc niệm trong rừng cờ vàng và biểu ngữ. Ông Võ Hùng Sơn, chủ tịch HNVTNCS tại Frankfurt đã khai mạc bằng bài diễn văn ngắn nhắc lại biến cố đau thương cho cả nước đúng 38 năm trước, khi miền Nam tự do mất vào tay khối cộng sản. ĐCSVN sau đó đã tiến hành những chính sách trả thù người dân miền Nam và đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ đã biến một miền Nam Việt Nam trù phú thành một nơi đói nghèo như Bắc Hàn. Chính sách hà khắc và ngu dốt đó đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nưóc ra đi và đã khiến hàng trăm ngàn người phải bỏ thây nơi rừng sâu, trên biển cả. Nhưng điều đáng nói hơn cả là thái độ khiếp nhược của lãnh đạo ĐCSVN trước tham vọng sát nhập Việt Nam vào đất Tàu của nhà cầm quyền Trung Cộng (TC). Họ đã để TC ngang nhiên xâm phạm hải phận Việt Nam ở biển Đông như vào chỗ không người, để TC khai thác bauxite ở Tây Nguyên, rừng đầu nguồn và nhiều nơi khác gây nguy hại trầm trọng đến an ninh quốc gia. ĐCSVN cũng đã cắt nhượng nhiều phần lãnh thổ Việt Nam cho TC để đổi lấy sự bảo kê giữ chặt quyền lực. Ngoài ra, sự can đảm đứng lên và chấp nhận hy sinh của những con dân Việt Nam tại quốc nội trong những năm qua đã được mọi người ca ngợi, tuyên dương. Tiếp theo là phần phát biểu của các đại diện tổ chức, hội đoàn tại Đức như Cộng đồng Người Việt tại Berlin (cụ Nguyễn Đinh Tâm, 90 tuổi), đảng Dân Tộc (ông Trần Văn Sơn), Hội NVTNCS tại Mönchengladbach (ông Nguyễn Văn Rị), Tu sĩ Thích Ấn Tâm, Hội Người Việt tỵ Nạn vùng Rurhgebiet (2 bạn trẻ Vũ Duy Minh Khoa và Vũ Duy Yến Ngân), Hội Người Việt tỵ Nạn tại Oldenwald (ông Lê Trung Ưng), đảng Việt Tân (ông Nguyễn Thanh Văn), Hội Người Việt tỵ Nạn tại Köln (Liêu Tuấn Tú),…với nội dung xoay quanh việc tưởng niệm nạn nhân của chế độ độc tài cộng sản và tố cáo tội ác buôn dân bán nước của CSVN cũng như kêu gọi đồng bào hải ngoại tiếp tay với đồng bào quốc nội để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa đất nước và chống ngoại xâm. Đặc biệt một phụ nữ, đại diện cho cộng đồng người Tây Tạng tại Đức cũng đã phát biểu ủng hộ cuộc đấu tranh của người Việt Nam. Những bài phát biểu cũng không quên tố cáo âm mưu chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại qua nghị quyết 36 nhằm vô hiệu hóa những nỗ lực đấu tranh cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Rừng biểu ngữ hầu hết nói lên khát vọng tự do dân chủ cho đất nước, tố cáo tội ác của ĐCSVN và tham vọng bành trước của Bắc Kinh. Sau những bài phát biểu là những tiếng hô „Đả đảo ĐCSVN buôn dân bán", „Tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam" vang dội một góc phố. Cụ Nguyễn Đình Tâm (Berlin) Ông Nguyễn Văn Rị (Hội NVTNCS Mönchengladbach) Ông Trần Văn Sơn ( Đảng Dân Tộc) Tu sĩ Thích Ấn Tâm Ông Trịnh Đỗ Tôn Vinh (Liên Hội NVTN tại Đức) Anh Vũ Duy Minh Khoa (Hội NVTNCS Ruhrgebiet) Cô Vũ Duy Yến Ngân (Hội NVTNCS Ruhrgebiet) Ca sĩ Thu Sương (đến từ Pháp quốc) Ông Lê Trung Ưng (Hội Người Việt tỵ Nạn tại Oldenwald) Ông Nguyễn Thanh Văn (Đảng Việt Tân) Ông Liêu Tuấn Tú (Hội NVTN tại Köln) Ông Trần Văn các (Hội NVTNCS tại Bremen) Đại diện Cộng đồng Người Tây Tạng Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng, Anh Trịnh Đỗ Tôn Vinh (Liên Hội NVTN tại Đức) và cô Vũ Duy Yến Ngân ( Hội NVTNCS vùng Ruhrgebiet) đã đảm nhận phần tiếng Đức để nói cho người Đức hiểu rõ mục đích của buổi biểu tình. Đặc biệt, chị „Hạt Sương Khuya“, ca sĩ Thu Sương từ Paris sang đã góp mặt với những bài ca thiết tha và rực lửa đấu tranh làm cho khí thế cuộc biểu tình càng dâng cao. Cuộc biểu tình cũng đã được trực tiếp truyền thanh vào các diễn đàn trên internet như Paltalk. Trời vẫn mưa, vẫn lạnh buốt, nhưng nhờ những ổ bánh mì thịt của ban tổ chức chuẩn bị sẵn, đoàn biểu tình đã ấm áp lại phần nào. Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán CSVN chấm dứt vào lúc 14giờ 30. Sau đó đoàn biểu tình đã diễn hành đến Lãnh sự quán Trung Cộng với biểu ngữ và rừng cờ vàng cả hai con đường, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình và lịch sự của những nhân viên công lực Đức. Trước lãnh sự quán TC Khoảng 14 giờ 30, ban tổ chức nhanh chóng thu dọn cờ, biểu ngữ, dàn âm thanh, … và hướng dẫn đoàn biểu tình di chuyển đến lãnh sự quán TC chỉ cách đó khoảng 300m. Đoàn đi, vàng cả hai con đường, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình và lịch sự của những nhân viên công lực Đức. Những bài phát biểu cùng những tấm biểu ngữ lớn nhỏ tố cáo những hành động bành trướng tại biển Đông của TC đã được cất lên, xen kẽ là những tiếng hô đả đảo TC. Tại đây một số biểu ngữ bằng hình ảnh có nội dung rất lý thú cũng được một số tham dự viên trương lên (xin xem hình) nhằm tố các những chính sách dùng hàng giả, sử dụng hacker, hàng độc hại, đánh cắp bản quyền….. Cuộc biểu tình trong công viên nhỏ nằm đối diện với Lãnh sự quán Trung cộng đã thêm phần khí thế với sự góp mặt của Nhóm khoảng 10 người Tây Tạng. Họ mặc áo, choàng cờ vàng lên vai, cầm bảng lưỡi bò bị kéo cắt. Họ hát bằng tiếng Tây Tạng; dù không hiểu người người Việt hiện diện có thể cảm nhận được nỗi đau đớn, uất hận của người dân đã mất nước trong từng ánh mắt và trong giai điệu bài ca. Sau đó họ cầm loa tay và hô rất to những khẩu hiệu chống TC một cách rất nhiệt tình, mạnh mẽ. Nét mặt, cử chỉ, ánh mắt của họ khiến các tham dự viên khác cũng bị cuốn hút theo một cách vừa hào hứng vừa khâm phục. Cuộc biểu tình trước Lãnh sự quán Trung cộng chấm dứt vào lúc 16 giờ.   Sau đó mọi người đã di chuyển về hội trường Volkshaus Enkheim trên đường Borsig Allee nằm cách đó khoảng 10 cây số để dùng bửa cơm chiều sau nhiều tiếng đồng hồ biểu tình ngoài trời mưa lạnh.  Hội thảo và văn nghệ đấu tranh   Hội Phụ Nữ tại Frankfurt đã có nhã ý đãi các tham dự viên bằng một buổi cơm nóng với thịt kho tàu và đầy đủ các loại xà-lách tươi cùng trà nóng, cà phê miễn phí.   Chương trình phần ba bắt đầu cũng bằng nghi thức chào cờ, mặc niệm và dân hương trước bàn thờ Tổ quốc rất trang nghiêm bên cạnh là bức tranh „Tiếc thương“ nổi tiếng.   Sau đó ban chấp hành của Liên Hội (BCH/LH) đã được mời lên bàn chủ tọa để tiến hành phần sinh hoạt thứ ba. Bác sĩ Trần Văn Tích, chủ tịch Liên Hội đã trình bày những công tác đã thực hiện trong năm qua cũng như tình hình tài chánh của LH. Dưới sự điều hợp của BCH/ LH, cử tọa đã biểu quyết chọn nơi biểu tình là Berlin cho ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2013 và giữ Frankfurt là nơi tổ chức Ngày Quốc Hận 2014. Cử tọa đã sôi nổi góp ý với BCH/ LH. Một số đại diện hội đoàn và cá nhân đã quyên góp tại chỗ để LH có thêm phương tiện để sinh hoạt. Sau phần hội thảo là phần văn nghệ đấu tranh với sự đóng góp của ca sĩ Thu Sương cùng nhiều tài năng khác đã khiến mọi người không nỡ rời hội trường cho đến tận 22 giờ đêm, kết thúc một ngày sinh hoạt đấu tranh rất có ý nghĩa. NTN Photo von Luu Berlin  
......

Tâm sự của một phụ nữ từng nếm thức ăn cho Hitler: Điều bí mật đã giữ suốt 50 năm qua!

Bà cho biết Hitler luôn luôn lo sợ bị người Anh đầu độc. Công việc của bà thật ra phải kể là may mắn vì tình trạng thức ăn khan hiếm vào giai đoạn này.   Bà Margot Woelk, hiện cư ngụ tại Berlin, đã giấu kín một bí mật trong hơn 50 năm qua kể cả đối với chồng bà. Nhưng rồi chỉ vài tháng sau ngày sinh nhật thứ 95, bà Woelk thổ lộ với một phóng viên tại Berlin điều bí mật này: Bà đã từng làm công việc “người nếm thức ăn của Adolf Hitler”.   Tin này không ngờ làm cho rất nhiều người cảm thấy hứng thú muốn tìm hiểu thêm, nhất là các thầy cô giáo xin bà hình ảnh để làm chứng minh lịch sử khi dạy học, hoặc những nhà nghiên cứu đã đến tìm hiểu thêm về chi tiết cuộc sống và nghề nghiệp của bà lúc đó, một cái nghề có lẽ không còn tồn tại sau thời kỳ Hitler.   Bà là một trong 15 cô gái trẻ được giao nhiệm vụ dùng thử thức ăn mà nhà bếp nấu cho Hitler trước khi dọn cho ông này ăn để biết chắc chắn là thức ăn không có độc dược. Bà chỉ mới ngoài 20 tuổi vào những năm cuối cùng của thế chiến thứ II. Lúc ấy chồng bà đang tham gia quân đội Đức, bà phải rời Berlin vì sự pháo kích liên tục của đồng minh để về ở với người thân cách đó 700 km tại một nơi sau này trở thành nước Ba Lan, cũng là nơi tổng hành dinh của Hitler.    Trong hơn hai năm sau đó, bà bị trưng dụng làm người giữ sổ sách trong nhà bếp và một trong những cô gái nếm thức ăn cho lãnh tụ độc tài này.       Bà cho biết Hitler luôn luôn lo sợ bị người Anh đầu độc. Công việc của bà thật ra phải kể là may mắn vì tình trạng thức ăn khan hiếm vào giai đoạn này. Hitler là người ăn chay nên các loại rau quả dành cho ông đều là loại thượng hạng và được nấu rất ngon, tuy nhiên không ai có lòng để thưởng thức vì nỗi lo sợ triền miên bị ngộ độc. Mỗi khi nếm thức ăn đều có nguy cơ là bữa ăn cuối cùng trong đời. Bà chưa từng chạm mặt với Hitler mà chỉ gặp chú chó Blondie của ông ta cũng như 2 người cận vệ.   Sự lo lắng của Hitler là có cơ sở vì có lần tổng hành dinh này bị đặt bom. Ông ta thoát chết, nhưng sau đó 5 ngàn người liên quan đã bị xử tử kể cả tên đặt bom. Sau sự kiện này tình hình trở nên căng thẳng hơn vì sự tấn công của Liên Xô, một nguời bạn khuyên bà Woelk rời bỏ tổng hành dinh Hitler.    Bà trở về Berlin và đi trốn khi nghe tin cả 14 cô gái còn lại làm công việc nếm thức ăn đều bị lính Liên Xô sát hại. Thành phố Berlin thì hoang tàn đổ nát vì bom của Mỹ và Anh dội xuống suốt ngày đêm. Đến tháng 4 năm 1945, quân Liên Xô bắt đầu tiến vào trung tâm thành phố dẫn đến sự đầu hàng của chính quyền Berlin và việc tự tử của Hitler, chấm dứt chiến tranh Châu Âu. Nhưng bà Woelk thì vẫn chưa thoát nạn vì bà đã bị lính Liên Xô bắt giam và hãm hiếp trong vòng 14 ngày liên tục, khiến cho bà bị mất khả năng sinh sản sau đó.  Khi chồng bà trở về, họ đã cố gắng dựng lại cuộc sống, quên đi những ác mộng của thời chiến tranh. Trong quãng đời sau đó bà vẫn ở tại căn nhà đầu tiên nơi bà sinh ra ở Berlin và làm công việc thư ký, giấu kín những liên hệ của bà với Hitler qua 2 năm làm việc vì cảm thấy xấu hổ mặc dù bà nhấn mạnh là bà không tham gia đảng phái này.    Chồng bà Woelk đã qua đời 23 năm trước. Hiện ở tuổi 95, bà được chăm sóc bởi y tá và một người cháu gái. Bà Woelk cho biết đêm đêm những ác mộng trong đoạn đời đầy bi kịch này vẫn trở về ám ảnh bà và bà cần nói chuyện ra để rũ bỏ được chúng.   Phước An Tags: Margot Woelk, Adolf Hitler  
......

Một vật lý gia người Việt được vào danh sách 100 thiên tài đương thời thế giới

Nhờ vào những thành quả nghiên cứu xuất chúng, ông Võ Đình Tuấn, tiến sĩ vật lý gốcViệt vừa được Công ty Tư vấn Toàn cầu Creator Synectics chọn là một trong số 100 thiên tài đương thời thế giới. Ngoài cương vị là Viện trưởng Viện Fitzpatrick thuộc Đại học Duke , North Carolina ( Hoa Kỳ), ông Tuấn còn là thành viên Hàn lâm viện Hóa học Hoa kỳ, biên tập viên và cố vấn của nhiều tạp chí quốc tế chuyên ngành. Năm 17 tuổi ông Tuấn rời Việt Nam sang Thụy Sĩ du học và lấy bằng cử nhân vật lý (1971) rồi sau đó bằng tiến sĩ Sinh Vật lý Hoá học tại Viện Federal Institute of Technology (1975). Ông sang định cư tại Hoa kỳ vào năm 1975. Ông Tuấn nhận bằng phát minh đầu tiên vào năm 1987 khi sáng chế ra loại thẻ (badge) nhỏ và dễ sản xuất , có thể gắn lên áo của công nhân khi họ làm việc trong những môi trường hoá chất độc hại. Sau giờ làm việc các thẻ này sẽ đươc một máy scan quang học đọc và ghi lại thông số của các hóa chất độc hại mà công nhân có thể nhiễm phải trong quá trình làm việc trong ngày. Trong lãnh vực y khoa, ông Tuấn đã phát minh những hệ thống tương tự để dò tìm các DNA bị tổn thương, bệnh tiểu đường và bệnh ung thư. Tất cả các hệ thống trên đều dựa vào hiện tượng phát quang đồng bộ (synchronous luminescence-SL) Điểm đặc biệt là qua tay ông, phương pháp phát quang đồng bộ đã trở thành thực dụng vì các dữ kiện đươc ghi lại, trưng bày và đọc nhờ vào hệ thống scan quang học (dùng laser và quang học sợi ) nên sức khoẻ con người có thể đươc theo dõi không cần đến các thủ thuật y khoa như sinh thiết (biopsy) Năm 2003, ông Tuấn đã là một trong bốn nhà khoa học Mỹ gốc Á được Cơ quan Thương hiệu và Phát minh Hoa kỳ (US Patent and Trademark Organisation-USSPTO) vinh danh.Theo Cơ quan này, các phát minh của ông Tuấn đã góp phần làm cho Hoa kỳ trở thành một trong những nước có nền khoa học kỹ thuật tân tiến nhất trên thế giới. Sau gần 30 năm hoạt động khoa học, đến nay ông Tuấn đã có hơn 30 bằng phát minh và sáng chế trong nhiều lãnh vực khác nhau như môi trường, sinh học và y học. Ngoài ra, ông Tuấn còn đoạt 5 giải thưởng Nghiên cứu và Phát triển (R &D)vào các năm 19811987,1992, 1994 và 1996 và là tác giả của hơn 300 công trình được phổ biến trên nhiều tạp chí khoa học. Tuy là một khoa học gia nổi tiếng, ông Tuấn rất khiêm nhường khi cho rằng “các nghiên cứu của ông chỉ nhằm mục đích góp phần làm giảm bớt những đau đớn của con người”, và theo ông cái khó nhất đối với các bệnh nan y như ung thư hay AIDS chính là làm sao phát hiện ra những căn bệnh ấy. Nhà khoa học tài ba này hiện đang tiếp tục đeo đuổi mục đích cải tiến công nghệ sản xuất máy móc y khoa hiện đại, có kích thước nhỏ và giá thành thấp nhằm góp phần nâng cao hiệu năng của chẩn đoán và điều trị.
......

Dã ngoại trước sân nhà - Tại sao không?

Nếu quan niệm: “Nhu cầu hiểu mọi chuyện nói lên thân phận của con người” thì thân phận của chúng ta, những công dân Việt Nam thật bi thảm. Quả không dễ chịu chút nào khi phải thừa nhận một điều như thế. Cả tôi và bạn đều đã nghĩ rằng chúng ta rất hiểu về người khác, về thế giới quanh xung quanh và đương nhiên, chúng ta hiểu rõ về bản thân mình.   Và rồi một ngày, ta ngỡ ngàng nhận ra một sự thật rất khác:   Chúng ta không hiểu gì về mình, hay nói chính xác hơn, ta không hiểu gì về Quyền Con Người. Và chúng ta trở thành nạn nhân của chính mình trước khi là nạn nhân của một chế độ. Làm sao có thể đòi quyền lợi cho mình khi không biết ta có quyền gì để mà đòi. Do vậy. “Quyền Con Người là khái niệm cần phải tìm hiểu, học hỏi đối với tất cả mọi người chứ không loại trừ bất cứ đối tượng nào”- trích “Thư gửi bạn về Ngày Dã Ngoại- Quyền Con Người vào ngày 5 tháng 5 năm 2013”.   Vậy tại sao chúng ta không khám phá về bản thân mình bằng cách tìm hiểu về Quyền Con Người? Một trong những khởi đầu khá thú vị là bạn hãy cùng chúng tôi tham gia “BuổiDã ngoại để trao đổi về Quyền Con Người” ngày 5 tháng 5 tới với sự tự tin rằng: bạn làm thế để thể hiện Quyền Làm Người của bạn.   Bạn sẽ đến với các công viên tại Sài Gòn, Hà Nội, Nha Trang hay bất cứ nơi nào bạn muốn trên dải đất hình S này để cùng các bạn khác kể về câu chuyện của bạn.   Còn tôi, trong hoàn cảnh của một người tù bị quản chế, không thể hội ngộ với bạn bè của mình tại những nơi đã hẹn. Nhưng, tôi vẫn sẽ đi cùng các bạn trên chính bước chân Tự Do của tôi bằng một cuộc thảo luận về Quyền Con Người cũng đúng vào 8 giờ 30 phút ngày 5 tháng 5 ngay trước sân nhà mình. Cùng “tham dự” buổi dã ngoại… ngoài sân với tôi sẽ là người mẹ yêu quý, người đã đồng hành cùng tôi trong mấy năm tôi tranh đấu cho Quyền làm người và bà cũng là người đã ký tên vào “Lời Tuyên bố của các Công dân Tự do” ở vị trí thứ 7003.   Hôm nay, tôi sẽ không thảo luận hay trao đổi với bạn về Quyền Con Người qua những lời tâm sự ngắn ngủi này. Chúng ta để dành cho ngày gặp mặt 5/5 tới.   Và bạn ơi, nếu vì một lý do đặc biệt nào đó bạn không thể tổ chức được một cuộc dã ngoại như mong muốn, hãy thử làm giống tôi: Dã ngoại ngay trước sân hay chính tại khu vườn nhà bạn, cùng với ít nhất một người thân trong gia đình.   Tôi tin, điều đó sẽ cho bạn một trải nghiệm hết sức thú vị. Chắc chắn, sẽ không thể có thêm một kịch bản 18 tháng 9 như 5 năm về trước, khi tôi ngồi Tọa Kháng trong nhà mình để khẳng định chủ quyền của Dân Tộc. Bởi không ai có thể bị bắt khi nói với người khác: Tôi là một con người!   Nếu muốn, bạn cũng có thể đến với tôi và chúng ta cùng thảo luận, chia sẻ với nhau những hiểu biết của mình về Quyền Con Người. Tôi sẽ rất vui và hãnh diện nếu được ngồi cùng bạn ngay trong khoảng sân nhà mình vào ngày 5 tháng 5 tới, để cùng tự hào: Chúng ta là Tự Do.   Điều cuối cùng tôi muốn nói với bạn. Chúng ta không thể đi khắp thế giới và trở thành Công Dân Toàn Cầu với chỉ một chiếc máy tính xách tay, khả năng giao tiếp thông thạo bằng Anh ngữ và một tấm bằng đại học nếu chúng ta chưa thực sự hiểu được giá trị chung của nhân loại. Hãy khám phá thế giới bắt đầu bằng việc tìm hiểu về Quyền Con Người. Và kể cho nhau nghe câu chuyện của mỗi chúng ta.   Xin gửi đến các bạn câu hát của nhạc sỹ Phan Văn Hưng mà tôi vừa mới nghe được trên trang blog Danlambao: " Người còn yêu hãy còn nhớ, phải vượt qua những bến bờ. Phải tìm sâu trong hồn nước, những thoi thóp những mong chờ. Người còn tha thiết núi sông, thì sẽ thấy cơn mưa nguồn. Người lặn lội vẫn đi tìm, sẽ thấy đường dấu quê hương..." để mong được làm bạn đồng hành với nhau trên hành trình tìm lại những cơn mưa nguồn, những dấu quê hương trên mảnh đất Mẹ đang khô cằn của Chúng Ta.  Phạm Thanh NghiênĐịa chỉ: Số nhà 17, đường Liên khu Phương Lưu 8, phường Đông Hải 1, quận Hải An, Thành phố Hải PhòngĐiện thoại: 0936 427 687.   http://thanhnghienpham.blogspot.de/2013/04/da-ngoai-truoc-san-nha-tai-sao-khong.html
......

Ai khủng bố ở Việt Nam

Khủng bố là một từ ngữ mà con người định nghĩa mỗi người một cách tùy theo họ ở phe nào. Sau biến cố 9-11, đối với hầu hết thế giới, khủng bố gắn liền với những người hồi giáo cực đoan, đầu sỏ là Osama bin Laden, trùm khủng bố.   Thật ra theo từ điển Oxford, từ ngữ khủng bố chủ nghĩa đã được đặt ra từ năm 1798 ở Pháp để mô tả hệ thống đàn áp của chính phủ đối với dân chúng trong thời kỳ được mệnh danh là Sự Thống Trị của Khủng Bố trên đất Pháp (tiếng Pháp: la Terreur). Thời kỳ thống trị đó kéo dài từ 27 tháng 6 năm 1793 đến 27 tháng 7 năm 1794 là một thời kỳ bạo lực xảy ra trong một năm và một tháng sau khi sự khởi đầu của cuộc Cách mạng Pháp, kích động bởi cuộc xung đột giữa đối thủ chính trị phe phái, những người Girondins và Jacobins, và đánh dấu bằng hành quyết hàng loạt các “kẻ thù của cách mạng.” Con số ước tính rất khác nhau về số người đã thiệt mạng, với số lượng khác nhau, từ 16.000 đến 40.000 người, trong nhiều trường hợp, hồ sơ không được lưu giữ hoặc, nếu có thì hồ sơ này bị coi là có khả năng không chính xác. Các máy chém đã trở thành biểu tượng của một chuỗi các vụ hành quyết: Louis XVI, Marie Antoinette, những Girondins, Philippe Égalité (Louis Philippe II, Công tước của Orléans) và Madame Roland, cũng như nhiều người khác, chẳng hạn như nhà hoá học tiên phong Antoine Lavoisier, tất cả đều bị mất mạng dưới lưỡi dao máy chém. Qua hàng bao thế kỷ, từ ngữ quân khủng bố đã được dùng để chỉ những người vũ trang tranh đấu cho niềm tin tôn giáo, chính trị , những người được gọi là chiến đấu cho tự do, giải phóng quân, những người nổi dậy, những người đối kháng chống lại sự áp bức của nhà cầm quyền. Nhưng cộng đồng quốc tế chưa có một định nghĩa luật định minh bạch nào cho từ ngữ quân khủng bố.   Nhưng đừng tưởng dân chúng dùng phương cách bạo động chống nhà nước mới gọi là khủng bố. Nhà nước đàn áp dân cũng bị coi là khủng bố như thường. Bị coi là một chính quyền khủng bố khi chính quyền đó thống trị đất nước dựa trên sự gieo rắc sợ hãi và kinh khiếp trong xã hội. Tính đặc trưng của nó là một chính sách đàn áp hình sự có hệ thống và quy mô lớn, thực hiện bởi các cơ quan công an mật vụ nhà nước.    Việt Nam ngày nay xứng hợp với định nghĩa này. Nhà cầm quyền CSVN có dùng hành động bạo lực đối với dân chúng hay không? Tuy Việt Nam ngày nay không do một bạo chúa cai trị nhưng do đảng cộng sản thì cũng vậy thôi. Người dân có thể vô cớ bị công an hăm dọa, hành hung, đánh đập, ép buộc nhận tội, tra tấn hay giết chết.   Thứ bảy, ngày 28 tháng tư năm 2012, người viết nhật ký mở lớn tuổi nhất trong nước là nhạc sĩ Tô Hải qua bài “Lực bất tòng tâm mất rồi các bạn của tôi ơi!” phải kêu lên: “Khủng bố! Khủng bố tinh thần, khủng bố bằng võ lực! Khủng bố các kiểu, cà-rốt –cây gậy chán rồi chăng nên lần này sau khi dán băng keo các cái miệng lắm điều về vụ Tiên Lãng thì nay đến vụ Xuân Quan -Văn Giang “lực lượng thù địch” đã công khai trải cả ngàn quân đủ loại để tấn công nhân dân ủi đất, cướp ruộng đồng của dân để biến một vùng trồng cây cảnh nổi tiếng trở thành cái tên Ê-Cô-Pắc đậm đà bản sắc… ngoại lai, sửa soạn chỗ ăn chơi cho mấy người dân không phải là người Việt!?”   Đảng CSVN và nhà cầm quyền Hà Nội chủ trương và đỡ đầu chủ nghĩa khủng bố để tiêu diệt các đảng phái không cùng đường lối như Đại Việt và VNQDĐ, đàn áp mọi đối kháng từ dân chúng ngay kể từ khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập ngày 02/09/1945. Trong bí mật, Hồ Chí Minh cho thi hành một chính sách khủng bố bằng bạo lực một cách dã man, áp dụng đúng theo sách lược của Lênin trong thời cách mạng vô sản ở Nga. Chính sách đó là “bắt cóc, ám sát, thủ tiêu, mổ bụng, cắt tiết, buộc đá thả trôi sông, xảy ra như cơm bữa từ thành thị đến thôn quê”. Các ban ám sát Việt Minh đêm ngày lùng sục bắt bớ thủ tiêu những cán bộ các đảng phái yêu nước theo chủ nghĩa Dân tộc, những người có chút tiếng tăm hay gia sản, chụp cho họ cái mủ “Việt Gian” để biện minh cho những vụ thảm sát vô nhân đạo ấy. CSVN không bao giờ ngưng chính sách khủng bố ấy trong suốt 70 năm qua. Hồ Chí Minh cũng chính là một trùm khủng bố chẳng khác gì Osama bin Laden.   Trong những năm tháng trong cuộc chiến kháng Pháp, các cuộc thanh trừng, khủng bố diễn ra từ Nam chí Bắc, không những chỉ đối với các phe phái đối lập, mà còn xảy ra đối với chính các đồng chí trong cùng nội bộ. Dưới thời VNCH, hoạt động khủng bố của VC càng tinh vi và tàn bạo hơn. Thế cho nên một cựu quân nhân Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, ông Bill Laurie khi đem so sánh thời gian và tính chất giết người của khủng bố VC với bọn khủng bố Al-Qaeda, đã thốt lên rằng “Việt Cộng chính là sư tổ của bọn khủng bố” (mother of all terrorists).   Sư tổ khủng bố Việt Cộng Hồ Chí Minh học từ sư tổ khủng bố Nga Cộng Lenin, chủ trương là phải tra tấn, phải giết thật man rợ để những người ở cách đó cả trăm dặm cũng phải run sợ. Hồ Chí Minh, đảng viên đệ tam quốc tế cộng sản, đã học cái tàn bạo dã man của Nga, cái thâm hiểm và độc ác của Tàu để đem về áp đặt trên đầu dân tộc Việt Nam. Chính vì cái xấu (CSBV man rợ) chiếm đoạt và thay thế cho cái tốt (VNCH tự do dân chủ) đã làm cho hàng triệu người uất ức. Sau ngày 30-4-1975, khi Dương Thu Hương theo đoàn quân CSBV vào chiếm Saigon, bà đã khóc. Vì sao? Bà kể: “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn. Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Ðó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Ðó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.”   Việt Nam ngày nay nằm trong danh sách những nước được gọi là quốc gia công an trị hay cảnh sát trị. Theo Bách Khoa Từ Điển Mở Wikipedia, thuật từ “police state” trong Anh ngữ được dùng để chỉ một quốc gia mà chính phủ của nó thực hiện các biện pháp kiểm soát cứng rắn và có tính áp bức đối với đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của toàn dân. Nhà nước cảnh sát thường thường bộc lộ các yếu tố của chủ nghĩa toàn trị và kiểm soát xã hội. Thông thường, có ít hoặc không có khác biệt giữa luật pháp và việc thực thi quyền lực chính trị của người cầm quyền trong một nhà nước cảnh sát. Các nuớc cộng sản, độc tài toàn trị, phát xít, thường dùng đến một lực lượng cảnh sát công an mật vụ lớn lao hoạt động vượt qua phạm vi hiến định để kềm chế, đàn áp, ngăn chận các quyền tự do báo chí, phát biểu hay truyền đạt quan điểm chính trị cũng như những quan điểm khác như tôn giáo, niềm tin và khác biệt chủng tộc.   Qua định nghĩa trên, rõ ràng Việt Nam ngày nay là một nước công an trị khủng bố người dân. Nghĩ cũng buồn cười khi nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội ngày nay bảo rằng Việt Nam là một quốc gia an toàn không có nạn khủng bố. Càng buồn cười hơn khi họ bảo “Nếu có khủng bố thì đó chính là những người Việt lưu vong.” Nếu sách Kỷ Lục Thế Giới Guinness có đề mục kỷ lục nói láo và nói ngược, chắc chắn CSVN sẽ đứng đầu. Các sư tổ khủng bố VC hồi trước 1975 bây giờ đã tóm hết giang sơn vào một mối rồi và đang trị vì thiên hạ bằng hệ thống công an khổng lồ “hoành tráng” chuyên bóp cổ đá đít dân thì làm sao dân có thể khủng bố được chứ. Mới sáng hai bản nhạc yêu nước để hát mà nhạc sĩ Việt Khang bị ghép tội là “phản động chống phá nhà nước” và bị tống vô nhà giam Phan Đăng Lưu thì thử hỏi ai là khủng bố đây hở bà “người phát ngôn” Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga?   Công an CSVN nhiều khi còn giả dạng côn đồ hoặc đóng kịch làm thường dân bất bình để khủng bố nạn nhân bị nhắm mục tiêu như trường hợp đã xảy ra với cụ bà Lê Hiền Đức (sinh năm 1932), một giáo viên về hưu và là người tích cực đấu tranh bênh vực dân oan và chống tham nhũng, là một trong hai người đoạt Giải thưởng Liêm chính năm 2007 (2007 Integrity Awards) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International). Bà Đức cho biết trong tháng Ba 2012, bà bị công an khủng bố bằng cách gọi điện thoại nặc danh rồi dùng lời lẽ thô tục chửi mắng và hăm dọa đến tính mạng của bà.   Sau vụ cưỡng chế đất ở diện rộng tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hôm thứ Ba ngày 24/4 khiến hàng chục nông dân bị bắt giữ, ngày hôm sau Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012, trang mạng Đài BBC Luân Đôn đăng bài viết tựa đề Dùng vũ lực mạnh với dân Văn Giang tường thuật:   “Chính quyền huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, đã huy động lực lượng hùng hậu gồm hàng ngàn cảnh sát cưỡng chế các nông dân kiên quyết bám trụ không giao đất để xây dựng khu đô thị thương mại-du lịch Ecopark. Một số hình ảnh video được đưa lên mạng sau đó cho thấy đã có hành động bạo lực mạnh tay của lực lượng cưỡng chế đối với những người nông dân phản kháng. Trong một video gần 10 cảnh sát và những người mặc thường phục đeo băng đỏ đã xông vào dùng dùi cui và tay chân đánh hội đồng một nông dân không vũ khí. Sau đó có nhiều tiếng ổn ào và có tiếng nổ.”     Một đám công an mặc sắc phục lẫn thường phục đang đánh một người dân ở Văn Giang ngày 24-4-2012.     Một đám công an khác đang nắm đầu đánh một phụ nữ ở Văn Giang ngày 24-4-2012.   Cụ bà Lê Hiền Đức có mặt và chứng kiến cuộc đàn áp kể lại: “Tôi nhìn thấy cảnh sát cơ động chi chít. Cảnh sát địa phương áo xanh lá mạ cũng đầy ra.Tôi đứng đấy, tôi gặp tất cả bà con. Bà con đang khóc ầm ĩ kêu gào. Nghe những tiếng khóc của các cụ già tám, chín mươi tuổi, thương lắm. Chỉ có súc vật mới không động lòng thôi. Tôi cảm tưởng như đang trong trận chiến đấu ác liệt cách đây nửa thế kỷ mà tôi đã từng phải chiến đấu …lửa cháy ngút trời. Các lực lượng đã dùng súng hơi cay đánh đập dân rất dã man. Đây rõ ràng là lực lượng ấy đang cưỡng chế dân. Tôi ngồi tôi khóc. Tôi ức quá mà tôi khóc vì tại sao tôi không bênh vực được những con người như thế. Tôi gọi đó (thanh niên bị đánh) là những thanh niên dũng cảm, dám đối mặt với lực lượng công an. Họ đàn áp vô cùng tệ hại. Bắn súng, đánh đập một cách rất dã man.”   Bà Đức kể tiếp: “Tôi nhục nhã đến mức là, thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, tôi đã từng hy sinh tuổi thanh xuân của tôi, tôi đã chiến đấu đủ mọi hình thức, mọi ngả đường nhưng bây giờ hoà bình rồi, mà tôi phải cải trang. Hôm qua, tôi phải mượn cái nón rách, cáo áo nâu, quần sắn móng lợn để trà trộn vào với nhân dân. Nếu không nó nhìn thấy mình, nó thay đổi thái độ ngay. Có như thế thì mới chứng kiến được hành động của họ đối với những người dân lành. Có những người ngày hôm qua là trắng tay rồi, không còn gì cả, thì cuộc sống ngày mai đây họ sẽ ra sao? Đây là dấu hỏi rất to, tôi mong công luận sẽ đánh dấu hỏi cho những người dân Văn Giang hôm qua.”   Luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân nói ông tin rằng chính quyền địa phương đã có ‘vi phạm nghiêm trọng’ khi ‘sử dụng vũ lực trái pháp luật’ trong hành động đàn áp dân để cưỡng chế đất đai này. Qua các hình ảnh video mà ông xem được, ông Quân cho biết lực lượng công cả mặc đồng phục lẫn không mặc đồng phục và đeo băng đỏ ‘cùng nhau vây dân lại bắt dân và đánh dân’.   Luật sư Quân nói “Họ đánh rất nặng và dã man. Điều này hoàn toàn sai pháp luật vì pháp luật quy định quyền tự do thân thể rất rõ. Nếu tôi gặp một kẻ cắp thì việc ăn cắp có thể bắt giữ hoặc tri hô nhưng nếu đánh người ăn cắp đó thì tôi cũng phạm tội.” Ông nói những nông dân bị đánh đập hoàn toàn có thể kiện lực lượng cưỡng chế về tội ‘cố ý gây thương tích’.   Ông cũng không cho rằng người dân Văn Giang phản kháng chống đối người thi hành công vụ vì theo như ông thấy qua hình ảnh được quay lại thì có đến hàng chục cảnh sát mặc quân phục lẫn không mặc quân phục vây vào đánh chỉ một người. “Nói họ (nông dân Văn Giang) chống (người thi hành công vụ) là hoàn toàn sai vì họ chỉ có một (đối đầu với công an) và họ rất hiền lành.” Ông cho biết pháp luật không quy định số lượng người tham gia cưỡng chế nhưng trong vụ việc ở Văn Giang thì chính quyền ‘đã huy động lực lượng quá sức’.   Dẫn chứng trên cho thấy ngày nay cũng như trong thời chiến trước năm 1975 ở miền Nam, kẻ khủng bố chính là Việt Cộng chứ không ai khác.   Bài viết với tựa đề “Mỹ nghi từng thấy khủng bố ở VN” đăng trên trang nhà BBC Việt ngữ ngày thứ Sáu, 9 tháng Chín, 2011 có đoạn viết: “Trước nỗi quan tâm của Hoa Kỳ về sự hoạt động lén lút của các tiểu tổ khủng bố Hồi giáo, Hà Nội trấn an rằng hiểm họa “khủng bố Hồi giáo” ở Việt Nam rất thấp và hầu như không có, nhưng nguy cơ lớn là từ các tổ chức người Việt lưu vong.”   Tại buổi họp báo hôm 3/05 khi được hỏi về phản ứng của Việt Nam trước cái chết của Bin Laden, bà Nga đã trả lời một cách chung chung: “Việt Nam phản đối chủ nghĩa khủng bố và lên án các hoạt động khủng bố dưới mọi hình thức. Những kẻ khủng bố phải chịu trách nhiệm về những hành động của mình và cần phải bị nghiêm trị”.   Một mặt phản đối và lên án nạn khủng bố, một mặt nhà cầm quyền Hà Nội do đảng cộng sản lãnh đạo luôn triệt để áp dụng những biện pháp khủng bố như đàn áp, gán tội, đánh đập, bắt bớ, giam cầm nhằm tạo nên sự kinh hoàng sợ hãi trong dân chúng và triệt tiêu mọi đối kháng. Ở Việt Nam ngày nay, nói đến công an Việt Cộng là người dân đen ghê sợ những đòn phép khủng bố của họ.   Trong một cuộc gặp với quan chức của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Frank Jannuzi, ông Trần Kim Tuyến, Phó Cục trưởng Cục chống khủng bố thuộc Tổng cục An ninh Việt Nam tuyên bố rằng Việt Nam chưa phát hiện các tổ chức khủng bố ở trong nước và chưa bị tấn công khủng bố. Ông ta nhấn mạnh: “Khủng bố ở đây là người Việt lưu vong. Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Tự do là hai tổ chức đã gửi tiền, người và vũ khí vào Việt Nam với mục tiêu gây bất ổn và lật đổ chế độ.”   Ông Tuyến nói “Các tổ chức này đã ủng hộ hay tiến hành các cuộc tấn công ở bên trong Việt Nam và đối với cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cụ thể là ở Manila và Bangkok.” Ông cũng cho biết “hàng chục” thành viên của các tổ chức này đã bị bắt với thuốc nổ và “các thiết bị khủng bố khác”. Ông nói các nhóm “khủng bố” này là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Việt Nam và ông “không hiểu tại sao họ lại được phép hoạt động ở Hoa Kỳ trong bối cảnh hiện nay.”   À thì ra ông ta mắng vốn Hoa Kỳ với ngầm ý bảo rằng “Những người khủng bố là công dân của Hoa Kỳ xuất phát từ Hoa Kỳ, tại sao Hoa Kỳ lại làm ngơ cho họ vào Việt Nam vậy, phải đàn áp họ đi chứ, có cần chỉ dẫn cách thức đàn áp không thì chúng tôi cố vấn cho. Đàn áp là món nghề của chúng tôi mà.”   Đảng cộng sản Việt Nam vốn thoát thai từ một tổ chức khủng bố với nửa thể kỷ kinh nghiệm. Chính họ là loại khủng bố tàn độc nhất. Trước biến cố 30 tháng Tư 1975, họ đã tổ chức không biết bao nhiêu vụ khủng bố ở Miền Nam Việt Nam nhắm vào tất cả mọi mục tiêu quân cũng như dân, đồng bào hay người ngoại quốc.   Sau khi đã chiếm được Miền Nam, họ càng khủng bố mãnh liệt hơn để đàn áp mọi nhen nhúm đối kháng. Họ đàn áp đến mức độ ít còn ai dám hó hé gì nữa để được sống yên thân. Lực lượng an ninh Việt Cộng gồm cảnh sát công an và tai mắt đông như ruồi theo dõi nhất cử nhất động của người dân khắp nẻo đường đất nước. Có một câu chuyện vui cười như thế này cho thấy lý do tại sao nạn khủng bố khó xảy ra trong nước dưới sự cai trị của Việt Cộng:   Một điệp viên của một tổ chức chống Cộng ở hải ngoại bí mật về Việt Nam để đặt bom khủng bố. Đến thời hạn điệp viên trở về, thủ lãnh tổ chức hỏi:   - Công tác thi hành thế nào? Có thành công không? Sao tôi chẳng nghe tin tức trong nước nói có vụ nổ bom nào xảy ra cả.   - Báo cáo với thẩm quyền là tôi có làm đúng theo kế hoạch đặt bom. Chẳng may lực lượng công an mặc thường phục giả trang người đi thu nhặt ve chai hè phố đông quá. Tôi vừa đặt bom xong là cả bọn nhào đến, đứa tháo lấy giây điện, đứa lấy đinh sắt, đứa lấy chất nổ. May mà tôi chạy thoát.   Vẫn biết đó là chuyện đùa cho vui thôi nhưng nó cũng không khác xa sự thật lắm đâu.    Tính chất dã man của các vụ Việt Cộng khủng bố   Trong hồi ký “Deliver us from Evil”, y sĩ Hải Quân Hoa Kỳ Tom Dooley đã mô tả nhiều tội ác kinh hoàng của Cộng sản gây ra cho người dân đang cố gắng rời bỏ miền Bắc để vào Nam. Ông kể: “Bảy học sinh và thầy giáo bị lôi ra khỏi lớp. Tất cả bị bắt ngồi xuống đất và hai tay bị trói gập ra sau lưng. Hai cán binh Cộng Sản đi đến từng đứa trẻ. Một nguời dùng hai tay kèm chặt lấy đầu đứa bé, nguời kia đặt chiếc đũa bằng tre đóng mạnh sâu vào hai lỗ tai, tiếng kêu la thất thanh vang dội cả làng, máu trào ra lênh láng… ”   (Ghi chú: Bác sĩ Dooley theo tàu chuyển vận người di cư đến Hải Phòng năm 1954. Ông được mời lên bờ để cứu giúp bệnh nhân, sau đó đã quyết định rời khỏi Hải quân và ở lại Việt Nam trong nhiều năm cuối thập niên 1950 để mang lại sự chăm sóc y tế cho dân làng ở những vùng xa xôi nơi mà người da trắng chưa hề đặt chân đến cho tới khi ông trở về Mỹ trước khi qua đời vì bệnh ung thư đầu năm 1961 ở tuổi 34.)   Uwe Siemon-Netto, ký giả nổi tiếng người Đức từng trải qua 5 năm phục vụ chiến trường VN, sau khi theo một đơn vị QLVNCH hành quân giải vây một ngôi làng tỉnh Định Tường bị Việt cộng bố ráp năm 1965, tường thuật: “Treo trên các cành cây sào trong sân làng là xác xả trưởng, nguời vợ và 12 đứa con vừa trai, vừa gái kể cả cháu bé. Tất cả nạn nhân phái nam đều bị cắt bộ phận sinh dục nhét vào mồm, còn phụ nữ thì bị cắt nhũ bộ. Dân làng kể họ bị VC bắt gom lại để chứng kiến cảnh tàn sát. Việt cộng bắt đầu giết em bé nhất rồi bằng một màn trình diễn, chậm rãi ra tay lần lượt giết các em lớn hơn, tới nguời mẹ và sau cùng là nguời cha, viên xả trưởng. Việt cộng đã giết cả nhà 14 nguời, giết một các lạnh lùng như thể bấm cò súng đại liên bắn máy bay. Việc VC tàn sát thế này là việc bình thuờng hàng ngày… Vì với chúng tôi nó đã trở thành bình thường nên chúng tôi không tường thuật tới, tuờng thuật tới lui mãi. Chúng tôi chỉ tường thuật điều bất thường như vụ thảm sát ở Mỹ Lai mà thôi.”   (Ghi chú: Qua bài viết “A German Remembers Vietnam”, Uwe Siemon-Netto nói rằng VC thắng không phải vì chiếm được cảm tình của dân chúng mà vì những hình thức khủng bố tàn bạo vô nhân. Dân làng kể với ông là VC thường vào làng hăm dọa dân không được hợp tác với chính quyền, nếu không sẽ lãnh lấy hậu quả nghiêm khắc. Xả trưởng không nghe nên nửa đêm VC bắt dân làng thức dậy để chứng kiến tận mắt cảnh hành hình. Ông Netto nói rất tiếc là ông không còn nhớ tên làng, nhưng điều đó chẳng quan trọng vì những vụ VC khủng bố dân như vậy xảy ra rất thường hàng đêm ở miền Nam trong thời chiến tranh. Tiến sĩ Netto hiện là cư dân ở Laguna Woods, California, Hoa Kỳ và hay giao tiếp với bạn bè người Việt. Địa chỉ trang blog: http://uwesiemon.blogspot.ca/2012/04/german-remembers-vietnam.html) Trong quyển “The Soldiers’ Story”, phóng viên Hoa kỳ Ron Steinman ghi lại lời kể về kinh nghiệm chiến trường ở VN của 77 chiến binh Mỹ: “Tôi còn nhớ đã từng đi ngang qua các nghĩa địa nơi Bộ đội miền Bắc giết hàng nhóm nguời dân lành. Họ đào hầm, rãi vôi rồi bắn nguời dân quăng xuống… Những hầm (chôn tập thể) rất khó nhận ra… Vài cán binh Bắc Việt và Việt Cộng đã cắt rời những bộ phận sinh dục của nạn nhân rồi đánh dấu thi thể những nạn nhân đó.” (trang176, The Soldiers’ Story – Ron Steinman).   Vì Việt Cộng đã từng là vua khủng bố trong suốt hơn nửa thế kỷ nên họ có kinh nghiệm đầy mình để ngăn chận khủng bố. Theo dữ liệu của Bách khoa Tự điển mở Wikipedia, lịch sử Việt Nam chưa ghi nhận những vụ khủng bố có quy mô lớn, nhưng các âm mưu khủng bố rất nhiều. Trong Chiến tranh Việt Nam, tại miền Nam từng xảy ra nhiều vụ đặt bom nhằm mục đích phá hoại các cơ quan đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Việt Cộng thực hiện.   Tại Việt Nam ngày nay, các điều khoản về khủng bố được quy định trong Bộ luật Hình sự ra đời sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 tại New York. Các hoạt động mang tính đối kháng bằng bạo lực với Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thường bị chính quyền Việt Cộng liệt vào dạng “khủng bố” và đều bị lực lượng an ninh Việt Nam phát hiện và ngăn chặn. Ngăn chận để dành độc quyền.   Như vậy rõ ràng là Việt Cộng vừa ăn cướp vừa la làng, vừa ra tay khủng bố cả nước vừa la làng lên là bị người Việt hải ngoại về nước khủng bố, thật đúng với bài bản của quan thầy Trung Cộng. Tàu Cộng giỏi nghề Sơn Đông mãi võ bán thuốc dán thường la làng. Tàu Cộng nói:   - “Tranh chấp liên tục trên Biển Đông chủ yếu bắt nguồn từ Việt Nam”,   - “Thách thức lớn nhất đối với sự nhấn mạnh về một giải pháp hòa bình của Trung Quốc cũng có thể do Việt Nam”,   - “Việt Nam ngày càng gây sự trong việc thu tóm các đảo làm của riêng mình, không đếm xỉa đến chính sách truyền thống của Trung Quốc”, v.v.   Sự thật ra sao chúng ta ai cũng biết là chính Trung Cộng ra sức ăn cướp trắng trợn đất biển của Việt Nam, cố tình gây căng thẳng nhằm biến khu vực không có tranh chấp và thuộc chủ quyền của Việt Nam thành vùng có tranh chấp để thực hiện kế hoạch “đường lưỡi bò” hay “đường 9 đoạn” trên Biển Đông.   Qua bài “Khủng Bố: Xưa và Nay”, tác giả Lê Minh ở Úc châu viết: “Nạn khủng bố của Việt Cộng đã có từ lâu, có từ thời ông Hồ Chí Minh mới đem chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Các vụ ám sát khủng bố do các đảng viên, cán bộ cộng sản thực hiện đã xảy ra từ những năm tháng trước thời điểm 1945. Từ sau thời điểm 8/1945 thì các vụ ám sát, khủng bố lại diễn ra với hình thức quy mô, rộng lớn hơn. Những đối thủ chính trị của các đảng phái khác khi bị ám sát thì được chụp cho cái mũ “Việt gian, phản động” hay “tay sai”. Đây là những thủ thuật được dùng để che mắt quần chúng và giúp kẻ nhận nhiệm vụ ám sát có thể ra tay dễ dàng, dã man và dứt khoát hơn. Những năm tháng trong cuộc chiến kháng Pháp, các cuộc thanh trừng, khủng bố vẫn diễn ra từ Nam chí Bắc, không những chỉ đối với các phe phái đối lập, mà còn xảy ra đối với chính các đồng chí trong cùng nội bộ.”   Những vụ khủng bố do VC gây ra trong thời chiến, kể ra thì có hàng ngàn đã được kiểm tra và đúc kết hồ sơ đầy đủ bởi các cơ quan chính phủ Mỹ; người viết xin liệt kê nơi phần liệt kê ở cuối bài.   Thông thường, kẻ giết người luôn tìm cách che đậy hành vi tội ác ghê tởm. Hành động lén lút ám sát giết người thường là do lệnh của tổ chức đảng phái chính trị, là một thứ công tác sứ mạng điệp vụ. Đàng sau sứ mạng đó, cho dù thành công thì vẫn là chết chóc đau thương cho một người hay nhiều người có khi vô tội và bị giết oan khuất. Đối với lương tâm con người, hành động đó là việc làm bắt buộc và đáng lý ra không có gì vinh quang để kiêu hãnh. Nhưng đối với những con người cộng sản khát máu, họ lại xem đó như một thứ hào quang đáng tự hào khoe khoang và hãnh diện.       Xe hơi chở giáo sư Nguyễn Văn Bông bị hư hại sau khi trúng bom chất nổ của khủng bố VC ngày 10 tháng 11 năm 1971. Tổ trinh sát vũ trang Ban An ninh T4 gồm có Vũ Quang Hùng và Lê Văn Châu ám sát giáo sư Bông, (Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, lãnh đạo của đảng Tân Đại Việt, người thành lập Phong trào Quốc gia Cấp tiến) tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản bằng 4kg chất nổ C4 được liên kết với ba trái lựu đạn.   Vũ Quang Hùng, người đã đặt bom giết chết giáo sư Nguyễn Văn Bông, từng là phó Tổng biên tập báo Công an TP. HCM. Hùng khoe khoang thú nhận “Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn” ca ngợi chiến công hiển hách của 2 biệt động Sài Gòn là Hùng và Châu. Giáo sư Bông bị sát hại khi 42 tuổi, là một trí thức cấp tiến có khả năng trở thành thủ tướng của Việt Nam Cộng Hòa. Lúc mất ông là Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, cố vấn cho Tối cao Pháp viện, ủy viên Hội đồng Quản trị Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Cùng thiệt mạng với ông còn có 3 người khác là vệ sĩ là lái xe. Ông để lại người vợ góa 30 tuổi và 3 con nhỏ.   Một kẻ khủng bố Việt Cộng khác khoe thành tích là Trịnh Thị Thanh Mão. Bà Mão khoe là từng đã nhúng tay vào một vụ mưu sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.   Bài viết “Chân dung nữ du kích từng mưu sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” trên báo trong nước tiết lộ rằng Tháng 9/1970, trong một lần đi kinh lý bên dòng sông Thạch Hãn, ông tổng thống VNCH suýt chết trước nòng súng của nữ du kích Trịnh Thị Thanh Mão. Hiện tại, cựu nữ du kích Mão đang cư ngụ ở làng Hà Xá, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Với cái gọi là “Ký ức hào hùng”, bà Mão kể lại năm 1964 khi 14 tuổi, “Lợi dụng sự sơ hở của địch ít chú ý tới trẻ con, tôi đã “chuyển vũ khí, thuốc men vào căn cứ cách mạng; hóa thân vào làm người bán hàng rong trà trộn vào lòng địch cài bom hẹn giờ nổ đánh xe, tiêu diệt địch”. Sau một loạt thành tích đặt bom, năm 18 tuổi tôi được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng. Việc ám sát Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được tôi thực hiện vào năm 1970 trong buổi khánh thành hệ thống “ấp chiến lược”, tôi bắn 2 viên đạn nhưng không viên nào nổ.“Tiếc thật nếu sau cái bóp cò đó súng nổ thì Thiệu đã tiêu rồi”.      Ảnh: Bác sĩ Lê Minh Trí, Bộ Trưởng Giáo Dục VNCH đẫm máu vì bị thương nặng (và sau đó chết) đang nằm trên mặt đường và vệ sĩ của ông cũng bị thương đang ngồi trên lề đường trước sự canh gác của một quân cảnh Mỹ. Tài xế của ông chết trong chiếc xe đang bốc cháy sau khi khủng bố VC tung lựu đạn vào xe trên đường phố Sài Gòn ngày 6 tháng 1, 1969.   Nếu việc khủng bố chỉ được đảng CS thi hành trong chiến tranh thì cũng chưa phải là điều đáng nói. Thực tế, sau 36 năm thống nhất đất nước, họ vẫn tiếp tục hành động khủng bố của mình bằng nhà tù, bằng còng số 8 thông qua điều 88 và 79 của bộ luật Hình sự. Phương tiện họ dùng khủng bố không phải là bom ba càng, mìn hẹn giờ mà dùng chính Hiến pháp, thông qua điều IV và lực lượng công an, an ninh dày đặc để đàn áp những người bất đồng chính kiến.   Hàng loạt các trí thức, nhân sĩ yêu nước bị bỏ tù vì đòi hỏi thực thi dân chủ nhân quyền đã bị cầm tù như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, LM Nguyễn Văn Lý, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Vi Đức Hồi, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Bùi Thị Minh Hằng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Paulus Lê Sơn, Huỳnh Thục Vy, Việt Khang, v.v. Đó chính là sự tiếp tục chủ nghĩa khủng bố từ những năm xưa. Những trí thức trên và còn nhiều người khác nữa bị kết những bản án từ vài năm tới cả chục năm tù chỉ vì quan điểm của mình qua phỏng vấn hay các bài viết, bài nhạc. Vậy không là khủng bố thì sao?    Một số những vụ khủng bố của VC ở miền Nam VN từ 1960 đến 1969 ghi nhận được:   Ngày 2 tháng Hai 1960: VC phá và đốt chùa Phật giáo ở làng Phước Thành tỉnh Tây Ninh, đâm chết thiếu niên 17 tuổi tên Phan Văn Ngọc do em này kháng cự.   Ngày 22 tháng Tư 1960: Khoảng 30 cán bộ võ trang VC ruồng bố làng Thới Long tỉnh An Xuyên định bắt Cao văn Nành 45 tuổi. Dân làng tụ lại phản đối. Việt Cộng nổ súng giết chết một thiếu niên 16 tuổi.   Ngày 23 tháng Tám 1960: Việt Cộng đang đêm bắt hai giáo viên Nguyễn Khoa Ngôn và Nguyễn Thị Thiệt đến trường Rau Ran tỉnh Phong Dinh để chứng kiến cảnh chúng xử tử hai người đàn ông tên Cảnh và Văn để răn đe và gây khiếp đảm.   Ngày 24 tháng Chín 1960: Một toán VC lục phá và đốt cháy tiêu trường An Lạc tỉnh An Giang.   Ngày 28 tháng Chín 1960: VC chận xe của Cha xứ Hoàng Ngọc Minh, giáo phận Kontum, dùng súng máy bắn ông chết, xong còn cắm cọc tre vào người ông. Tài xế Huỳnh Hữu, cháu cha Minh, bị thương nặng.   Ngày 30 tháng Chín 1960: Một toán VC bắt nông dân Trương văn Đáng 67 tuổi ra trước một phiên “tòa án nhân dân”, cáo buộc tội ông mua hai mẫu ruộng mà trái lệnh chúng không giao cho người khác. Ông bị VC bắn chết trên mảnh ruộng của ông sau phiên xử.   Ngày 6 tháng Mười Hai 1960: VC đặt chất nổ nhà bếp Sân Cù Sài Gòn làm chết một phụ bếp và làm bị thương hai đầu bếp.   Báo cáo tổng kết các vụ VC khủng bố năm 1960 của chính phủ VNCH nạp trình cho Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến gồm có 284 chiếc cầu bị phá hoại, 60 trạm y tế bị đốt. Và do hậu quả của những trường học bị VC phá hủy, việc học của 25,000 học sinh bị ảnh hưởng.   Ngày 22 tháng Ba 1961: 20 nữ sinh đi xe đò trên đường từ Sài Gòn về Vũng Tàu sau khi tham dự Lễ Hai Bà Trung bị VC giật mìn và xả súng bắn làm thiệt mạng hai nữ sinh và làm bị thương 10 em khác.   Ngày 15 tháng Ba 1961: 12 sơ nữ tu dòng Chúa Quan Phòng đi xe đò từ Tây Ninh đi Sài Gòn bị VC phục kích chận lục soát hành lý. Sơ Theophile phản đối nên bị chúng bắn chết tại chỗ và sơ Phan thị Nở bị thương.   Ngày 26 tháng Bảy 1961: Hai dân biểu gốc người Thượng tên Rmah Pok and Yet Nic Bounrit bị VC phục kích bắn chết gần Đà Lạt cùng với một giáo viên cùng đi thăm viếng một làng định cư.   Ngày 20 tháng Chín 1961: Một lực lượng hàng ngàn VC tràn ngập thị xã Phước Vinh tỉnh Phước Thành, đốt phá mọi cơ sở hành chánh, chặt đầu hầu hết công chức trong thị xã, chiếm giữ trọn ngày trước khi rút lui.   Tháng Mười 1961: Nghiên cứu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ước đoán số lượng dân chúng VNCH bị VC giết mỗi tháng là một ngàn năm trăm người.   Ngày 13 tháng Mười Hai 1961: Cha Bonnet người Pháp thuộc giáo phận Kontum bị quân khủng bố VC ám sát trong lúc ông viếng thăm giáo dân ở Ngok Rongei.   Ngày 20 tháng Mười Hai 1961: kỹ sư S. Fuka người Nhật làm việc cho dự án đập thủy điện Đa Nhim bị VC chận đường bắt cóc. Số phận của ông ra sao không bao giờ được rõ.   Ngày 1 tháng Giêng 1962: VC chém chết ông Lê văn Thiều 63 tuổi, thủ lãnh lao công tại đòn điền cao su nơi ông làm việc.   Ngày 2 tháng Giêng 1962: VC giết chết hai nhân viên tên Pham văn Hải và Nguyễn văn Thạch trong đoàn diệt trừ sốt rét đang làm việc ở địa điểm cách khoảng 20km về phía nam Sài Gòn.   Ngày 20 tháng Hai 1962: VC ném 4 quả lựu đạn vào một đám dân làng đang xem hát ở Cần Thơ, giết chết 24 phụ nữ và trẻ con và làm cho 84 người khác bị thương.   Ngày 8 tháng Tư 1962: VC xử tử hai tù thương binh Hoa Kỳ gần làng An Châu Trung phần Việt Nam. Hai thương binh Mỹ này bị trói và bị bắn vào mặt vì họ không đi theo kịp toán VC đang rút lui.   Ngày 19 tháng Năm 1962: Khủng bố VC ném lựu đạn vào nhà hàng Aterbea ở Sài Gòn làm bị thương viên quản lý đoàn xiệc đến từ Bá Linh và tham vụ văn hóa Tòa Đại Sứ Tây Đức ở Sài Gòn.   Ngày 20 tháng Năm 1962: VC đánh bom trước khách sạn Hưng Đạo Sài Gòn, nơi cư ngụ của quân nhân Hoa Kỳ, làm bị thương 8 người Việt và 3 quân nhân Mỹ đang đứng bên ngoài khách sạn.   Ngày 12 tháng Sáu 1962: VC phục kích xe đò hành khách gần Lệ Tri tỉnh An Giang giết chết tất cả người trên xe gồm tài xế, người phụ lơ và hành khách.      Thi thể của hai thiếu niên trai và một người đàn ông nằm trên đường phố trong vụ VC tung lựu đạn trước Tòa Đô Chính Sài Gòn Ngày Quốc Khánh 26 tháng Mười năm 1962.     Ngày 20 tháng Mười 1962: Đội Biệt động 159 của Việt Cộng tung lựu đạn giết chết 7 người và làm bị thương 47 người đang đứng xem một cuộc triển lãm có trưng bày một phi cơ trực thăng cùng một số chiến lợi phẩm tịch thu được của địch quân trước Tòa Đô Chính Sài Gòn và một đoạn dài của đại lộ Nguyễn Huệ.   Theo lời thuật có tính cách tuyên truyền khoác lác của báo chí VC, nữ du kích nội thành Lê Thị Thu Nguyệt giả dạng nữ sinh đảm nhận công tác mang thuốc nổ vào Sài Gòn. Trong bộ quần áo dài trắng giả trang một nữ sinh từ quê lên Sài Gòn học, Nguyệt mang theo hai chậu kiểng được ngụy trang dưới lớp đất là những quả lựu đạn. Bài báo kể Nguyệt bị chận xét nơi trạm kiểm soát như sau.   (Trích: “Tim chị cơ hồ nhảy ra khỏi lồng ngực khi tên lính xét giấy tờ đòi đập vỡ hai chậu kiểng xem có chất nổ không. Quá bất ngờ, Thu Nguyệt òa khóc, nói rằng ông bà ngoại sẽ đánh chết cô nếu đem hai chậu kiểng về nhà không còn nguyên vẹn. Vẻ đẹp tinh khiết và nước mắt cô nữ sinh làm mềm lòng tên lính. Hắn ta khoát tay ra hiệu đồng bọn bỏ đi. 8 giờ sáng ngày 26/10/1962, Nguyệt chọn bộ quần áo dài đẹp nhất cùng Tùng, Quang giả làm thường dân đi xem triển lãm. Trong chiếc khăn mùi soa của Thu Nguyệt là quả lựu đạn. Tới nơi, thấy địch để bên cạnh chiếc trực thăng Mỹ là súng, mìn “chiến lợi phẩm”, Quang định ném trái lựu đạn vào đống mìn nhưng Thu Nguyệt ngăn lại. Chị giải thích hành động của mình lúc ấy: “Chỗ đó quá đông người, tôi sợ mìn nổ làm chết dân. Nơi chiếc trực thăng đậu vắng người hơn. Tôi bí mật chuyển “chiếc khăn mùi soa” qua cho Quang. Anh hiểu ý nhanh tay ném vào mục tiêu này”. Một tiếng nổ vang lên, chiếc máy bay sụm xuống, bốc cháy mù mịt. Mọi người hỗn loạn tranh nhau thoát ra khỏi khu vực triển lãm. Lợi dụng thời cơ đó, các chiến sĩ biệt động hòa vào đám đông, thoát ra ngoài an toàn. Sáng hôm sau đọc báo, chị biết được kết quả trận đánh. Vậy là với chiếc khăn mùi soa trắng mỏng manh trong bàn tay bé nhỏ của Thu Nguyệt, quả lựu đạn đã phá hỏng 1 trực thăng HU1A, làm chết 3 tên, 2 tên bị thương và chiến công lớn hơn của trận đánh là đã phá vỡ được cuộc triển lãm của địch dự định kéo dài trong bảy ngày, làm thất bại âm mưu chính trị của ngụy quyền Sài Gòn.” Ngưng trích).   Bạn đọc ắt thấy bài báo trên đây kém trung thực. Hình ảnh tài liệu cho thấy rõ ràng là các nạn nhân của vụ khủng bố này cũng chỉ là thường dân, trong đó có trẻ em.   Ngày 4 tháng Mười Một 1962: VC ném lựu đạn trong một đường hẽm tại Cần Thơ, giết chết một quân nhân Hoa Kỳ và 2 trẻ em Việt Nam và làm một em khác bị thương nặng.   Ngày 25 tháng Giêng 1963: VC đặt chất nổ xe lửa chở gạo gần Qui Nhơn, giết chết 8 hành khách và làm bị thương 15 người khác.   Ngày 4 tháng Ba 1963: VC chận xe trên đường Sài Gòn Đà Lạt, bắn chết 2 nhà truyền giáo Tin Lành là Elwood Forreston, người Mỹ, và Gaspart Makil, người Phi Luật Tân. Hai đứa con song sinh của Makil bị bắn và bị thương.   Ngày 16 tháng Ba 1963: VC ném lựu đạn vào một ngôi nhà của một gia đình người Mỹ đang tiếp khách ăn tối ở Sài Gòn, giết chết một thương gia người Pháp và làm bị thương 4 người khác.   Ngày 25 tháng Ba 1963: Cơ sở nội tuyến của Đội biệt động 159 (do Mười Luân, bí số 8E, và Lê Thị Thu Nguyệt, đóng vai người yêu của Mười Luân) đã gắn một quả mìn hẹn giờ vào chiếc máy bay Boeing 707 cho chuyến bay từ Sài Gòn đi Mỹ. Chiếc máy bay vừa đáp xuống phi trường Honolulu thì mìn phát nổ nhưng không làm ai bị thương vong vì tất cả hành khách đã di chuyển vào nhà ga sân bay. Nguyên nhân mìn phát nổ chậm là do áp suất trên cao làm đồng hồ hẹn giờ của quả mìn thay đổi.   Vụ khủng bố này lại cũng có sự nhúng tay của nữ khủng bố Lê Thị Thu Nguyệt. Báo Việt Cộng viết: (Trích) “Cũng không ai nghĩ, người phụ nữ bé nhỏ, dịu dàng ngồi trước mặt tôi nói những chuyện đời thường về cơm ăn áo mặc, mối lo toan thường tình như bao phụ nữ khác là nữ biệt động Đội 159 đưa được mìn nổ chậm, một loại vũ khí do Quân giới Quân khu sản xuất từ Củ Chi vào sân bay Tân Sơn Nhất, gài được mìn hẹn giờ trên máy bay Boeing 707.   Để thực hiện được trận đánh quan trọng này, Đội Biệt động 159 trước đó đã tiến hành gài người vào làm nhân viên điều khiển không lưu ở sân bay, mang bí số 8E, tức Mười Luân; đồng thời đưa Thu Nguyệt đóng vai người yêu của Mười Luân ra vào sân bay để điều nghiên mục tiêu. Ngày 25/3/1963, một gói thuốc nổ mạnh C4 cài đồng hồ hẹn giờ được ngụy trang trong một chiếc túi du lịch, giống y hệt chiếc túi du lịch mà bọn cố vấn Mỹ thường dùng. Khi khoác “túi du lịch” đến từ giã “người yêu”, Thu Nguyệt đánh tráo túi du lịch của một tên Mỹ trong phòng đợi.   Theo kế hoạch, quả mìn sẽ nổ khi máy bay cất cánh 15 phút. Nhưng chiếc Boeing 707 hôm ấy chở 80 cố vấn Mỹ rời Sài Gòn sang San Francisco, quá cảnh sân bay Honolulu được 2 phút mìn mới phát nổ. Toàn bộ máy bay bị phá hỏng. Thoát chết trong gang tấc, bọn cố vấn Mỹ vô cùng kinh hoàng. Nếu như hôm ấy, chiếc đồng hồ hẹn giờ không bị trục trặc do máy bay lên độ cao 10.000 mét, áp suất không khí khiến nó chạy chậm lại, thì 80 cố vấn Mỹ xâm lược đã đền mạng. Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin về trận đánh này, trong đó có lời khen ngợi của Hồ Chủ tịch. Quả mìn ấy tuy không nổ đúng giờ nhưng có sức “công phá” lớn trong dư luận, gây kinh hoàng cho quân đội Mỹ ngay phía bên kia bờ Thái Bình Dương: “Không chỉ Việt cộng đánh chúng ta trong thành phố, mà ngay cả bên Mỹ”.(Ngưng trích).   Có bao nhiêu phần trăm sự thật trong câu chuyện VC kể này, xin để đọc giả tự thẩm định.   Ngày 3 tháng Tư 1963: Khủng bố VC tung hai quả lựu đạn vào một trường học ở Long Xuyên, giết chết một giáo viên và hai người lớn đang xem học sinh trình diễn ca nhạc hàng năm.   Ngày 4 tháng Tư 1963: VC ném lựu đạn vào khán giả đang xem chiếu bóng ở một làng quê quận Cao Lãnh tỉnh Định Tường, giết chết 4 người và làm bị thương 11 người khác.   Ngày 23 tháng Năm 1963: VC đánh bom bằng hai chiếc xe đạp có gài chất nổ trên đường phố Sài Gòn giết chết hai người và làm bị thương 10 người khác.   Ngày 12 tháng Chín 1963: Cô giáo Võ Thị Lộ 26 tuổi ở An Phước tỉnh Kiến Hòa sau 3 ngày bị VC bắt cóc, đã bị VC cắt cổ chết và vứt thây ở rìa làng.   Ngày 16 tháng Mười 1963: Hai chiếc xe đò ở Kiến Hòa và Quảng Tín bị trúng mìn VC khiến cho 18 hành khách tử vong và 23 người khác bị thương.   Ngày 9 tháng Mười Một 1963: Trong một ngày 3 vụ ném lựu đạn xảy ra tại 3 địa điểm khác nhau tại Sài Gòn làm bị thương 16 người.   Ngày 9 tháng Hai 1964: VC kích nổ bom tại một sân vận động thể thao nơi người Mỹ chơi banh làm cho 2 chết và 41 bị thương trong đó có 4 phụ nữ và 5 trẻ em. Một phần bom khác không nổ, nếu không, số người tử thương sẽ cao hơn nhiều.   Ngày 16 tháng Hai 1964: Khủng bố VC kích nổ bom tại rạp chiếu bóng Kinh Đô ờ Sài Gòn gây tử thương 3 người Mỹ và làm bị thương 32 người khác.   Ngày 14 tháng Bảy 1964: Phạm Thảo, chủ tịch ủy ban hành động Công giáo tỉnh Quảng Ngãi bị VC xử tử khi ông về thăm sinh quán làng Phổ Lợi Quảng Ngãi.   Tháng Mười 1964: Giới chức Hoa Kỳ tại Sài Gòn cho biết từ đầu năm đến tháng Mười 1964 VC đã giết chết 429 viên chức địa phương của VNCH và bắt cóc 482 người khác.       Ngày 24 tháng 12, 1964: Một vụ nổ do khủng bố VC ở cư xá Brink trong đêm Giáng Sinh. Cư xá Brinks ở Sài Gòn là nơi trú ngụ của hơn 125 sĩ quan Mỹ và dân thường bị đánh bom do một đặc công Việt Cộng đóng giả làm sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Bom được đưa vào garage của cư xá và cho phát nổ làm sập 3 tầng của tòa nhà, giết 66 người trong đó có 2 sĩ quan Mỹ và làm hơn 100 người khác bị thương.   Ngày 6 tháng Hai 1965: Đài phát thanh VC cho biết VC đã đem hai tù binh người Mỹ ra bắn chết để trả thù cho 2 khủng bố VC vừa bị VNCH xử bắn.   Ngày 10 tháng Hai 1965: Khủng bố VC đặt bom phá nổ trại lính ở Qui Nhơn, giết chết 23 binh sĩ Mỹ.      Quang cảnh bên ngoài Tòa Đại Sứ Mỹ cũ trên đại lộ Hàm Nghi trong vụ VC khủng bố ngày 30/3/1965.   Ngày 30 tháng Ba 1965: Một toán đặc công VC phối hợp đánh bom Tòa Đại Sứ Mỹ trên đại lộ Hàm Nghi gây thiệt mạng cho 22 người, trong đó có 19 người Việt, 2 nhân viên Mỹ và một người Phi Luật Tân, 83 người khác bị thương, trong đó có phó đại sứ Mỹ A.Johnson.      Lối đi vào nhà hàng nổi Mỹ Cảnh từ Bến Bạch Đằng sau khi VC giật quả mìn Claymore thứ nhì để giết hại thêm thực khách từ nhà hàng chạy lên sau vụ nổ trước.     Ngày 25 tháng Sáu, 1965: Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh trên sông Sài Gòn bị đặt bom làm hơn 40 người thiệt mạng, trong đó có 9 người Mỹ và làm hơn 50 thường dân bị thương.   Ngày18 tháng Tám, 1965: Tổng Nha Cảnh sát bị đánh bom làm 6 người chết và 15 người bị thương.   Ngày 4 tháng Mười, 1965: Sân vận động Cộng Hòa bị đặt bom làm 11 người thiệt mạng, 42 thường dân khác bị thương.   Ngày 5 tháng Mười, 1965: Bom nổ trên một chiếc taxi trên đường phó chính ở Sài Gòn, có thể do bom phát nổ sớm hơn giờ ấn định, làm hai người chết và 10 bị thương.   Ngày 4 tháng 12, 1965: Bom khủng bố nổ trước một biu đing cư xá quân nhân ngoại quốc ở Saigon làm 137 người bị thương gồm 72 người Mỹ, 3 người Tân Tây Lan và 62 người Việt.   Ngày 12 tháng 12, 1965: Hai trung đội khủng bố VC giết 23 công nhân đào kinh trong một ngôi chùa Phật giáo ở Tân Hưng tỉnh Định Tường và 7 người bị thương.   Ngày 30 tháng 12, 1965: Ký giả Từ Chung của nhật báo Chính Luận bị VC kê súng bắn vào đầu khi ông từ tòa soạn về nhà để ăn trưa vì trước đó ông đã cho đăng lên báo lời hăm dọa mà ông nhận được của cộng sản.   Ngày 7 tháng 1, 1966: Cộng sản gài và giật nổ một quả mìn Claymore tại cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, làm 2 người chết và 12 bị thương.   Ngày 17 tháng 1,1966: Cộng sản giật mìn xe đò trên công lộ tỉnh Kiến Tường làm chết 26 thường dân, trong đó có 7 trẻ em, và 8 người bị thương.   Ngày 29 tháng 1, 1966: VC giết chết cha xứ Phan Khắc Dậu 74 tuổi ở Thạnh Trị tỉnh Kiến Tường cùng với 5 giáo dân. Đám khủng bố xúc phạm và hủy hoại thánh kinh và tượng chúa cùng các vật dụng khác.   Ngày 2 tháng Hai, 1966: Một toán du kích VC phục kích bắn xả vào một chiếc xe Jeep chở nhân viên ty thông tin tỉnh Hậu Nghĩa, làm 6 chết và một bị thương.   Ngày 14 tháng Hai, 1966: VC gài nổ hai quả mìn dưới xe đò gần Tuy Hòa giết chết 48 nông dân và làm bị thương 7 người khác.   Ngày 18 tháng Ba, 1966: Thêm 15 hành khách xe đò chết và 4 bị thương vì trúng mìn VC 8km phía tây Tuy Hòa tỉnh Phú Yên.   Ngày 22 tháng Năm, 1966: Quân khủng bố VC đang đêm tấn công một khu nhà trú ngụ của nhân công đào kinh tỉnh An Giang, giết chết 18 đàn ông, 1 phụ nữ và 4 trẻ em.   Ngày 10 tháng Chín, 1966: Trong đêm trước ngày bầu cử Quốc Hội miền Nam, Việt Cộng tung ra 166 cuộc tấn công trên toàn quốc, phá hoại địa điểm đặt thùng phiếu, bắt cóc và ám sát.   Ngày 11tháng Chín, 1966: Trong ngày bầu cử, khủng bố VC giết chết 19 cử tri, làm bị thương 120 người, đốt phá phòng phiếu, đặt mìn vệ đường và ám sát.   Ngày 24 tháng Chín, 1966: Quân đội Hoa Kỳ giải cứu 11 tù nhân tại một trại giam của VC ở tỉnh Phú Yên. Có 70 tù nhân bị VC bỏ đói đến chết và 20 người khác chết vì tra tấn.   Ngày 11 tháng Mười, 1966: Theo sự chỉ dẫn của một thiếu niên 14 tuổi, lực lượng Đồng Minh tìm thấy một nhà tù VC ở tỉnh Bình Định với 12 tử thi tù nhân đã bị VC bắn và ném lựu đạn chết trước khi chúng tẩu thoát.   Ngày 22 tháng Mười, 1966: Một cán bộ nông thôn nửa đêm bị VC vào nhà bắn chết ở Bình Chánh tỉnh Gia Định.   Ngày 24 tháng Mười, 1966: Một chiếc xe đò chạy tuyến đường Huế – Quảng Trị trúng mìn VC tại Phong Điền khiến 15 hành khách bị thương.   Ngày 27 tháng Mười, 1966: VC tung lựu đạn vào nhà dân ở Ban Mê Thuột giết chết 2 người và làm bị thương 7 người gồm trẻ em và phụ nữ.   Ngày 28 tháng Mười, 1966: Cảnh sát kịp thời bắt giữ một nữ du kích VC định đặt bom dưới khán đài lễ hội ở Khánh Hưng tỉnh Ba Xuyên.   Ngày 1 tháng 11, 1966: VC pháo kích Sài Gòn trong Ngày Cách Mạng giết chết và làm bị thương 51 người.   Ngày 2 tháng 11, 1966: VC ném lựu đạn vào trường đua Phú Thọ Sài Gòn làm 2 người chết và 8 người bị thương. Cùng ngày một toán khủng bố VC tấn công quận châu thành tỉnh Phong Dinh, đặt chất nổ gây hư hại cầu sắt Đầu Sấu.   Ngày 3 tháng 11, 1966: Khủng bố VC xâm nhập ngoại ô Sài Gòn và pháo kích 24 phát vào trung tâm thủ đô. Các nơi bị trúng đạn là Chợ Bến Thành, nhà thương Grall, nhà thờ Đức Bà và một số nhà dân cư; có 8 người chết và 37 người bị thương nặng.   Ngày 4 tháng 11, 1966: VC bắn súng cối vào một làng tỉnh Hậu Nghĩa, làm một người chết và 8 người bị thương. Cùng ngày VC tấn công một làng ở Tây Ninh làm 6 người chết và một số bị thương.   Ngày 7 tháng 11, 1966: VC bắt cóc hai viên chức hành chánh trên tỉnh lộ 8 tỉnh Quảng Đức.   Ngày 16 tháng 11, 1966: Một chiếc xe đạp chứa chất nổ do khủng bố VC gài phát nổ trên đường Nguyễn Văn Thoại Sài Gòn khiến hai quân nhân và một thường dân bị thương.   Ngày 19 tháng 11, 1966: VC pháo kích tổng cộng 28 phát đạn súng cối ở Cần Giộc và Cần Đước tỉnh Long An gây cho 2 trẻ em chết và 17 người bị thương.   Ngày 20 tháng 11, 1966: Hai cảnh sát viên bị thương khi gỡ băng rôn VC có gài chất nổ.   Ngày 23 tháng 11, 1966: VC mặc quân phục giả dạng binh sĩ VNCH giết chết cảnh sát gác cầu ở Khánh Hưng tình Ba Xuyên và ném 2 quả lựu đạn làm 2 binh sĩ và 7 thường dân bị thương.   Ngày 26 tháng 11, 1966: VC gài mìn Claymore ở sân chơi trường tiểu học Trịnh Hoài Đức ở An Thạnh tỉnh Bình Dương cạnh một địa điểm huấn luyện của một đơn vị Đại Hàn. Mìn nổ giết chết 3 binh sĩ Đại Hàn và làm bị thương một học viên người Việt.   Ngày 30 tháng 11, 1966: VC pháo kích chợ Tân Uyên tỉnh Biên Hòa giết chết 3 thường dân và làm bị thương 7 người khác.   Ngày 4 tháng 12, 1966: Một đơn vị đặc công VC phá thủng chu vi phòng thủ 20,8 cây số xung quanh Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt và pháo kích khu vực trong 4 giờ. Lực lượng bảo vệ Mỹ và VNCH sau đó đã đẩy lui toán đặc công này, giết chết 18 người. Một máy bay trinh sát 101 của Mỹ bị thiệt hại nặng. Quân du kích quay lại trong đêm cùng ngày, nhưng lực lượng phòng thủ một lần nữa đã đẩy lui, giết thêm 11 đặc công Việt Cộng.   Ngày 7 tháng 12, 1966: Du kích Việt Cộng dùng súng lục Đông Đức ám sát dân biểu Trần Văn Văn khi ông đang trên đường đi đến trụ sở Quốc Hội. Hai tên du kích bị bắt.   Ngày 10 tháng 12, 1966: Du kích Việt Cộng ném lựu đạn vào sân chơi của ty Chiêu Hồi tỉnh Bình Dương làm cho 3 trẻ em bị thương nặng. Cùng ngày, một xe đò trúng mìn Việt Cộng ở Phong Dinh khiến 5 hành khách toàn phụ nữ thiệt mạng và làm tài xế bị thương nặng.   Ngày 27 tháng 12, 1966: Dân biểu bác sĩ Phan Quang Đán may mắn thoát chết khi xe ông phát nổ ở Gia Định. Bánh chất nổ gắn dưới lườn xe của ông kích nổ khi ông mở cửa xe bước ra. Bác sĩ Đán bị thương nhưng một phụ nữ đi đường tử thương và 5 người bộ hành khác bị thương.   Ngày 6 tháng 1, 1967: Một cảnh sát viên ở quận Tân Châu tỉnh Kiến Phong bị Việt Cộng hành quyết trước sự chứng kiến của gia đình.   Ngày 7 tháng 1, 1967: Việt Cộng đặt chất nổ phá sập một lớp học và một trạm y tế quận Hồng Ngự tỉnh Kiến Phong.   Ngày 8 tháng 1, 1967: Việt Cộng ném lựu đạn vào nhà một xã trưởng tỉnh An Xuyên làm một đứa con của ông ta chết và làm bị thương 3 thành viên khác trong gia đình.   Ngày 12 tháng 1, 1967: VC phục kích xe đò trên Quốc lộ 14 ở Tân Cảnh giết chết 3 thường dân và làm bị thương 3 quân nhân.   Ngày 21 tháng 1, 1967: VC đột nhập làng Buôn Hô tỉnh Darlac gom dân tuyên truyền và bắt đi 6 thanh thiếu niên.   Ngày 6 tháng 2, 1967: VC bố ráp Liêu Trì tỉnh Quảng Tín bắt cóc giáo viên và viên chức . Giáo viên bị giết sau đó. Cùng ngày VC ném lựu đạn một buổi tiếp tân của Phó Tỉnh trưởng Kontum, giết chết Trưởng Ty Giáo Dục và 2 viên chức khác cùng 8 người bị thương nặng.   Ngày 4 tháng 3, 1967: Biết tin một đơn vị VNCH hành quân giải cứu, toán canh tù VC trói 12 tù nhân VNCH xong bắn, đâm và cắt cổ. Chỉ có hai người được cứu sống.   Ngày 5 tháng 3, 1976: VC mở 2 vụ đột kích ban đêm giết hai cán bộ xây dựng nông thôn ở Vĩnh Phú tỉnh Phú Yên. Trong một vụ khác, thêm 7 người khác bị giết và 4 người bị thương.   Ngày 30 tháng 3, 1967: VC pháo kích trại gia binh tỉnh lỵ Bạc Liêu, phá hủy 200 căn nhà, giết chết 32 người.   Ngày 13 tháng 4, 1967: VC nhắm mục tiêu khủng bố ban đêm vào một đoàn văn nghệ trình diễn ở Lữ Sơn gần Đà Nẵng. Trưởng và phó đoàn đều bị giết, 2 đoàn viên bị thương.   Ngày 14 tháng 4, 1967: Du kích VC bắt cóc Nguyễn Văn Sơn, người ra ứng cử hội đồng làng thuộc quận Bình Chánh tỉnh Gia Định.   Ngày 16 tháng 4, 1967: VC ám sát một ứng cử viên hội đồng làng Cẩm Hà tỉnh Quảng Nam. Thân nhân trong gia đình cũng bị vạ lây gồm 1 em bé chết và 3 người lớn bị thương.   Ngày 18 tháng 4, 1967: VC tấn công vào ấp Suối Chồn thuộc tỉnh Long Khánh đông bắc Sài Gòn, giết chết 5 cán bộ xây dựng nông thôn, làm bị thương 3 người và bắt cóc 7 người. Trong số 5 người bị giết có 3 cô gái trẻ bị trói và bắn vào đầu. Một phần ba nhà cửa trong ấp bị VC đốt cháy rụi.   Ngày 26 tháng 4, 1967: Nguyễn Cầm, trưởng ấp Ba Đàn tỉnh Quảng Nam bị VC giết.   Ngày 10 tháng 5, 1967: Một chiếc xe đò cán trúng mìn VC ở tỉnh Phú Bổn làm một hành khách chết, tài xế và 5 hành khách khác bị thương.   Ngày 11 tháng 5, 1967: Bác sĩ Trần Văn Lữ Y, bộ trưởng Y Tế tường trình trước Tổ Chức Y Tế Thế Giới ở Geneva rằng trong 10 năm qua có hơn 200 nhân viên y tế bị VC giết hại. Con số chính xác là 211 người gồm bác sĩ và y tá đã bị VC giết hoặc bắt cóc; 174 bệnh xá, bệnh viện và nhà bảo sanh bị phá hủy, 40 xe cứu thương bị trúng mìn hoặc bị bắn bằng súng máy.   Ngày 16 tháng 5, 1967: VC mở hai vụ khủng bố ở hai tỉnh Quảng Tín và Quảng Trị giết chết 8 cán bộ xây dựng nông thôn và làm 5 người bị thương.   Ngày 24 tháng 5, 1967: VC tung lựu đạn vào nhà trưởng ban thông tin Phú Thạnh tỉnh Biên Hòa giết chết ông cùng với hai đứa con lúc 3 giờ sáng.   Ngày 29 tháng 5, 1967: Đặc công người nhái VC từ dưới Sông Hương ở Huế làm nổ một khách sạn nơi các thành viên của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến thường trú ngụ. Không có thành viên nào của 3 nước hội viên là Ấn Độ, Gia Nã Đại và Ba Lan bị nguy hại; Vụ tấn công của VC làm cho 5 thường dân người Việt tử thương và 15 bị thương. 80% khách sạn bị hư hại.   Ngày 2 tháng 6, 1967: Hai trung đội VC có trang bị súng máy giữa khuya tấn công Trung Tâm Chiêu Hồi tỉnh Long An làm 5 binh sĩ và 5 thường dân bị thương.   Ngày 27 tháng 6, 1967: Một xe đò đầy hành khách cán phải mìn VC ở đông nam Lai Khê tỉnh Bình Dương khiến 23 người trên xe đều chết.   Ngày 6 tháng 7, 1967: 7 trẻ em đi bộ trên đường lộ để đến chùa tại xã Cẩm Phổ tỉnh Quảng Nam nhằm lúc một xe hàng chạy ngang làm nổ một quả mìn chống tăng do VC gài khiến một em chết vầ em bị thương.   Ngày 13 tháng 7, 1967: Một nhà hàng ở Huế bị VC gài bom nổ làm chết 2 thực khách người Việt, làm bị thương 12 người Việt, 7 người Mỹ và 1 người Phi Luật Tân.   Ngày 14 tháng 7, 1967: VC giả dạng binh lính VNCH tấn công một trại tù tỉnh Quảng Nam, giải thoát cho 1,000 trên tổng số 1,200 tù nhân, xử tử 30 người tại sân trại. 10 thường dân bị giết và 29 thường dân khác bị thương khi VC mở đường rút lui.   Ngày 25 tháng 7, 1967: VC vào nhà dân ở Bình Triệu tỉnh Long An bắt đi 4 đàn ông, 1 phụ nữ và đứa con trai 16 tuổi của bà. Sáng hôm sau trên tỉnh lộ 13, người ta tìm thấy thi thể 6 người này với hai tay bị trói sau lưng và mỗi người có một vết đạn bắn vào đầu.   Ngày 5 tháng 8, 1967: Khủng bố VC bắt một bé gái học sinh cầm một quả lựu đạn đã rút chốt sẵn dặn em đưa cho thầy cô giáo của em. Em học sinh này đi đến trường em thuộc tỉnh An Xuyên đang có chương trình đặc biệt cổ động cho chiến dịch Rủ Nhau Đi Bầu Tháng Chín. Vừa tới cửa lớp học, em học sinh buông tay thả lựu đạn khiến cho em chết và làm 9 em học sinh ngồi trong lớp bị thương.   Ngày 24 tháng 8, 1967: VC ném bom vào nhà một cảnh sát viên ở Cần Thơ làm một người chết và 4 người bị thương.   Ngày 26 tháng 8, 1967: Xe đò chở hành khách cán trúng mìn trong tỉnh Kiến Hòa làm cho 22 người chết và 6 người bị thương.   Ngày 27 tháng 8, 1967: VC gia tăng các vụ khủng bố bằng pháo kích một tuần trước ngày bầu cử tổng thống và thượng nghị viên. 46 chết và 227 bị thương ở Cần Thơ. 10 chết và 10 bị thương trong tỉnh Phước Long. 9 thường dân và 5 trẻ em bị thương ở Ban Mê Thuột. 2 chết và 1 bị thương ở Bình Long. 6 người bị bắt cóc ở làng Phước Hưng tỉnh Thừa Thiên.   Ngày 29 tháng 8, 1967: VC xâm nhập 4 xã thuộc quận Thăng Bình tỉnh Quảng Nam, giết chết 2 và bắt đi 6 người.   Ngày 1 tháng 9, 1967: VC phá quốc lộ 4 trong tỉnh Định Tường với 6 hố bom khiến mọi lưu thông tắt nghẽn ngoại trừ một xe cứu thương quân đội cán trúng mìn áp suất khiến 13 hành khách chết và 23 bị thương.   Ngày 3 tháng 9, 1967: Trong ngày bầu cử, vụ khủng bố VC đầu tiên xảy ra tại một địa điểm bỏ phiếu ở Tuy Hòa Phú Yên khiến 3 chết và 42 bị thương. Tính chung trong buổi sáng ngày bầu cử. có tổng cộng 48 cử tri bị VC sát hại.   Ngày 8 tháng 11, 1967: Trung tâm tị nạn Kỳ Chánh tỉnh Quảng Tín bị VC xâm nhập giết chết 4, làm bị thương 9 và bắt đi 9 người khác, lớp học bị đốt.    Ấp tân sinh Đắc Sơn bị VC dùng súng phun lửa hủy diệt, giết 114 dân làng và làm bị thương 47 người.   END.
......

Nhìn lại chiến tranh

Thỉnh thoảng tôi đọc trong Internet một vài lá thư có nội dung bày tỏ thái độ không đồng ý của người viết đối với số chính sách của đảng và nhà nước, được gởi ra từ trong nước. Các tác giả của những lá thư đó tuy khác nhau ở tên họ, địa chỉ, nhưng chung dưới một tên gọi là "các cựu chiến binh lão thành".     Những lá thư như thế chắc không phải được viết bằng máy vi tính hiện đại như tôi đang sử dụng mà có lẽ bằng những cây viết có ruột cao su mềm, bơm mực bằng tay được cất giữ kỹ lưỡng từ lâu lắm. Nhìn vào tên tuổi và chức vụ, tôi biết các cụ thuộc thế hệ Điện Biên và không ít là người của thời mùa thu 1945 còn lại. Địa chỉ của các cụ tuy khác nhau nhưng giống như lá thư tập thể, phần đông sống trong các khu nhà cũng có tên chung là Khu Tập Thể.   Trong suốt bảy, tám mươi năm của đời mình, các cụ sống, làm việc và được rèn luyện để thừa hành chỉ thị của cấp trên chứ không quen đặt vấn đề, các cụ tập chịu đựng đau đớn chứ không được phép rên la. Và vì thế, viết một lá thư đã là một việc khó khăn, gởi lá thư đó đến các cấp đảng và nhà nước trung ương là một can đảm chưa từng nghĩ đến và phổ biến lá thư rộng rãi ngoài quần chúng quả thật là một hành động phi thường. So với việc ôm ngọn tầm vông vót nhọn lao vào phòng tuyến thực dân trong những ngày còn trai trẻ, hành động viết lá thư gởi lên trung ương đảng ngày nay có thể còn nguy hiểm hơn nhiều. Những kẻ mà các cụ lo sợ sẽ trả thù, dèm pha, nghi kỵ không phải bọn thực dân mắt xanh, mũi lõ dễ phân biệt mà là những người cùng tổ chức, cùng đảng, cùng gọi nhau là đồng chí và ngay cả những kẻ còn thuộc hàng con cháu các cụ. Tôi hình dung cái đêm các cụ tập trung nhau ở nhà một người nào đó trong nhóm để thảo lá thư, chắc phải bí mật, hồi hộp hơn cả giờ ra trận và xúc động hơn cả đêm cuối cùng bên cạnh vợ con trước ngày lên đường đi Lai Châu, Hà Nam, Hà Bắc không biết có ngày trở lại, của mấy chục năm về trước. Các cụ lo sợ là phải. Những kẻ mà các cụ chống đối ngày nay, không những biết rõ nơi ăn chốn ở mà còn là người quyết định các chỉ tiêu lương thực, thực phẩm, tiền hưu trí, phụ cấp nhà ở của các cụ. Những kẻ đó không những nắm quyền sinh sát cho đoạn đời ngắn ngủi còn lại của các cụ mà cũng có luôn cả quyền xóa bỏ quá khứ mà các cụ vô cùng trân quý.     Tôi nghĩ đến các cụ và thương các cụ rất nhiều. Không phải sau khi đọc những lá thư được gởi từ các khu nhà tập thể, không phải sau khi đã ra được nước ngoài mà ngay cả từ thời mới lớn tại miền Nam trước 1975, hình ảnh các cụ vẫn rất đẹp trong lòng tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ tất cả những người Việt Nam sống bên kia sông Bến Hải là cộng sản, trái lại tin rằng ẩn khuất sau đám mây đen độc tài đảng trị đó vẫn có những tấm gương sáng của lòng yêu nước chân thành. Dân tộc nào trên thế giới cũng yêu thương và gắn bó với đất nước của họ, nhưng tôi vẫn có một niềm tin chủ quan rằng con người Việt Nam nặng lòng với quê hương đất nước nhiều hơn các giống dân khác. Bởi vì không có một đất nước nào, ở đó, mỗi ngọn núi, mỗi dòng sông, mỗi con đường đã được gìn giữ bằng một giá đắt như ông bà chúng ta đã phải hy sinh trong suốt dòng lịch sử.     Những ngày còn ở trung học, tôi học thuộc lòng bài thơ “Nhà tôi” của Yên Thao và “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm. Cả hai bài thơ được đăng trong tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn, trong đó có những câu làm tôi rơi nước mắt:    Đêm buông xuống dòng sông Đuống  - Con là ai? Con ở đâu về?  Hé một cánh liếp  - Con vào đây bốn phía tường che  Lửa đèn leo lét soi tình mẹ  Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng  Ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể  Những chuyện muôn đời không nói năng.  (“Bên kia sông Đuống”, Hoàng Cầm)    hay là:    Đêm nay tôi trở về lành lạnh  Sông sâu buồn lấp lánh sao lưa thưa  Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ  Chắp tay súng tôi mơ về Nguyễn Huệ  Làng tôi đấy bên trại thù quạnh quẽ  Nằm im lìm như một nắm mồ ma  Có còn không! Em hỡi một mẹ già?  Những người thân yêu khóc buổi tôi xa.  (“Nhà tôi”, Yên Thao)   Tôi thường tự nhủ, nếu được sinh ra cùng thời với các cụ và có đủ can đảm, con đường đẹp nhất mà tôi chọn có lẽ cũng là con đường mà các cụ đã đi:    Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy  (“Đất nước”, Nguyễn Đình Thi)    Sau 1975, nghe bài hát “Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý viết trong thời chống Pháp, tôi cũng vô cùng cảm động:"Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo, người mẹ nghèo trong áo rách, áo rách nên thương, áo rách nên thương, các con ra đi đã mấy chiến trường, mang theo cả tình thương của mẹ." Trong hình ảnh nghèo nàn, đau xót đó đã toát lên một vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẹ và tình đất nước.     Năm ngoái, trong một buổi thảo luận với các bạn trẻ, tình cờ trùng hợp với thời gian Việt Nam đang kỷ niệm 50 năm trận Điện Biên Phủ, một bạn đã hỏi cảm tưởng của tôi đối với những người ngã xuống trên phòng tuyến Điện Biên Phủ trên đường tấn công vào sào huyệt của tướng De Castries. Tôi đã trả lời người bạn trẻ rằng tôi rất có cảm tình và kính trọng những người chết trên đường đánh vào bộ chỉ huy của tướng De Catries.     Trả lời như vậy không phải vì tôi chưa suy nghĩ kỹ. Thật ra, từ khi biết nghĩ về đất nước, tôi đã suy nghĩ về cái chết của những người Việt Nam đó rất nhiều.     Khi nói cảm tình với những người chết khi tấn công vào Điện Biên Phủ không phải tôi không biết rằng trong thời điểm đó đã có mặt một chính phủ khác, hình thành như kết quả của hiệp ước Hạ Long 1948 và sau đó trong hiệp ước ký kết tại điện Élysée giữa Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol năm 1949. Theo nội dung chính của cả hai hiệp ước, Pháp công nhận "nền độc lập" của Việt Nam. Thật ra, đó chỉ là chiếc bánh vẽ mà dân Việt Nam chẳng thể nào ăn được. Sử gia Phạm Văn Sơn ở miền Nam đã viết trongViệt sử toàn thư: "Nhưng sau 80 năm sống dưới quyền Pháp, nhân dân Việt Nam đã hiểu rõ người Pháp quá nhiều, lại nhìn vào Bảo Đại và thành phần chính của chính phủ Bảo Đại, nhân dân cũng hết tin tưởng, vì vậy mà cây bài quốc gia tức cây bài Bảo Đại không có hiệu quả."     Là một sĩ quan cấp đại tá, phụ trách phòng quân sử thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lẽ ra ông phải viết khác đi cho thích hợp với bối cảnh chính trị Việt Nam sau hiệp định Geneva, nhưng không, sử gia Phạm Văn Sơn đã có một cái nhìn sáng suốt. Ông viết từ trái tim yêu nước và viết cho hàng trăm năm sau chứ không phải để thoả mãn các nhu cầu chính trị nhất thời. Đại tá Phạm Văn Sơn, người đã chết trong trại tù Vĩnh Phú năm 1980, đã ví các nỗ lực của thực dân nhằm tiêu diệt lòng yêu nước bền bỉ của nhân dân Việt Nam chẳng khác gì là việc "cầm dao chém nước", chẳng thể nào chẻ được lòng yêu nước của người Việt Nam.     Khi nói cảm tình với những người lính chết trên đường tấn công vào Điện Biên Phủ không có nghĩa tôi không biết rằng ông Hồ Chí Minh là một cán bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản và những người lãnh đạo phong trào Việt Minh phần lớn là đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Đông Dương. Lenin đã khẳng định cuộc cách mạng chống thực dân là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới và cũng chính Lenin cho rằng các nước thuộc địa lạc hậu có khả năng nhảy vọt lên chủ nghĩa xã hội mà không cần thông qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, tư tưởng đó luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.   Tôi kính trọng và quý mến những người đã ngã xuống, đơn giản bởi vì họ là những người yêu nước. Tình yêu họ dành cho nơi chôn nhau cắt rốn là một tình yêu thuần khiết và vô cùng trong sáng. Lòng yêu nước của họ không nhập từ đâu cả nhưng được hun đúc bằng xương máu từ nhiều ngàn năm lịch sử, lớn lên trong lời dạy bảo của cha và lời ru của mẹ.     Trong cuộc phỏng vấn ngày 26 tháng 2 năm 2005 của đài BBC, nhà thơ Hoàng Cầm cũng đã xác nhận: "Lúc ấy tôi còn trẻ (đỗ tú tài năm 1940), tham gia cách mạng là vì tinh thần yêu nước chứ cũng không biết gì về các chủ nghĩa. Tôi viết các vở kịch mang chất lịch sử, xuất phát từ lòng yêu nước." Một người như nhà thơ Hoàng Cầm, có bằng tú tài, một trình độ giáo dục được xem là cấp cao của thời bấy giờ, vẫn không biết gì về chủ nghĩa Mác-Lê thì hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu tâm hồn nông dân chơn chất Việt Nam khác làm sao hiểu được thế nào là duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, giá trị thặng dư, thời kỳ quá độ và họ chắc cũng chẳng quan tâm đến các ông Các Mác râu xồm hay ông Lê-nin trán hói là ai.                  Nhà thơ Hoàng Cầm     Tôi tin tuyệt đại đa số những người đã chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ ngã xuống trong nụ cười, bởi vì ngay cả khi nhắm mắt lìa đời họ vẫn tin rằng họ đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết trên sông Bạch Đằng, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng Yên Thế. Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất nước của Hùng Vương thương yêu và giàu mạnh. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế.     Tôi không tin một người Việt Nam nào có thể lấy thân mạng mình lấp vào ổ súng thực dân hay lấy thân mình làm đòn kê để khẩu pháo khỏi rơi xuống hố sâu chỉ để mong một ngày đất nước Việt Nam sẽ biến thành một thiên đường, ở đó con người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, muốn gì có nấy như đã khẳng định trong kinh điển Mác-Lê.     Không! Những nông dân Việt Nam yêu nước từ bỏ ruộng vườn ra đi theo tiếng gọi của non sông như một thời vang vọng từ Chí Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử. Họ đã từng ôm lấy nhau mà hát"Vì nước, ruộng nương anh để vợ anh cày, gian nhà tranh mặc kệ gió lung lay... Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá, miệng còn cười buốt giá chân không giày, thương nhau, ta nắm lấy bàn tay". Không ai gần gũi với đất nước hơn là nông dân và cũng không ai yêu đất nước hơn người nông dân. Cả đời họ gắn liền với bờ ao, ruộng lúa. Họ đánh Tây chỉ vì một lý do đơn giản, để được sống thanh bình, tự do trong căn nhà tranh, bên bờ ao thửa ruộng của họ. Ý nghĩa của quê hương trong lòng người nông dân trong sáng như thế đó.     Và cho dù những người nông dân áo vải thô đó có tham gia vào đảng cộng sản đi nữa, việc tham gia của họ cũng chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn mà thôi. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Trong ý thức đơn sơ của ngưoi dân Việt, các tổ chức chống thực dân là những chiếc phao họ bám để sang bờ độc lập. Người dân hiền lành ngày đó làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt cuộc đời họ cho đến ngày nay.     Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam nhưng tôi nhìn lịch sử từ hướng con tim và bằng lý trí chứ không nhìn từ điện Kremlin, White House, khu Trung Nam Hải Bắc Kinh hay bằng những kiến thức và lý luận một chiều. Tôi học để hiểu rằng cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Đó là cuộc chiến giữa dân tộc Việt Nam bị trị chống lại thực dân Pháp bóc lột và nô lệ đất nước chúng ta. Cuộc chiến đó bắt đầu khi tiếng đại bác của tướng thực dân Rigault de Genouilly bắn vào Đà Nẵng năm 1859 chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược cho đến khi chúng rút ra khỏi Việt Nam vào năm 1954.     Trong gần một trăm năm đó, máu của hàng triệu người Việt Nam đã đổ xuống khắp ba miền, từ ruộng lúa Tiền Giang đến châu thổ sông Hồng, từ Côn Đảo đến Réunion, từ dải Trường Sơn trùng điệp đến núi rừng âm u Việt Bắc. Bên tai tôi như vẫn còn nghe tiếng hô "Việt Nam vạn tuế" của Nguyễn Thái Học, lời dặn dò của Phan Chu Trinh, tiếng gào thống thiết của Nguyễn An Ninh, lá thư viết bằng máu của Phan Bội Châu, giọng thơ hùng tráng của Lý Đông A, tiếng sóng Châu Giang vỗ vào thân xác của Phạm Hồng Thái. Người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên.     Khoảng cách giữa thương nước và hại nước không phải là một chiếc cầu dài mà trái lại, rất ngắn và mỏng như sợi tóc. Chiếc cầu nhận thức đó ngắn đến nỗi nếu chỉ bước thêm một bước nữa, một người yêu nước sẽ tức khắc trở thành kẻ bán nước. Đó là thực chất của cuộc chiến gọi là "Chống Mỹ cứu nước" sau 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975.     Nhiều người nhìn cuộc chiến Việt Nam như nhìn vào màu nước biển. Tùy theo thời gian và chỗ đứng của mỗi người, nước biển có một màu sắc khác nhau. Nhưng màu thật sự của giọt nuớc không thay đổi dù sáng, trưa, chiều, tối, trong bờ hay ngoài khơi. Tương tự, cuộc chiến Việt Nam đã được gọi bằng nhiều tên gọi: nội chiến, chống đế quốc, ủy nhiệm, đánh thuê v.v…, nhưng bản chất của cuộc chiến vẫn chỉ là một mà thôi. Như vậy, bản chất của cuộc chiến từ 1954 đến 1975 là gì?     Trong các định nghĩa về chiến tranh, tôi vẫn đồng ý với định nghĩa của Karl von Clausewitz nhất, "chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những phương tiện khác" (War is the continuation of politics by other means). Và từ định nghĩa đó, nhìn lại cuộc chiến Việt Nam, thay vì đi tìm nhãn hiệu quốc gia nào trên từng vỏ đạn, trên mỗi chiến xa hay thử nghiệm DNA, màu da, chủng tộc của từng xác chết, có lẽ chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân và mục đích của cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước mình, không phải trong thời chiến mà ngay cả trước và sau cuộc chiến.     Nói về mục đích chiến tranh, khoảng năm 1970, tôi có đọc một cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Tôi không nhớ chính xác tên của tác phẩm nhưng nhớ rất rõ giáo sư đã dành nguyên trang đầu để viết mỗi một câu: "Nói cho cùng, cuộc chiến Việt Nam vẫn là cuộc chiến tranh ý thức hệ". Câu nói đó kích thích sự tìm hiểu của tôi rất nhiều về bản chất và mục đích của cuộc chiến Việt Nam mà các bên tham dự đang nhắm đến.     Ở miền Nam, chúng tôi lớn lên với nhiều câu hỏi và rất ít câu trả lời, trong khi đó, thế hệ trẻ miền Bắc lớn lên có tất cả câu trả lời chờ sẳn mà không cần đợi hỏi.     Nếu ai hỏi một trăm em, hay thậm chí một ngàn em học sinh Việt Nam tốt nghiệp phổ thông về lý do của cuộc chiến tranh được mệnh danh là "giải phóng miền Nam", tôi tin người hỏi sẽ nhận về những câu trả lời giống hệt nhau, đó là "chống giặc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước".     Giặc Mỹ xâm lược?     Phải chăng vì "giặc Mỹ xâm lược" Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Tây Đức nên ngày nay các quốc gia này mới trở nên những nước giàu có nhất nhì trên thế giới.     Thống nhất đất nước?     Vâng, không một người Việt Nam nào muốn cắt đi phần da thịt của mình hay muốn đất nước mình phải chia đôi, chia ba, nhưng nếu để đổi sự thống nhất bằng sinh mạng nhiều triệu người dân vô tội, nhiều trăm ngàn người Việt Nam vẫn còn đang mất tích, hàng vạn cô gái Trường Sơn đã đánh mất tuổi xuân trong rừng sâu núi thẳm, một nền kinh tế đi sau nhân loại hàng thế kỷ, phải chăng là một giá nên đổi? Độc ác như Kim Nhật Thành nhưng sau cuộc thử lửa 1950 đã không còn nuôi giấc mộng xâm chiếm Nam Hàn lần nữa. Bạo chúa cỡ Erich Honecker cũng chưa bao giờ dám nghĩ chuyện phiêu lưu thống nhất nước Đức bằng con đường võ lực.     Trước 1975, tôi nghe rất nhiều về quốc gia, cộng sản nhưng ai cũng bận đánh nhau, chẳng bao nhiêu người dành thời gian nghiên cứu kỹ càng và phổ biến rộng rãi về thế nào là quốc gia và thế nào là cộng sản. Một số không ít các nhà lãnh đạo miền Nam từng là sĩ quan trong quân đội Pháp hay đã phục vụ trong chính quyền thuộc địa Pháp nên cũng không thích nghe quá nhiều những mẩu chuyện khơi dậy lòng yêu nước chống thực dân và họ cũng không đặt nặng việc xây dựng một hệ ý thức quốc gia dân tộc nào hoàn chỉnh.     Một số người được gọi là trí thức trong xã hội miền Nam thì xem việc chống chính phủ, chống Mỹ là một thời trang, mặc dù nhiều trong số họ ăn lương Mỹ. Xã hội miền Nam trước 1975 hẳn nhiên không phải là một xã hội lý tưởng. Miền Nam có tham nhũng, có cậy quyền, có lũng đoạn, có độc tài, có tham ô, có lãng phí, nói chung có đủ các biến chứng tiêu cực của một đất nước vừa thoát ra khỏi ách phong kiến và thực dân. Nhưng đồng thời miền Nam cũng có các điều kiện và nhân tố cần thiết để xây dựng một xã hội dân chủ pháp trị.     Giống như việc trồng cây ăn trái, những hạt mầm dân chủ cũng phải được gieo, phân bón, tưới nước, chịu đựng nắng mưa, gió bão, truớc khi đâm chồi, nẩy lộc, đơm hoa và kết trái. Mặc dù đang chập chững trên hành trình dân chủ hóa như thế, không có nghĩa là hàng triệu người lính miền Nam chiến đấu không lý tưởng.     Một người lính nghĩa quân gác chiếc cầu ở đầu làng để mấy anh du kích khỏi về giựt sập cũng là một biểu hiện hùng hồn của lý tưởng tự do và chủ quyền. Chiếc cầu là huyết mạch kinh tế của làng, là trục giao thông chính của làng, là vẻ đẹp của làng, và bảo vệ chiếc cầu là nhiệm vụ sống còn mà người lính nghĩa quân phải làm cho bằng được. Lý tưởng tự do của một dân tộc dù thiêng liêng vĩ đại bao nhiêu cũng bắt nguồn từ những hình ảnh nhỏ nhoi nhưng đầy ý nghĩa đó.     Trong suốt 20 năm từ sau 1954, nhân dân miền Nam, không có một con đường nào khác hơn là phải chiến đấu để bảo vệ quyền được sống trong một xã hội họ đã chọn lựa. Phát xuất từ chính sách chia để trị của thực dân và hoàn cảnh trưởng thành, không ít nhà lãnh đạo miền Nam đã bắt đầu cuộc đời chính trị hay binh nghiệp trong hàng ngũ Pháp, nhưng giống như hàng triệu người dân miền Nam khác, họ đã chung lưng nhau chiến đấu để bảo vệ quyền được nói những điều họ nghĩ, quyền được sống nơi họ muốn sống, quyền đi nhà thờ, đi chùa họ chọn, quyền được hát bài hát họ thích. Dù quá khứ khác nhau nhưng họ đều ngã xuống như những người yêu nước. Đừng quên, những người bị gọi là "Ngụy", là "theo Tây", "theo Mỹ" kia không chỉ phải bảo vệ miền Nam mà còn phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng khó khăn để giữ từng cù lao, từng khoảng không gian của vùng trời, từng hải lý của vùng biển Việt Nam. Hạt cát Hoàng Sa vẫn còn đỏ màu máu của họ.     Thế nhưng, số phận các quốc gia nhược tiểu thì ở đâu và thời nào cũng vậy, nếu tương hợp với quyền lợi của đế quốc thì sống và ngược lại thì chết. Bởi vì mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam rất tương hợp với quyền lợi của Liên-Xô và Trung Quốc nên "vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam" như Lê Duẩn nói, trong lúc nhiều cấp lãnh đạo miền Nam phải tự sát hay sắp hàng đi vào tù bởi vì quyền lợi của nhân dân miền Nam (chiến đấu để bảo vệ và xây dựng các nền móng tự do dân chủ riêng ở miền Nam) không còn tương hợp với sách lược thế giới của tổng thống Richard Nixon.     Thật ra, không phải đợi đến khi tổng thống Nixon thay đổi đường lối chiến tranh mới dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam, chính sách của Mỹ tại Việt Nam đã thất bại ngay từ trong trứng. Đánh nhau với ba nước tiên phong và hùng hổ nhất trong khối cộng sản quốc tế (Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô) mà chỉ nhằm bảo vệ miền Nam Việt Nam thì sự thất bại là vấn đề thời gian mà thôi. Danh tướng Đức Erwin Rommel chẳng từng viết "Phòng thủ là tự sát" đó sao. Trong chiến tranh Đại Hàn, nếu quân đội đồng minh không đổ bộ Ichon, giải phóng Seoul, vượt vĩ tuyến 38, chiếm cả thủ đô Bình Nhưỡng của Bắc Hàn, mà chỉ lo phòng thủ miền Nam thì số phận Nam Hàn chưa biết sẽ ra sao.   Sau 1975, chính ông bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã xác định cuộc chiến từ sau 1954 đến 1975 là chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản và tự do. Trong diễn văn chào mừng chiến thắng vào đầu tháng 5 năm 1975, ông Lê Duẩn không còn che giấu tham vọng nhuộm đỏ cả nước Việt Nam khi tuyên bố: "Vinh quang này thuộc về Đảng Lao động Việt Nam quang vinh, người lãnh đạo của giai cấp công nhân, giai cấp tiền phong trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội".     Câu nói "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc..." đã trở thành một trong những câu khẩu hiệu phổ biến nhất trong thời kỳ đó. Câu khẩu hiệu dài lòng thòng này đã làm tốn nhiều vải và mực nhất trong những năm mà người dân không có áo mặc sau 1975. Ngoài ra, trong tác phẩm được xem như là kinh điển, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, ông Lê Duẩn cũng nhiều lần khẳng định mục đích cuối cùng của cách mạng tại Việt Nam là đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện đại (công nghiệp, nông nghiệp và khoa học kỹ thuật), tạo điều kiện vững chắc cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trong tương lai.     Nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập vào năm 1930 cho đến nay, tuy khác nhau về chiến lược của mỗi thời kỳ và hoạt động dưới nhiều tên gọi (Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng hoàn toàn nhất quán về tư tưởng và mục đích chính trị.     Người đọc sẽ thắc mắc, thế thì công sức của Đảng Cộng sản trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp đầy gian khổ nhưng cũng rất vinh quang đó là gì?     Xin thưa, từ nhỏ tôi được dạy rằng khi giúp đỡ ai thì đừng cầu ơn phước, vì giúp người chỉ để mưu cầu lợi lộc riêng tư thì không phải giúp người mà chỉ là một hành động đầu tư trên sự khổ đau của kẻ khác mà thôi. Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương cho đến 1954, giới lãnh đạo cộng sản đã chiến đấu trong hàng ngũ người Việt yêu nước, vâng, nhưng mục đích cuối cùng của họ không phải là độc lập dân tộc hay thống nhất đất nước. Ba mươi năm, kể từ 1975, một khoảng thời gian đủ dài và một vết chém đủ đau để nhân dân Việt Nam ý thức ra rằng thống nhất đất nước chỉ là điều kiện tiền đề cho mục đích cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam. Hành động đốt sách vở một cách không phân biệt, xóa bỏ mọi tàn tích văn hóa cũ, đổi tiền năm bảy lượt, bỏ tù hàng trăm ngàn người, đày đi kinh tế mới hàng triệu đồng bào là những bằng chứng hiển nhiên đến mức không ai còn có thể chối cãi được. Nếu chỉ đánh Mỹ để giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, tại sao họ đã thi hành các biện pháp đầy đọa, trừng phạt, tẩy não vô cùng thất nhân tâm như đã làm sau 1975 đối với chính đồng bào máu mủ của mình?     Trong quan điểm đó, Đảng Cộng sản không có công trạng hay ơn nghĩa gì với dân tộc Việt Nam cả. Họ chỉ là những người cho vay lấy lãi nặng bằng máu xương của bao nhiêu thế hệ Việt Nam. Hãy so sánh cách sống của những ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên trung ương đảng và cuộc đời của những người được gọi là chủ nhân đất nước đang lay lắt dưới gầm cầu Long Biên để thấy cái mức lãi mà dân tộc ta phải trả cho Đảng Cộng sản Việt Nam cao đến bao nhiêu. Bất cứ người Việt Nam có một chút kiến thức kinh tế, chính trị và nhìn lịch sử một cách khách quan phải công nhận rằng, nếu không có ý thức hệ cộng sản, Việt Nam không những vẫn là một dân tộc thống nhất mà còn có đời sống tự do, dân chủ, nhân bản và giàu mạnh gấp trăm lần hơn hôm nay.
......

Hoa Kỳ Tìm Kiếm Ảnh Hưởng Ổn Định Ở Khu Vực Châu Á Thái Bình Dương

Tướng Martin Dempsey, tổng tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, ngày 22/04/2013 tại Bắc kinh đã bảo vệ cho ‘chiến lược xoay trục’ của Mỹ về Á châu Thái Bình Dương. Ông đã trấn an giới lãnh đạo chính quyền và quân sự của Trung cộng rằng: “Hoa kỳ muốn có một ảnh hưởng ổn định trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương”. “Quân đội Hoa kỳ cam kết xây dựng một mối quan hệ tốt hơn, sâu xa và bền vững hơn với Trung quốc vào lúc chính quyền Obama chuyển trọng tâm chiến lược từ vùng Trung Đông qua vùng Châu Á – Thái Bình Dương”. Ông nói: “Hoa kỳ có lẽ đã không quan tâm đúng mức đối với vùng Châu Á – Thái Bình Dương trong thập niên vừa qua, vào lúc quân đội Hoa kỳ chiến đấu trong các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan”. Tướng Dempsey nhấn mạnh rằng: “Hoa kỳ vẫn là một cường quốc khu vực”. Tại cuộc họp báo ở bộ quốc phòng Trung cộng, bên cạnh người đồng nhiệm, tướng Phòng Phong Huy (Fang Fenghui), ông tuyên bố:“Hoa kỳ tìm kiếm ảnh hưởng giúp ổn định khu vực châu Á –Thái Bình Dương. Chúng tôi nghĩ rằng, chính sự vắng mặt, chứ không phải sự hiện diện của chúng tôi, mới làm mất ổn định trong khu vực”. Việc Hoa kỳ xoay trục chiến lược về Châu Á làm cho Trungcộng rất lo ngại, Tuần vừa rồi, Bắc kinh đã lên tiếng cho rằng: “Hoa kỳ đã góp phần làm cho tình hình khu vực thêm căng thẳng… đã khiến các nước như Nhật bản, Philippines, Việt Nam trở nên cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền trên biển với Trung quốc”. Đích ra, kẻ làm cho tình hình khu vực ‘căng thẳng’ không ai khác, mà chính là sự hung hăng xâm chiếm toàn vùng biển Đông Nam Á của Trungcộng. Cũng bởi vậy, mà các nước trong vùng Đông Nam Á và Bắc Á, lẫn Đài Loan đểu phải dựa vào sức mạnh của hải quân Mỹ để chống đỡ với sức bành trướng đang lên của Trung cộng. Tướng Dempsey đã nói đúng, chính sự vắng mặt, chứ không phải sự hiện diện của Hoa kỳ, mới làm mất ổn định trong khu vực. Có lẽ Trung cộng đã hiểu ra rằng, việc xoay trục chiến lược của Mỹ là không thể đảo ngược được, mà nếu Trung cộng chấp nhận chiến tranh thì chưa đủ sức thắng Mỹ, nên Bắc kinh đành phải xuống nước. Tham Mưu Trưởng Quân Đội Trung Cộng, tướng Phòng Phong Huy nói: “Các quân đội Trung quốc và Hoa kỳ cần phải tăng cường hợp tác và có một quan hệ đối tác mới”. Một bài xã luận của Tân Hoa Xã Trung cộng ca ngợi chuyến thăm của Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa kỳ và nói rằng: “Các cuộc họp thường xuyên giữa các giới chức cao cấp Trung quốc và Hoa kỳ trong những tuần lễ gần đây đã cải thiện bang giao song phương lên một mức tuyệt hảo”. Phải chăng tân lãnh đạo China, Tập Cận Bình đã có “Tân Chính Sách” đối tác với Hoa kỳ của tổng thống Barark Obama?   Trước đó, ngày 15/04/13, Viện Chính Sách Chiến Lược Úc - ASPI tiết lộ: “Mỹ và các nước đồng minh châu Á, đặc biệt là Úc và Nhật bản, đang thúc đẩy các kế hoạch chuẩn bị chiến tranh chống Trung quốc”. “Kế hoạch chiến tranh không thể tưởng tượng: Trận chiến ‘trên không-trên biển’, bao gồm kế hoạch chuẩn bị chiến tranh chống Trung Quốc”. Chiến lược trên Không – trên Biển được phát triển ba năm qua của Lầu Năm Góc, là bộ phận không thể thiếu trong chính sách “trở lại” châu Á của chính quyền Obama, nhằm ngăn chặn Trung cộng trên tất cả các mặt trận ngoại giao, kinh tế, thương mại và quân sự. Nhà phân tích Ben Schreer của ASPI cho biết: “Lầu Năm Góc đang toan tính một chiến lược quân sự, nhằm phát động và đánh thắng trong cuộc chiến tranh lớn chống China”.  “Trận chiến Không-Biển là chiến lược phòng thủ, chống lại cuộc tấn công mạnh mẽ của Trung quốc - một phản ứng trước những khả năng phát triển quân sự ngày càng tăng của Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân China -PLA- đang làm xói mòn sự thống trị trên biển của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Lầu Năm Góc dự định phát động một cuộc chiến tranh chủ yếu sử dụng các loại tàu chiến, máy bay chiến đấu và tên lửa, nhằm phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng quân sự và bao vây phong toả làm tê liệt kinh tế China, mà không cần xâm lược. Tài liệu của ASPI mô tả:“Trận chiến Không-Biển sẽ đối phó với chiến lược của China, bằng cách đáp trả một cuộc tấn công mở đầu của China, sau đó tiến hành một chiến dịch làm tê liệt các hệ thống chỉ huy, kiểm soát của PLA, sử dụng các loại tên lửa phá hủy các hệ thống vũ khí trên bộ và phong tỏa từ xa các tàu thuyền thương mại của China ở eo biển Malacca cũng như các nơi khác”.   Tài liệu này nhận định: “Cuộc chiến có thể leo thang, nhưng dưới ngưỡng chiến tranh hạt nhân. Mỹ sẽ không để xẩy ra một cuộc chiến tranh hạt nhân đầy đủ”. Tài liệu thêm rằng: “Đến nay, các kế hoạch chuẩn bị cho chiến lược Trận Chiến Không-Biển của Lầu Năm Góc không chỉ dừng lại ở trên giấy tờ. Thực tế, Mỹ đã và đang tổ chức lực lượng quân sự ở khu vực Thái Bình Dương, kể cả tăng cường quân sự tiền phương để đối phó với các cuộc tấn công tên lửa, bố trí lực lượng rộng lớn hơn trong khu vực, tập trung 60% tài sản của hải quân Mỹ ở châu Á và phát triển một hệ thống vũ khí mới, nhằm phát động một cuộc chiến tranh trên Biển, trên Không bên ngoài lãnh thổ China. Đồng thời lợi dụng Tiều Tiên như một cái cớ, Mỹ đang hợp tác với Nhật Bản, xây dựng các hệ thống tên lửa đạn đạo trong khu vực, để sẵn sàng đáp trả cuộc chiến tranh hạt nhân của China”. Ông Schreer kêu gọi: “Hai chính phủ phải tuyệt đối bí mật các kế hoạch chiến tranh, và đề nghị chính phủ Úc ủng hộ chiến lược Trận Chiến Không-Biển, mặc dù không lên tiếng ủng hộ công khai chiến lược”.   Ấy thế mà, trước khi tướng Martin Dempsey, sĩ quan cao nhất của quân đội Mỹ sang Trung cộng để gặp  người đồng nhiệm và chủ tịch Tập Cận Bình, tân lãnh tụ Trung cộng thì Viện ASPI của Úc lại tiết lộ chiến lược tuyệt mật của Ngũ Giác Đài ra là làm sao?  Tất nhiên, trong tư thế Đồng Minh cật ruột giữa Úc và Mỹ, Úc không thể làm vậy, nếu không có sự đồng ý của Mỹ. Đây phải là một động tác có tính toán mất, còn trong “ván bài sòng phẳng” giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh. Bắc kinh có quyền lựa chọn “Chiến hay Hoà”.Nhất là đánh thẳng vào tâm lý của các tướng lãnh quân đội Trung cộng, để họ tự so sánh giữa lực lượng của họ và của đối phương. Vì ai trong bọn họ cũng thuộc lòng binh pháp của Tôn Tử: “Biết Địch, Biết Ta, Trăm Trận, Trăm Thắng”.Nếu nhóm lãnh đạo tối cao của China đã tìm được sự đồng thuận với lãnh đạo Hoa kỳ “xuống thang bành trướng” để làm một Cường Quốc Kinh Tế có Trách Nhiệm với Quốc Tế. Đúng như Tân Hoa Xã ca ngợi:“…cải thiện bang giao song phương lên mức tuyệt hảo” thì đây lại là việc giúp cho Quân Đội của họ biết rõ thực lực của 2 bên, để họ có nhận thức chính đáng, ra khỏi vùng hào quang ảo giác, do cơ quan tuyên truyền của đảng lâu nay đã cố đề cao họ là một quân đội anh hùng, vô địch, một cường quốc nguyên tử đủ sức đánh thắng Mỹ, làm bá chủ cả thế giới. 
......

Schriftsteller Bui Thanh Hieu wartete lange auf seine Ausreisegenehmigung

Vietnam/Deutschland: Vietnamesischer Stipendiat beim Weimarer Bürgermeister Von: IGFM   Schriftsteller Bui Thanh Hieu wartete lange auf seine Ausreisegenehmigung Bùi Thanh Hiếu Weimar/Frankfurt a.M./Hanoi (22. April 2013) – Heute wird Peter Kleine, Bürgermeister der Stadt Weimar, den vietnamesischen Schriftsteller Bui Thanh Hieu im Rathaus empfangen. Der Friedl-Dicker-Stipendiat ist direkt aus Hanoi gekommen. Er ist einer der prominenteste Menschenrechtsverteidiger in der vietnamesischen Hauptstadt, und sein Ausreiseverbot ist dank des großen Einsatzes der deutschen Regierung vor wenigen Tagen aufgehoben worden, loben die Organisationen: „Weimar Stadt der Zuflucht“ und die Internationale Gesellschaft für Menschenrechte (IGFM), die den Fall seit anderthalb Jahren gemeinsam betreuen. Auch der Beauftragte der Bundesregierung für Menschen-rechte, Markus Löning, hatte sich bei seinem Besuch in Vietnam Ende letzten Jahres für diese Ausreise eingesetzt. Der Schriftsteller Bui Thanh Hieu, 41 Jahre, schreibt im Internet unter dem Bloggernamen „Nguoi Buon Gio“ (Der Wind-Händler). Er berichtete über Probleme der sozialen Randgruppen und über Menschenrechtsverletzungen. Er setzte sich insbesondere für das Recht auf friedliche Demonstration ein. Er assistierte Rechtsanwälten in politischen Prozessen. Bui Thanh Hieu bekam deswegen zunehmend Ärger mit dem vietnamesischen Staatssicherheitsdienst. Jedes seiner Arbeitsverhältnisse in den letzten zehn Jahren wurde beendet, sobald die Polizei seine Arbeitsstelle ausfindig gemacht hatte. Gewahrsam war für ihn Alltag geworden. Die Erfahrungen mit der Haft verwertete er in kurzen Stories, die bei seinen Lesern gut ankamen. Er habe das Rechtsbewusstsein der Bürger in Vietnam geschärft, so die IGFM. Ende Januar 2013 stand er wegen angeblicher „Gefährdung der nationalen Sicherheit“ kurz vor einer Verhaftung. Die Polizei hatte ihn vier Tage lang festgehalten und verhört, weil er über den Prozess gegen ein Dutzend Katholiken in der Hafenstadt Hai Phong, die wegen „Subversion“ und „Propaganda gegen den Sozialistischen Staat“ angeklagt sind, berichten wollte. Sein 206-seitiges Buch „Dai Vê Chi Di“ (Extreme Merkwürdigkeiten im großen Land der Vê), erschien Juli 2011 im „Schnipsel-Verlag“ in Vietnam. Das Buch ist eine Sammlung von gleichnamigen Artikeln auf seiner Blog-Seite, die den politischen Alltag in Vietnam satirisch kommentierten. Der im Untergrund agierende „Schnipsel-Verlag“ druckt Werke, die zensiert oder verboten worden sind, und verteilt sie kostenlos in Vietnam. Sein Leiter, Dichter Bui Chat, bekam 2011 den „Freedom to Publish Prize“ von der Internationalen Verlegervereinigung (International Publisher Association). Weitere Informationen zur Menschenrechtslage in Vietnam:http://www.igfm.de/Vietnam.543.0.html Facebook-Seite der Internationalen Gesellschaft für Menschenrechte:https://www.facebook.com/igfmdeutschlandhttp://www.igfm.de/presse/aktuelles/detailansicht/?tx_ttnews[tt_news]=2688&cHash=f38027f8cfc5b6f4f471f608440cc3fb
......

Vietnam/Deutschland: Vietnamesischer Stipendiat beim Weimarer Bürgermeister

Schriftsteller Bui Thanh Hieu wartete lange auf seine Ausreisegenehmigung Weimar/Frankfurt a.M./Hanoi (22. April 2013) – Heute wird Peter Kleine, Bürgermeister der Stadt Weimar, den vietnamesischen Schriftsteller Bui Thanh Hieu im Rathaus empfangen. Der Friedl-Dicker-Stipendiat ist direkt aus Hanoi gekommen. Er ist einer der prominenteste Menschenrechtsverteidiger in der vietnamesischen Hauptstadt, und sein Ausreiseverbot ist dank des großen Einsatzes der deutschen Regierung vor wenigen Tagen aufgehoben worden, loben die Organisationen: „Weimar Stadt der Zuflucht“ und die Internationale Gesellschaft für Menschenrechte (IGFM), die den Fall seit anderthalb Jahren gemeinsam betreuen. Auch der Beauftragte der Bundesregierung für Menschen-rechte, Markus Löning, hatte sich bei seinem Besuch in Vietnam Ende letzten Jahres für diese Ausreise eingesetzt. Der Schriftsteller Bui Thanh Hieu, 41 Jahre, schreibt im Internet unter dem Bloggernamen „Nguoi Buon Gio“ (Der Wind-Händler). Er berichtete über Probleme der sozialen Randgruppen und über Menschenrechtsverletzungen. Er setzte sich insbesondere für das Recht auf friedliche Demonstration ein. Er assistierte Rechtsanwälten in politischen Prozessen. Bui Thanh Hieu bekam deswegen zunehmend Ärger mit dem vietnamesischen Staatssicherheitsdienst. Jedes seiner Arbeitsverhältnisse in den letzten zehn Jahren wurde beendet, sobald die Polizei seine Arbeitsstelle ausfindig gemacht hatte. Gewahrsam war für ihn Alltag geworden. Die Erfahrungen mit der Haft verwertete er in kurzen Stories, die bei seinen Lesern gut ankamen. Er habe das Rechtsbewusstsein der Bürger in Vietnam geschärft, so die IGFM. Ende Januar 2013 stand er wegen angeblicher „Gefährdung der nationalen Sicherheit“ kurz vor einer Verhaftung. Die Polizei hatte ihn vier Tage lang festgehalten und verhört, weil er über den Prozess gegen ein Dutzend Katholiken in der Hafenstadt Hai Phong, die wegen „Subversion“ und „Propaganda gegen den Sozialistischen Staat“ angeklagt sind, berichten wollte. Sein 206-seitiges Buch „Dai Vê Chi Di“ (Extreme Merkwürdigkeiten im großen Land der Vê), erschien Juli 2011 im „Schnipsel-Verlag“ in Vietnam. Das Buch ist eine Sammlung von gleichnamigen Artikeln auf seiner Blog-Seite, die den politischen Alltag in Vietnam satirisch kommentierten. Der im Untergrund agierende „Schnipsel-Verlag“ druckt Werke, die zensiert oder verboten worden sind, und verteilt sie kostenlos in Vietnam. Sein Leiter, Dichter Bui Chat, bekam 2011 den „Freedom to Publish Prize“ von der Internationalen Verlegervereinigung (International Publisher Association).   Weitere Informationen zur Menschenrechtslage in Vietnam:http://www.igfm.de/Vietnam.543.0.html Facebook-Seite der Internationalen Gesellschaft für Menschenrechte:https://www.facebook.com/igfmdeutschland http://www.igfm.de/presse/aktuelles/detailansicht/?tx_ttnews[tt_news]=2688&cHash=f38027f8cfc5b6f4f471f608440cc3fb
......

Các khái niệm dân chủ, pháp quyền, cộng hoà và xã hội: Lý thuyết và thực tế

Vấn đề Một trong những góp ý tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam là đề xuất du nhập mô hình dân chủ của nhà nước phương Tây. Dân chủ là một khái niệm luật Hiến pháp nhằm quy định hình thức cai trị, nhưng lại gắn liền với các khái niệm pháp quyền, cộng hoà và xã hội. Dù có liên hệ nhau nhưng các khái niệm này có nhiều giá trị tương đồng và dị biệt mà bài viết này sẽ giới thiệu những mối quan hệ lý thuyết để đối chiếu với thực tế của Hiến pháp Việt Nam.   Lý thuyết luật Hiến pháp  Dân chủ và pháp quyền  Ý nghiã dị biệt   Ý nghĩa chính của dân chủ là toàn dân có thẩm quyền tối thượng trong việc quyết định vận mệnh của đất nước và con người, mà không ai khác thay thế. Vào thời trung cổ giáo quyền chiếm vai trò chủ yếu trong việc quyết định mọi sinh hoạt thế quyền. Sau khi Cách mạng Pháp thành công, toàn dân trở thành nguồn quyền lực duy nhất của đất nước, điển hình là thẩm quyền lập hiến. Toàn dân là tác giả Hiến pháp mà nội dung là quy định một trật tự cho sự chung sống trong xã hội và quan trọng nhất là các nguyên tắc tổ chức nhà nước. Tại Đức, nguyên tắc quyền dân tộc tối thượng lần đầu tiên được ghi trong Hiến pháp Weimar 1919, nguyên tắc này cũng được công nhận trong Hiến pháp các tiểu bang; Hiến pháp Paulkirchen 1849 tuy đề cao một vài yếu tố dân chủ nhưng lại không công nhận quyền dân tộc tối thượng như Pháp. Dân chủ, do đó, không đi sâu về nội dung luật pháp, tính chính thống hay kiểm soát các hoạt động nhà nước.    Khái niệm dân chủ tại Hoa kỳ và châu Âu có nhiều dị biệt. Dân chủ tại Hoa kỳ không là một phong trào đấu tranh trong nội bộ của một nước mà trước tiên là đòi hỏi quyền tự do tôn giáo và quyền tự trị. Sự hình thành các tiểu bang New England (Đông Hoa Kỳ) nhằm tách rời khỏi quyền thống trị của mẫu quốc Anh là một minh chứng. Truyền thống tư duy tại châu Âu khác hơn. John Locke cho rằng dân quyền tại Anh là tình trạng tự nhiên có sẵn của xã hội mà vai trò của chính quyền là phải bảo đảm quyền này được thực thi. Locke không coi dân chủ là quyền tối thượng và nằm trong truyền thống đấu tranh như tại Pháp. Lịch sử của Pháp cho thấy toàn dân có một quá trình chống đối và với cải cách liên tục của chính quyền mà khái niệm về dân chủ mới thành hình. Nhờ thế dân chủ trở thành quyền tốí thượng và không thể chuyển nhượng   Nhà nước pháp quyền, ngược lại, đặt vấn đề nội dung, phạm vi và luật thủ tục trong việc điều hành các hoạt động của nhà nước, cụ thể là quy định mọi giới hạn của nhà nước và người dân vào luật pháp. Nguyên tắc ràng buộc này nhằm bảo đảm quyền tự do của cá nhân, cụ thể là nhà nước phải tôn trọng việc thực thi dân quyền, các thủ tục luật hành chính và có nền tư pháp độc lập. Tôn trọng luật pháp là một phương tiện cho nhà nước thực thi nguyên tắc dân chủ được hữu hiệu hơn.   Lịch sử chứng minh các chế độ quân chủ hiến định vào thế kỷ XIX, dù không dân chủ, nhưng cũng tôn trọng nguyên tắc nhà nước pháp quyền. Nguợc lại, các chế độ dân chủ hiện nay luôn đề cao trọng pháp, mà mức độ áp dụng trong thực tế bị giới hạn.  Mục tiêu tương đồng    Nội dung của khái niệm nhà nước pháp quyền nhằm bảo vệ dân quyền một cách tổng quát, không đặc biệt hướng về ý kiến của người dân trong các quyết định cụ thể. Dù khác nhau về chiều hướng nhưng hai khái niệm dân chủ và pháp quyền cùng theo đuổi một mục tiêu chung là bảo vệ dân quyền, mà tự do ngôn luận, báo chí, thông tin và hội họp là điển hình. Quyền tự do dân chủ là một điểm nối kết cho hai khái niệm này gặp nhau. Đó cũng chính làm điểm phân biệt giũa chế độ dân chủ và độc tài. Tự do có quan hệ với dân chủ vì là nguyên tắc hình thức tổ chức cho một nhà nước, trong khi chế độ độc tài, ngược lại, không tạo điều kiện này. Do đó, dân chủ và pháp quyền có một chức năng chung là bảo vệ dân quyền và tự do trong một thể thống nhất.   Hai nguyên tắc dân chủ và pháp quyền không hề cạnh tranh hay đối nghịch mà bổ sung nhau, tạo thành một khuôn khổ chung làm cho luật Hiến pháp có giá trị bền vững hơn. Ý nghĩa của phân quyền nếu nằm trong khuôn khổ dân chủ thì sẽ dễ thành hình hơn; quyền lực của nhà nước, do đó, được quân bình hơn và có điều kiện kiểm soát chặt chẽ hơn. Thí dụ điển hình nhất là vai trò độc lập của cơ quan tư pháp. Tinh thần độc lập và khách quan của tòa án làm cho việc giải quyết các tranh chấp không bị quyền lợi cá nhân hay phe nhóm gây ảnh hưởng.   Toàn dân nắm quyền lực cai trị đất nước, nên nhà nước pháp quyền cũng bị giới hạn trong nguyên tắc này. Có lập luận cho là tam quyền phân lập ngày càng chuyên môn hoá cao độ nên làm suy yếu việc thực thi dân chủ. Thực tế cho thấy phân biệt chức năng trong quyền lực của bộ máy nhà nước không làm mất đi quyền kiểm soát của người dân, vì việc quân bình và kiểm soát sẽ hữu hiệu hơn, dĩ nhiên trong điều kiện là nếu nhà nước tôn trọng uy lực của luật pháp   Dân chủ và cộng hòa   Cộng hoà là một khái niệm cổ điển của luật Hiến pháp nhằm quy định về tổ chức nhà nước và có hai nghĩa hình thức hay nội dung.    Hình thức  Miachiavelli là người đầu tiên du nhập khái niệm cộng hoà vào luật Hiến pháp. Ông cho  rằng nhà nước cộng hoà có hai chức năng là nắm quyền lực và lãnh đạo mà trước đó thuộc về nhà vua. Nhà nước cộng hoà được hiểu là tương phản và thay thế cho nhà nước quân chủ. Do đó, chúng ta không thể gọi chế độ quân quyền của Anh và Thụy Điển là cộng hoà. Qua sự hình thành và phát triển của khái niệm dân chủ, chế độ cộng hoà sẽ làm dân chủ hóa cho đất nước về hình thức. Ngày nay, khái niệm cộng hoà đã thay đổi nhiều vì không chú trọng đến cá nhân lãnh đạo mà coi là một hình thức cai trị cộng đồng, bao gồm tất cả sinh hoạt chung của đất nước và con người.   Mối quan hệ giữa dân chủ và cộng hòa không đối nghịch hay đồng nghĩa vì cả hai có   chiều hướng khác nhau. Nhưng du nhập khái niệm cộng hoà cho một chế độ dân chủ cũng không làm cho nguyên tắc dân chủ suy yếu hay mạnh hơn. Thực tế cho thấy các nước độc tài chuyên chế hoặc theo xã hội chủ nghĩa đã lạm dụng khái niệm cộng hòa khi khái niệm chuyên chính vô sản không hề phù hợp với cộng hoà dù theo nghĩa hình thức.    Nội dung  Nội dung của khái niệm cộng hoà được Cicero và Kant đề cao. Cicero cho là dân tộc không chỉ là một tập hợp của một số người hổn tạp mà là một sư đồng thuận chung sống trong quy luật chung và sử dụng các tài sản chung. Cộng hoà là việc điều hành các vấn đề chung cho mọi người trong cộng đồng, thí dụ như trong cùng thành phố thời cổ Hy Lạp. Do dó, quyền lợi của cá nhân hay một phe nhóm không có ý nghĩa cộng hoà mà thuộc về tất cả các thành viên trong cộng đồng. Cá nhân và lãnh đạo cùng theo đuổi mục đích chung sống trong chế độ cộng hoà trong tinh thần trọng pháp. Chế độ cộng hoà không còn là một hình thức không quân chủ hay chuyên chế mà là một chế độ chính trị, một biểu hiện có nội dung là mọi quyết định phải phù hợp với quyền lợi công cộng. Trong nội dung này, cộng hoà có ý nghiã của khái niệm nhà nước pháp quyền hiện nay.   Theo Kant, cộng hoà không có nội dung giáo điều mà là một khái niệm luật Hiến pháp đề ra các quy phạm căn bản cho sự chung sống trong xã hội và ba điều kiện tiên quyết là tự do, ràng buộc về luật pháp và bình đẳng. Nội dung này không cách biệt với khái niệm tự do dân chủ hiện đại. Kant mơ ước là nếu Hiến pháp cộng hoà thực hiện được trong từng quốc gia và có sự hợp tác quốc tế hữu hiệu thì một nền hoà bình vĩnh cữu cho nhân loại là khả thi.   Dân chủ và xã hội   Ủy nhiệm mục tiêu  Nhà nước xã hội là một khái niệm hiện đại của luật Hiến pháp, không phải là một nguyên tắc hiến định để tạo thành nhà nước XHCN, không thuộc về dân quyền hay pháp quyền, mà là một mục tiêu của nhà nước để đem lại công bình và an toàn xã hội. Đúng hơn đây là một sự ủy nhiệm của luật Hiến pháp cho nhà nước và các cơ quan chức năng thi hành các biện pháp xã hội để bảo đảm cuộc sống cho toàn dân, thí dụ tạo an sinh cộng đồng, phúc lợi xã hội, phòng chống thiên tai, công bình trong hệ thống thuế khọá, phân phối lợi tức, các biện pháp bảo hiểm sức khoẻ, thất nghiệp, hưu bổng và trợ cấp xã hội vv…     Hai khái niệm dân chủ và nhà nước xã hội không đối nghịch mà hổ trợ nhau. Nếu bất công là một hậu quả tất yếu trong đời sống xã hội, thì dân chủ là một khả năng để giải quyết vấn đề. Việc thực hiện các mục tiêu của nhà nước xã hội đề ra cần đến dân chủ. Dân chủ đem lại sư bình đẳng chính trị cho toàn dân, dân có quyền định chọn lãnh đạo qua hình thức đầu phiếu. Do đó, các bất công xã hội cũng phải do dân giải quyết qua phương thức dân chủ.    Triển vọng khó khăn  Trở ngại chính là nguyên tắc dân chủ quy định quá tổng quát, trong khi mang lại công bình và an toàn xã hội cho toàn dân là mục tiêu lý tưởng. Đồng thuận dân chủ không thể đề ra một thể chế tối ưu và một giải pháp khi nhà nước không có phương tiện. Hiện nay, bất công xã hội không thuần túy nằm trong sự bóc lột công nhân qua quá trình sản xuất như Marx mô tả mà thực tế phức tạp hơn nhiều. Toàn cầu hoá, nợ công lan tràn và suy thoái kinh tế là các vấn đề xã hội trầm trọng của các nuớc phương Tây. Khả năng giải quyết vấn đề càng thu hẹp, nên nhà nước càng cần hợp tác quốc tế và các tổ chức dân sự, kể cả sự chấp nhận hy sinh và khắc khổ của dân chúng.  Luật Hiến pháp không cho phép nguời dân có tố quyền hiến định về một quyền lợi xã hội. Triển vọng về việc phát triển quyền này thành một nhân quyền càng khó khăn hơn vì tình hình kinh tế không cho phép. Tạo công bình trong phân phối phúc lợi và an toàn xã hội cho toàn dân, giải quyết bất công qua đánh thuế doanh nghiệp, thuế di sản và thuế lợi tức là những biện pháp luật định. Do đó, vấn đề không những cần dân chủ mà còn cần đến pháp quyền. Mối quan hệ này cần được đặt ra. Việc phân chia phúc lợi xã hội công bình trong tương lai càng bất trắc hơn.    Thực tế Hiến pháp Việt Nam   Thực trạng  Dù tự hào dân chủ của Việt Nam là tốt đẹp vạn lần hơn của các nước phương Tây, nhưng Việt Nam chưa hề có một Hiến pháp nào đúng nghĩa là của dân làm ra, nên không có điều kiện tương đồng để so chiếu với các khái niệm vừa trình bày và suy diễn về tương lai Hiến pháp. Nếu chấp nhận giá trị phổ quát của các khái niệm trên để soi sáng cho thực trạng Hiến pháp thì chúng ta thấy một thực tế khác.      Hiến pháp không có dân chủ, vì ngườì dân không có cơ hội hành xử thẩm quyền lập hiến và không có tố quyền hiến định về các vi phạm nhân quyền. Hiến pháp không bảo đảm tự do báo chí mà trước đây thực dân Pháp đã triệt để tôn trọng.   Hiến pháp không có pháp quyền soi sáng vì Đảng quyền can thiệp toàn diện và triệt để vào mọi sinh hoạt xã hội, do đó vi phạm về sự phân biệt giữa chính quyền và xã hội.  Hiến pháp không theo thể chế cộng hoà dù quốc hiệu minh danh là cộng hòa xã hội chủ nghiã. Quyền dân chủ nhân dân mà chế độ Đảng cử dân bầu và quyền sở hữu nhà nước  không phù hợp theo ý niệm cổ điển cộng hoà.  Hiến pháp không theo quan điểm nhà nước xã hội vì định hướng XHCN. Chính sách này không đem lại công bình trong phân chia phúc lợi và an toàn xã hội. Bốn khiếm khuyết này quá hiển nhiên nên không cần lý giải thêm.    Nguyên nhân  Lý thuyết Mác xít cho rằng các khái niệm thượng tôn luật pháp, tôn trọng nhân quyền, tam quyền phân lập, chính thể lập hiến và đại nghị là những sản phẩm sai lầm của ý thức trong xã hội tư sản mà tranh chấp quyền lợi của các giai cấp là một thực tại khách quan. Hiến pháp phản ảnh một tình trạng đấu tranh giai cấp, một phương tiện cho giai cấp thống trị đàn áp các giai cấp khác và cuối cùng đi đến thoả hiệp về hình thức hay nội dung trong một thời kỳ nhất định. Sự thoả hiệp này không còn nữa khi giai cấp công nhân thắng thế trong cuộc đấu tranh cách mạng. Giai cấp vô sản là đại diện chính thống cho toàn xã hội và có thẩm quyền tối thượng về lập hiến. Với bạo lực cách mạng và độc quyền chuyên chính vô sản Hiến pháp XHCN là một công cụ lý tưởng để xây dựng xã hội và đem lại công bình tuyệt đối. Các mối quan hệ về các khái niệm dân chủ, pháp quyền, cộng hoà và xã hội sẽ bị hủy diệt theo ánh sáng của nền dân chủ nhân dân.  Thực tế đấu tranh cách mạng dành độc lập và giải phóng dân tộc tạo cho Đảng có một ưu quyền tối thượng và Việt Nam có một đặc thù là Đảng, nhà nước và xã hội là một thể thống nhất. Soạn thảo Hiến pháp là sự cải biên các Nghị quyết và Cương lĩnh của Đảng; Hiến pháp không do thẩm quyền lập hiến của toàn dân quyết định và nội dung không là ý chí chung sống của toàn dân trong nguyên tắc đồng thuận. Từ sự áp đặt của Đảng quyền mà Hiến pháp không có giá trị về mặt pháp lý và thực tế.       Giải pháp  Lý thuyết về luật Hiến pháp rất đa dạng cần được góp ý, nhưng ít ai quan tâm, kể cả học giới. Đảng chưa thuyết phục được về khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và không còn thuyết phục được về khái niệm chuyên chính vô sản và quyền sở hữu toàn dân. Tất cả lý thuyết làm kìm chế sự thịnh vượng đất nước. Nếu Quốc hội tiếp tục sao chép Cương lĩnh của Đảng thì Hiến pháp tương lai sẽ là một áp đặt của tư bản nhà nước với giai cấp vô sản mới, nạn nhân của Đảng. Cuối cùng, Hiến pháp không phát huy được khái niệm đối lập chính trị trong sinh hoạt dân chủ mà chỉ duy trì khái niệm phản động, thế lực thù địch và suy thoái đạo đức.    Thực tế về góp ý tu chỉnh không dựa theo lý thuyết luật pháp XHCN mà theo công lý cá nhân và đạo đức xã hội để lập luận. Dân oan thấy là luật pháp không còn là công cụ của tư sản bóc lột mà đã trở thành phương tiện cưỡng chế của tư bản thân tộc. Dân không thấy có thành phần giai cấp vô sản vùng lên mà chỉ biết có các nhóm lợi ích dành nhau định đoạt vận mệnh đất nước. Dân không tự xác định được mình có thẩm quyền lập hiến tối thượng, vì cho là hoang tưởng và dè dặt hơn khi góp ý theo chỉ đạo của Đảng. Dĩ nhiên cũng có một thiểu số khác phê phán Đảng nghiêm khác hơn với tất cả thành tâm. Dù cả hai thiện chí này đều đáng được tôn trọng, nhưng không đem lại giá trị cho việc tu chỉnh được cao cả hơn, vì vô hình chung là họ chấp nhận duy trì tình trạng vô luật pháp hiện nay.    Đảng muốn tiếp tục lãnh đạo, nhưng dân cần có cơ hội đối thoại trong tinh thần bình đẳng hơn là theo sự chỉ đạo của Đảng. Giữa dân và Đảng cần hiểu nhau nhiều hơn mà hệ thống thông tin của nhà nước và cộng đồng mạng không thể đáp ứng được nhu cầu này. Để chuẩn bị tìm ra mô hình Hiến pháp mới, các khái niệm hiến định là quan trọng cho học giới, vì họ cần có cơ sở để đóng góp thiết thực hơn. Một cuộc thăm dò dư luận khách quan sẽ đem lại nguồn thông tin khả tín và phương tiện cần thiết. Tìm hiểu y kiến công luận về triển vọng hình thành các định hướng lập hiến này là một sinh hoạt bình thường của một đất nước dân chủ. Việc Đảng và dân chúng đồng thuận tham gia cho bước khởi đầu này trở thành vấn đề nghiêm túc cần thảo luận sâu rộng hơn.         Kết luận    Trình độ luật pháp biểu hiện nền văn hoá của một nước. Tu chỉnh Hiến pháp là một nhu cầu bức thiết của thời đại để chứng tỏ là một tinh hoa văn hóa đáng cho thế hệ hôm nay tự hào và mai sau kế thừa. Tiến trình cải cách thêm xa vì chúng ta không có một chủ thuyết lập hiến mở lối và cũng không có kinh nghiệm thực tế để thu ngắn.  Nguyên uỷ chuyển động cho tương lai Hiến pháp cần đến một khởi điểm tinh thần: cả nước tìm hiểu và mến yêu những giá trị cao đẹp của Hiến pháp và biến kiến thức và ý thức này thành một tinh thần yêu nước. Luận đề này do triết gia Jürgen Habermas khởi xướng. Tinh thần yêu nước hôm nay là phát huy những giá trị đích thực của tự do, công bình, nhân quyền và ràng buộc pháp luật. Toàn dân thay đổi tư duy về thẩm quyền lập hiến là khởi điểm và Đảng thăm dò dư luận theo phương cách khoa học là biện pháp.    Dr. Đỗ Kim Thêm L.L. M., M. A, Legal Member, Competition Law and Policy and Consumers Protection Branch, United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD), Geneva. Views expressed are personal. Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân.    Đ.K.T. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN http://boxitvn.blogspot.de/2013/04/cac-khai-niem-dan-chu-phap-quyen-cong...  
......

Kháng thư của Mục sư Nguyễn Trung Tôn

Kháng thư lần thứ 1 V/v Ông Hoàng Doãn Đức, Phó Chánh án Tòa Hình sựTòa án Nhân dân Tối cao trả lời đơn khiếu nại của tôi.             Kính gửi: - UBTV Quốc hội nước CHXHCNVN. - Tòa án NDTC nước CHXHCNVN. - Viện KSNDTC nước CHXHCNVN.             Tên tôi: Nguyễn Trung Tôn  - Sinh năm 1971             Sinh trú quán tại: Thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.             Nghề nghiệp: Nguyên là mục sư nhiệm chức của Hội Thánh Phúc Âm Toàn Vẹn Việt Nam.             Hiện tại: Đang bị quản chế tại địa phương, thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.             Kính thưa quý cơ quan: Ngày 15-1-2011 tôi bị công an huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ra lệnh bắt khẩn cấp tại Nghệ An. Ngày 17-1-2011 công an huyện Nam Đàn thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của tôi tại thôn Yên Cổ, xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 22-1-2011 Cơ quan ANĐT tỉnh Nghệ An ra quyết định khởi tố tôi về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN” theo điểm c khoản 1 điều 88 BLHS. Ngày 29-12-2011 TAND tỉnh Nghệ An mở phiên tòa sơ thẩm xét xử tôi với tội danh trên và kết án tôi 2 năm tù giam và 2 năm quản chế.             Khẳng định việc làm của mình là không có tội, và quá trình tố tụng các cơ quan tố tụng đã làm không đúng quy định của pháp luật trong việc bắt, khám xét chỗ ở, khởi tố và truy tố xét xử tôi, nên tôi đã làm đơn kháng án lên tòa án tối cao. Ngày 30-5-2012, TATC đã mở phiên tòa phúc thẩm và tiếp tục tuyên y án. Tôi khẳng rằng mình vô tội, nên đã làm đơn khiếu nại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 21-11-2012 tôi nhận được thư trả lời “Tòa án nhân dân tối cao – Số 635/TA-HS v/v trả lời đơn” do ông Hoàng Doãn Đức ký. Trong thư trả lời có đoạn viết “Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm đã xem xét khách quan, toàn diện các tình tiết vụ án để kết án anh về tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là đúng pháp luật, không oan; không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án nếu trên”.             Kính thưa quý vị: Tôi thấy có rất nhiều phi lý bất công trong vụ án của tôi mà cả 2 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đưa ra xét xử và buộc tội tôi.            I - Những phi lý trong việc bắt giữ và khởi tố:             1- Về việc công an huyện Nam Đàn ra lệnh bắt khẩn cấp tôi tại nhà chị Hồ Thị Bích Khương là hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật.             “Điều 81 Bộ Luật TTHS. Bắt người trong trường hợp khẩn cấp.             1-Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp: A- Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; B- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xãy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; C- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trôn hoặc tiêu hủy chứng cứ.”              Khi công an vào nhà chị Hồ Thị Bích Khương, tôi vẫn còn đang ngủ cùng cháu Đức con chị Khương. Tôi không thuộc trường hợp nào trong các trường hợp trên; vì vậy không ai được phép ra lệnh bắt khẩn cấp tôi!             (Tôi xin hỏi ông Hoàng Doãn Đức: như vậy đã có khách quan trong qua trình bắt giam, truy tố và xét xử tôi chưa?). Tại sao tôi lại bị bắt khẩn cấp?                        2- Về việc cơ quan CSĐT công an huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An tiến hành điều tra đối với tôi là hoàn toàn vi phạm Khoản 4 điều 110 Bộ Luật TTHS 2003 quy định:             “Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xãy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xãy ra tội phạm, thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.”             (Tôi xin hỏi ông: Tôi không phải người có nhân khẩu tại Nghệ An, không phạm tội gì tại Nghệ An, không viết bài tại Nghệ An, việc bắt giữ tôi tại Nghệ An không có cơ sở, vậy tại sao CQCSĐT công an tỉnh huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An lại tiến hành khám xét nơi ở của tôi tại thôn Yên Cổ trước cả khi ra quyết định khởi tố và sau đó chuyển cơ quan ANĐT công an tỉnh Nghệ An tiến hành điều tra đối với tôi?)                     II- Việc làm của tôi không thể bị xem là “Hành vi phạm tội”.             1- Làm ra: Việc tôi viết ra ba bài viết trên là thể hiện quyền tự do bày tỏ quan điểm, và thái độ của mình trước những bất công trong xã hội. Trong tất cả nội dung bài viết không có một từ nào đề cập tới nhà nước CHXHCNVN. Những tài liệu tôi làm ra hoàn toàn nói lên những sự kiện có thật và tôi đưa ra quan điểm của mình trước những sự kiện đó, đồng thời có những nhận định và lời cảnh báo, cho những người cầm quyền của đảng cộng sản về những hậu quả có thể xảy ra. Việc tôi làm như trên không thể xem là phủ nhận thành quả của đảng cộng sản hay phỉ báng chính quyền nhân dân, hay xuyên tạc; lại càng không thể nói là chống nhà nước CHXHCNVN.             2- Tàng trữ: Cất giữ với số lượng lớn (Đại từ điển tiếng Việt. Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB ĐHQG TPHồ Chí Minh năm 2010, trang 1426). Tôi bị đưa ra truy tố với 3 bài viết mà cơ quan điều tra in ra từ máy tính của họ, trên email của tôi. Như vậy không thể khép tôi có hành vi tàng trữ! Vì tôi không cất giữ trong người, trong nhà, trong máy tính. Những bài viết kia là trong hộp thư điện tử, do nhà mạng lưu giữ! Đây là lãnh vực thư tín hoàn toàn được luật pháp bảo vệ. Hơn nữa tôi khẳng định những bài viết của tôi không có nội dung chống nhà nước CHXHCNVN nên không thể gọi đây là hành vi phạm tội.             3- Lưu hành: Đưa ra xử dụng rộng rãi (Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB ĐHQG TPHồ Chí Minh năm 2010, trang 988). Việc tôi dùng email để gửi thư điện tử cho một vài người quen có cùng quan điểm là việc trao đổi thư tín hết sức bình thường, nội dung bài viết cũng hết sức bình thường, không thể xem là hành vi lưu hành phạm pháp!             · Nội dung cả ba bài viết của tôi được trích trong bản cáo trạng của VKSND :             1. Bài: “Đảng Cộng sản Việt Nam và các sự kiện sai trái, tội lỗi được gọi là những cuộc cải cách lớn”             Có trích đoạn: “… Chủ nghĩa cộng sản chủ trương thần thánh hóa chính họ nên từ khi mới xuất hiện ở Việt Nam nó đã gây ra những tội ác tầy trời như tôi đã nói ở trên nhằm tiêu diệt đối thủ, dùng bạo lực cùng chính sách ngu dân, để thuần hóa nhân dân cả hai miền đất nước sau năm 1975….. Cho đến nay đảng cộng sản Việt Nam không còn là một đảng theo đúng nghĩa của nó nữa, mà đã và đang lột xác thể hiện rõ nguyên hình là bầy Sa tan ác quỷ” Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Nghệ An thì bài này có nội dung“Xuyên tạc vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam”            Xin thưa quý vị! Không thể nói những gì tôi nói trong bài viết này là “xuyên tạc” Vì những gì tôi nói là có thật! Và đây cũng là quyền tự do tư tưởng và quan điểm chính trị của tôi! Tại sao tòa án không đưa toàn bộ nội dung ra để tranh luận? Nội dung này không thể xem là “Chống nhà nước CHXHCNVN”             2. Bài: “Thêm một thương binh cựu chiến binh Việt Nam tham gia Khối 8406.” Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Nghệ An, bài này có nội dung “xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam”. Trích đoạn viết “Thật đáng buồn cho dân tộc Việt Nam, khi bị rơi vào tay cộng sản, họ sẵn sàng vắt chanh bỏ vỏ… Trong quá trình chịu đựng bất công và chứng kiến những bất công của chế độ này, anh Nguyễn Hữu Hoàng đã nhận thấy con đường đúng đắn để bước đi trong phần đời còn lại. Cần xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam trên đất nước này. (Thực tế anh là Hồ Hữu Hoàng, có thể VKS lầm khi đánh máy). Nội dung của bài viết này tôi có đề cập tới trường hợp của một cựu chiến binh, thương binh bị ngược đãi, cắt chế độ… Sự việc này có thật! Sao tòa án không chất vấn anh Hồ Hữu Hoàng về những gì tôi đã đưa ra? Và như vậy không thể xem đây là “nội dung chống nhà nước CHXHCNVN”             3. Bài: “Chuyện buồn muôn thủa của người dân Việt dưới chế độ cộng sản” Theo cáo trạng của VKSND tỉnh Nghệ An bài này có nội dung “đòi xóa bỏ đảng cộng sản”. Trích đoạn viết “Tôi thẳng thắn cảnh báo với nhà cầm quyền cộng sản rằng: Nếu quý vị tiếp tục lừa dối nhân dân, thì một thời gian không xa cả dân tộc Việt Nam sẽ đứng lên lật đổ chế độ lừa dân phản nước mà quý vị đang bám vào duy trì chúng để đào bới, ăn cướp của nhân dân” Đây là nội dung sự việc có thật xãy ra tại quê tôi. Tôi chỉ nhân chuyện này cảnh báo cho đảng cộng sản Việt Nam biệt và tỉnh ngộ! Không thể coi đây là có “nội dung tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”             4- Việc tôi giúp chị Hồ Thị Bích Khương lập địa chỉ email, sửa lỗi chính tả một số bài viết của chị hay cho chị mượn email của tôi để gửi thư thì hoàn toàn không thể xem là hành vi phạm tội. Vì giữa tôi và chị Hồ Thị Bích Khương có mối quan hệ (mục sư và tín đồ), việc thầy trò giúp đỡ nhau trong cuộc sống là hoàn toàn trong sáng, đây là một hành động dân sự bình thường được luật pháp bảo vệ.             Ấy vậy nhưng trong phần kết luận của bản cáo trang ghi: “Trong thời gian từ năm 2009 đến đầu năm 2011, Hồ Thị Bích Khương và Nguyễn Trung Tôn đã có nhiều bài viết có nội dung chống nhà nước CHXHCNVN, phỉ báng chính quyền nhân dân và chế độ chính trị, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam để thành lập một nên chính trị mới đa nguyên đa đảng. Như vậy có đủ cơ sở xác định bị can Hồ Thị Bích Khương và Nguyễn Trung Tôn có lý lịch dượi đây đã phạm tội” Tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.”             Kính thưa các quý cơ quan: Bản tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng lời bất hủ về quyền con được trích trong Bản tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Nội dung này đã được cụ thể hóa trong hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng như nước CHXHCNVN ngày nay.             Vậy việc làm của tôi chỉ là thể hiện quyền mưu cầu hạnh phúc trên ngay đất nước mà chính tổ tiên cha ông tôi và nhiều người dân khác đã hy sinh để gây dựng nên.             Hơn nữa cho tới ngày hôm nay chưa có một văn bản pháp quy nào có khái niệm cụ thể về một nhà nước XHCN là gì? Ngay cả nhà nước cộng sản Trung Hoa là đàn anh của cộng sản Việt Nam mà còn chưa dám xưng là nhà nước XHCN. Họ cho rằng phải mất khoảng 300 năm nữa nhà nước Trung Hoa mới có thể xây dựng thành công nhà nước XHCN. Vậy thì ở Việt Nam chưa thể nào có một nhà nước XHCN thì làm sao lại quy chụp cho chúng tôi chống lại một chế độ không thực hữu? Việc cảnh tỉnh đảng cộng sản Việt Nam để đảng có thể nhận thấy những sai phạm mà chuyển mình, thay đổi cho phù hợp với lòng dân là một việc làm và thái độ tốt. Không thể coi đây là hành vi chống phá nhà nước CHXHCNVN. Hơn nữa Theo điều 2 của Hiến pháp thì “Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước của dân do dân và vì dân.” Đảng cộng sản Việt Nam chỉ là một thiểu số trong đại gia đình nhân dân Việt Nam, vì vậy việc làm của tôi chỉ là nhắc nhở đảng cộng sản cần làm tốt hơn trong vai trò làm đầy tớ phục vụ nhân dân. Việc tôi cổ súy đa nguyên đa đảng không thể xem là hành vi phạm tội, vì nhà nước VNDCCH nay là CHXHCNVN vốn dĩ là nhà nước đa đảng.             Ý kiến của tôi chỉ bày tỏ thái độ và tâm nguyện của một người dân trong một quốc gia, để đảm bảo tự do và mưu cầu hạnh phúc. Đúng với tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Đúng với quy định của khoản 2 điều 19 Công ước quốc tế về những Quyền dân sự và chính trị năm 1966, Việt Nam tham gia năm 1982: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền nay bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.” Chẳng lẽ khi xét xử chúng tôi, tòa án đã không nghiên cứu các quy định của pháp luật và công ước quốc tế? Tự lấy quan điểm của riêng một nhóm người nào đó để áp đặt tội danh cho tôi, bất chấp những quy định của pháp luật và công ước quốc tế như vậy, thế mà ông Hoàng Doãn Đức, phó chánh tòa lại cho là khách quan, chính xác, công bằng sao? Nếu những việc làm trên của tôi là “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN” thì Ông Trương Tấn Sang nói: “Tham nhũng đang là một vấn nạn nghiêm trọng, ban đầu chỉ là một bộ phận, sau đó là một bộ phận không nhỏ, bây giờ có đồng chí nói là một tập đoàn!?”             Ông Trương Tấn Sang dùng lối nói ẩn dụ giàu hình ảnh, tạo ấn tượng rất mạnh: “Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì có nhiều con sâu lắm! Nghe mà thấy xấu hổ! Không nhẽ cứ để hoài như vậy? Mai kia người ta nói bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được? Một con sâu đã nguy, một bầy sâu là chết cái đất nước này!” (Phát biểu với cử tri thành phố Hồ Chí Minh 7-5-2012). Nội dung này được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng toàn quốc. Chẳng lẽ cũng “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN” sao?             III- Những phi lý trong một phiên tòa được gọi là : “Khách quan”.             1- Tòa án không có tính độc lập trong xét xử.             Thưa các quý cơ quan: Theo bản cáo trạng của VKSND tỉnh Nghệ An thì tôi bị truy tố về tội “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”             Vậy tôi xin hỏi: như vậy có phải tôi là bị cáo còn bị hại chính là “Nhà nước CHXHCNVN” Vậy sao trong cả hai phiên xử đều không có ai đại diện cho bị hại tới dự phiên tòa với tư cách bị hại? Mức độ thiệt hại do tôi gây ra cho bị hại là bao nhiêu? Bằng chứng của những thiệt hại ấy là gì? Khi xét xử Chủ tọa phiên tòa đã nhân danh “nhà nước CHXHCNVN” để xét xử và tuyên án. Như vậy có phải các ông chủ tọa của cả hai phiên xử đều đã nhân danh bị hại để tuyên xử bị cáo không? Khi mà bị hại nắm trong tay tất cả quyền lực, các thành phần tiến hành tố tụng toàn là đảng viên đảng cộng sản, họ thuộc nhóm đối tượng bị tôi phê phán trong các bài viết của mình, thì làm sao gọi là khách quan? Phiên tòa được thông báo xử công khai nhưng khi xét xử lại không cho dân chúng vào tham dự.             Đây không thể gọi là một phiên tòa khách quan được! Vì quyền lực, số đông đều nằm trong tay “Bị hại”!             2- Tiêu hủy bất hợp pháp những tài sản không phải là vật chứng.             Cơ quan công an huyện Nam Đàn khi khám xét chỗ ở của gia đình tôi, đã thu giữ của gia đình: 10 đầu tài liệu, 223 đĩa DVD, VCD, CD các loại, một bộ máy vi tính, một máy in. Khi bắt tôi tại Nam Đàn, thu của tôi 1 máy ảnh, một USB và 1 DCom 3G. Qua quá trình điều tra không chứng minh được những tài sản trên là vật chứng. Cả 3 bài viết mà tòa đưa ra kết án tôi đều lấy xuống từ email, mở bằng máy tính của cơ quan điều tra. Như vậy theo đúng nguyên tắc, Tòa phải trả lại số tài sản trên cho tôi và gia đình. Nhưng đằng này tòa ngang nhiên tuyên bố tiêu hủy. Tại sao ông Hoàng Doãn Đức lại nói là khách quan?             Cái khách quan mà ông Đức nói tới ở đây là loại khách quan nào? Có phải quyền lực nằm trong tay ai thì sức mạnh và lẽ phải nằm trong tay kẻ đó không?             Kính thưa các quý cơ quan: Nay tôi đã ra khỏi nhà tù nhỏ để bước vào nhà tù lớn tại Việt Nam. Vì tình hình sức khỏe không được tốt nên cho tới hôm nay tôi mới viết thư này gửi tới quý các cơ quan đề nghị xem xét lại nội dung thư trả lời của ông Hoàng Doãn Đức, Phó chánh tòa tối cao đối với tôi. Đề nghị các quy cơ quan trả lời kháng thư này của tôi và sớm tuyên bố tôi vô tội. Vì ngay từ đầu, tiến trình bắt giữ và truy tố tôi đã hoàn toàn sai trái. Giờ đây tiếp tục áp dụng quản chế tôi tại địa phương chỉ vì quan điểm chính kiến. Một chính quyền tự mệnh danh là “của dân do dân và vì dân” lại có những hành xử như vậy, làm sao xứng đáng ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp quốc?             Đảng và nhà nước Việt Nam luôn khẳng định trước quốc tế và người dân rằng ở Việt Nam không có ai bị bắt giữ vì lý do chính trị; trên thực tế thì lại có rất nhiều người phải ở tù trong trường hợp tương tự như tôi. Vào ngày 3-3-2013 Trong lá đơn của tôi xin đi thăm gặp chị Hồ Thị Bích Khương, trưởng công an xã Quảng Yên, người trực tiếp được giao nhiệm vụ quản chế tôi đã khẳng định tôi từng là một tù nhân chính trị khi xác nhận vào đơn như sau : “Xác nhận: Anh Nguyễn Trung Tôn SN 1971 hiện đang thực hiện thời gian quản chế tại địa phương (nhân thân bị phạt tù chính trị). Tại địa phương anh Tôn chấp hành bình thường”. Ông Lê Quang Kỳ ký tên đóng dấu khảng khái khẳng định tôi là một tù nhân chính trị. Là một công an xã bình thường ông Lê Quang Kỳ còn nhận ra điều này, vậy mà ở vị trí một phó chánh tòa ông Hoàng Doãn Đức lại không biết sao?             Cuối cùng một lần nữa tôi đề nghị UBTV quốc hội, VKSND tối cao, TAND tối cao có hình thức giải quyết trả lời rõ ràng cho tôi về những những vi phạm của các cơ quan đã tham gia trong quá trình tố tụng và xét xử tôi, trả lại sự công bằng cho tôi. Để đảm bảo uy tín của nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.             Xin cảm ơn!             Thanh Hóa ngày 22 tháng  04 năm 2013             Nguyễn Trung Tôn  
......

Một Số Thiển Ý Cần Chia Xẻ

Có lẽ tôi dành quá nhiều sự quan tâm và giấy mực cho cuộc chuyển hóa Dân chủ ở Miến Điện. Nhưng rõ ràng đó là một hình mẫu mà những người Việt Nam tranh đấu cho Dân chủ phải lưu tâm. Bởi, nếu thành công của họ sẽ cổ vũ chúng ta, thì những khó khăn hiện tại sẽ làm nản lòng không ít người quan tâm. Ngày 14 tháng 3 vừa qua, bà Aung San Suu Kyi đã xuất hiện tại mỏ đồng Monywa và đã phải đối diện với sự giận dữ của người dân địa phương, khi bà đến khuyên họ chấm dứt biểu tình chống dự án khai thác đồng liên doanh với Trung Quốc này, vì theo bà, điều đó sẽ làm tổn hại nền kinh tế quốc gia. Thứ nữa, đến nay, mâu thuẫn giữa người Phật giáo đa số và người Hồi giáo thiểu số vẫn chưa có cách giải quyết, những nhóm sắc tộc ở vùng biên giới- thân Trung cộng vẫn giữ lập trường chống đối chính quyền Miến Điện và cũng không có quan hệ tốt với bà Suu Kyi. Những khó khăn đó khiến không ít người kỳ vọng vào bà Suky, vào cuộc chuyển hóa ở Miến Điện cảm thấy hụt hẫng. Có nhiều nguồn dư luận cho là bà có xu hướng đi gần lại với giới quân phiệt, thiếu khả năng chính trị, thiếu kinh nghiệm nghị trường… Nhiều người còn cho là giải pháp kinh tế nên đi trước giải pháp chính trị để đảm bảo thành công cho nền dân chủ, rằng Dân chủ quá sớm cũng không phải là tốt. Tôi e rằng, một số người còn lấy những khó khăn trong bối cảnh chính trị tại Miến Điện hiện nay để chứng minh rằng: những người dân chủ đối kháng với chính quyền độc tài cũng không thể giải quyết khó khăn cho quốc gia, đứng một phía để chỉ trích luôn dễ dàng hơn làm người trong cuộc… Đứng trước những phân tích có lợi cho các chính quyền độc tài đó, cá nhân tôi có một vài thiển ý sau: 1. Thứ nhất, liên quan đến câu chuyện thỏa hiệp. Mong muốn một cuộc chuyển hóa ôn hòa, không đổ máu luôn là một điều đáng trân trọng; nhưng một sự thỏa hiệp với chính quyền độc tài bỏ qua Công lý (vẫn đảm bảo địa vị lãnh đạo, tài sản, cũng như không truy tố các lãnh đạo độc tài) luôn là một quyết định đầy thách thức, sẽ gây chia rẽ lớn trong hàng ngũ những người đấu tranh đòi Dân chủ và làm tổn thương niềm tin vào lẽ Công bằng. Những tội ác của các chính quyền độc tài có thể được một phe nhóm thỏa hiệp bỏ qua, nhưng điều đó không có nghĩa là nó cũng được những nạn nhân và dư luận dân chúng nói chung khoan thứ. Những bất công đã ăn sâu trong xã hội không thể nói gạt sang một bên là được. Trong trường hợp Miến Điện, khi chấp nhận đối thoại với chính quyền độc tài và thỏa hiệp để trở thành Nghị sĩ, bà Suu Kyi và đảng của bà đã tự đẩy mình ra xa khỏi những nhóm đấu tranh đối lập khác và những nạn nhân của chế độ. Ở đó, chỉ có nhóm của bà từ vị trí đối kháng trở nên những người đồng sự với chính quyền, còn nhiều phe phái và nhiều người dân thường khác vẫn chưa tìm thấy lý do để tin tưởng và hợp tác với chính quyền. Hơn nữa, sau nhiều năm bị quản thúc và đàn áp, thiếu trải nghiệm trên nghị trường, bà và đảng NLD sẽ phải xoay xở khó khăn trong môi trường chính trị ngột ngạt vì ưu thế nghiêng về tập đoàn quân phiệt. Bà đã trao cho họ thứ mà họ cần, đó là tính chính đáng; họ trao lại cho đảng của bà những chiếc ghế nghị sĩ bị siết chặt bởi sức ép tương quan lực lượng. Càng đi gần với chính quyền, bà càng xa lòng dân – thứ quý giá mà không phải lãnh đạo chính trị nào cũng có được. Đó là một cái giá không rẻ và người Việt chúng ta phải coi chừng! 2. Thứ hai, liên quan đến những chỉ trích về biểu hiện của bà Suu Kyi. Nền kinh tế và cả xã hội Miến Điện lụn bại và chưa thoát ra khỏi sự kềm tỏa của Trung Quốc, sau nhiều năm dưới chế độ độc tài. Họ đã và sẽ còn vô số nan đề cần giải quyết. Những vấn đề đó, hoặc do đặc thù của xã hội Miến Điện, hoặc do chính quyền độc tài tạo ra từ lâu, nay họ trao lại cho bà. Họ giải quyết không được, không sao, nhưng nếu bà vướng vào những rắc rối ấy, thì phe quân sự đã thành công trong việc làm giảm uy tín của bà. Bà trở thành bia đỡ đạn thay cho họ. Họ có thể vô hiệu hóa bà một cách rất… lịch sự. Qua câu chuyện này, trước khi có những nản lòng không cần thiết, chúng ta nên cùng nhau suy nghiệm lại. Thực ra, Dân chủ là một quá trình, không phải là một phép mầu có khả năng tháo gỡ mọi vấn nạn trong một sớm một chiều. Chúng ta nên tự hỏi, chúng ta đòi hỏi Tự do Dân chủ vì điều gì? Tất nhiên không phải là nhằm thủ đắc một cỗ máy sản xuất ra những chính trị gia kiệt xuất. Chúng ta đấu tranh vì một niềm tin rằng, chế độ dân chủ là chế độ khả dĩ nhất cho đến nay, giải quyết các vấn đề quốc gia dựa trên giá trị tự do, sự đồng thuận và lòng khoan dung. Chế độ Dân chủ không nhất thiết tạo nên những anh hùng trong chính trị, mà tạo ra cơ hội vận động nguồn năng lực trí tuệ quốc gia một cách sâu rộng nhất. Vì thế, dẫu cho quả thực bà Suu Kyi hay các chính trị gia dân chủ trong tương lai của Việt Nam thiếu một số kỹ năng chính trị cần thiết, điều đó cũng không làm thối chuyển niềm tin của chúng ta vào Dân chủ. Thí dụ, những năm dưới thời Lech Walesa và nhiều năm sau đó, Ba Lan đã gặp phải nhiều khó khăn kinh tế- chính trị, nhưng hãy nhìn Ba Lan ngày nay xem! Dân chủ có thể không ngay tức khắc đưa một nhóm lãnh đạo tài giỏi lên nắm quyền, nhưng nó sẽ mở ra cánh cửa lớn để con cháu chúng ta chọn được những nhà lãnh đạo như thế lên điều hành đất nước trong tự do và thượng tôn pháp luật. Đó mới là phép mầu thực sự của Dân chủ. Mọi khởi đầu luôn khó khăn, nhưng không bắt đầu, chúng ta sẽ không có cơ hội nào cả. 3. Thứ ba, liên quan đến các mối bất ổn xã hội. Các sắc tộc thiểu số ở vùng rừng núi Miến Điện giáp giới Trung Quốc đến nay vẫn mâu thuẫn với chính quyền Miến Điện, cũng không muốn có mối giao hảo với NLD và gần đây xung đột đã leo thang. Có ai dám đảm bảo, ở đây không có “bàn tay đen” của Trung Quốc nhúng vào? Và sẽ rất chủ quan nếu chúng ta nghĩ rằng, Việt Nam sẽ không vướng vào tình trạng tương tự. Cũng như Miến Điện, Việt Nam có đường biên giới dài với Trung Quốc. Trung Cộng không chỉ khống chế, mua chuộc lãnh đạo độc tài ở Trung ương, họ còn cài cắm người ở những khu vực biên giới và mua chuộc các sắc dân vùng biên giới. Dưới chế độ độc tài, mâu thuẫn giữa các sắc dân thiểu số với chính quyền đa số được kiềm chế với sắp xếp ngầm từ Trung Nam Hải, các mâu thuẫn chỉ hiện diện đủ để được dùng như lá bài cho Trung Quốc gây sức ép, tạo sự lệ thuộc lên các chính quyền Trung ương tay sai. Nhưng khi quá trình chuyển tiếp dân chủ xảy ra, các mâu thuẫn đó sẽ được khuếch trương và được bật đèn xanh cho bùng đổ nhằm phá hoại nỗ lực xây dựng Dân chủ. Trung Quốc luôn tỏ ra là bậc thầy trong việc vận dụng chiêu bài này trong quan hệ quốc tế, mà sự điên cuồng của Bắc Triều Tiên là một ví dụ đặc sắc. Bởi vậy, sẽ không mấy ngạc nhiên nếu xã hội Việt Nam im ỉm dưới chế độ độc tài, nhưng sẽ nổi dậy sùng sục từ mọi phía khi quá trình chuyển tiếp bắt đầu. Đó là vận mệnh của các tiểu quốc nằm cạnh gã hàng xóm khổng lồ bất hảo. 4. Thứ tư, liên quan đến chỉ trích rằng bà Suu Kyi đi gần lại với giới quân phiệt. Như một ai đó đã nói đại loại: không có nền Dân chủ không đảng phái. Điều đó cho thấy vai trò của các đảng phái chính trị trong việc tạo ra một không gian cạnh tranh cầu thị trong chính trị dân chủ. Nhưng chỉ có đảng phái chính trị thôi chưa đủ, bởi nếu xã hội dân sự (XHDS) không trưởng thành, chính trường sẽ chỉ là nơi ngã giá, chia phần của các đảng phái, và tự do của người dân chỉ là bargaining chip giữa họ. Người ta sẽ rất khó khăn để tập hợp lại, chia sẻ và cùng làm việc trong tinh thần vô vị lợi như trong các NGOs, nhưng họ rất dễ kết hợp lại thành phe phái để giành quyền lãnh đạo chính trị. Vì thế, người Việt không sợ Việt Nam tương lai thiếu đảng phái, chỉ sợ xã hội dân sự không đủ mạnh để giám sát các chính trị gia. Nhìn vào trường hợp Miến Điện, với khát khao và sự đấu tranh cho dân chủ, họ đã có một cuộc chuyển hóa ôn hòa. Nhưng với cuộc chuyển hóa đó, nhà lãnh đạo đấu tranh dân chủ nay đã trở thành chính trị gia. Nếu trước đó, bà Suu Kyi đại diện cho lực lượng đối lập và các thành phần xã hội phản đối chính quyền; thì nay khi đã trở thành một chính trị gia, theo logic dân chủ, chính bà cũng cần bị áp lực và giám sát. Nếu chỉ có đảng phái đối lập mà không có XHDS thì khi quá trình chuyển tiếp xảy ra, một khoảng trống lớn sẽ xuất hiện, sẽ không còn lực lượng nào đối trọng với quyền lực chính trị. Bởi vậy, có thể nói, không có XHDS sẽ không có dân chủ thực sự, cho dù có đa đảng và bầu cử tự do. Miến Điện đang trong quá trình chuyển tiếp, người Miến Điện phải nỗ lực xây dựng khối dân sự để tiến tới một nền dân chủ đúng nghĩa, vì chính trị luôn tiềm ẩn nguy cơ phản bội. Và đó cũng là bài học cho Việt Nam. Thiển nghĩ, sự độc lập nhất định của các nhà vận động dân sự khỏi sự khuynh loát của các phe phái chính trị là cực kỳ cần thiết trong tình hình Việt Nam hiện nay. Tôi không tin rằng giải pháp kinh tế đi trước cải cách chính trị (trong một thời gian không xác định) là tốt. Hãy nhìn vào một thí dụ điển hình: Trung Quốc. Là một quốc gia thành công (?!) trong giải pháp kinh tế của mình, Trung Quốc vẫn chưa cho thấy một triển vọng dân chủ khả quan nào cả. Bỏ qua mọi ngụy biện có lợi cho các chính quyền độc tài, Dân chủ không mang tới bất ổn mà mang tới khả năng giải quyết bất ổn một cách hài hòa, dù trước mắt nó không thể ngay lập tức xóa bỏ mọi di sản tồi dở chồng chất từ lịch sử và từ chế độ độc tài. Dân chủ cũng không phải là việc trao quyền lực từ tay nhóm người này sang nhóm người khác mà là sự vận hành một cơ chế thông minh, nhân bản, tự do và khoan dung nhất trong lịch sử nhân loại. Những rắc rối đang xảy ra ở Miến Điện càng khiến chúng ta thận trọng hơn khi nghĩ đến giải pháp thỏa hiệp và chúng ta càng nỗ lực hơn để có những chuẩn bị thích hợp cho công cuộc dân chủ hóa của mình. Một sự khởi động về phía dân chủ càng sớm, khả năng tận dụng cơ hội của đất nước sẽ càng lớn. Huỳnh Thục Vy Tam Kỳ tháng 4 năm 2013  http://chuacuuthenews.wordpress.com/2013/04/21/mot-so-thien-y-can-chia-se/#more-24643
......

Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản

Nhớ, năm 1978, lúc đang học năm thứ ba ở trường Đại học Sư phạm, tôi và các bạn trong lớp đi thực tập ở trường cấp 3 Tân Lý Tây thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đó là một xã nhỏ, chưa tới mười ngàn dân, lúc ấy còn khá nghèo, hầu hết các nhà vệ sinh đều nằm chênh vênh trên các hồ cá tra. Thấy sinh viên từ thành phố về, dân chúng có vẻ rất vui. Ủy ban nhân dân xã tổ chức một buổi tiếp đón khá nồng hậu ngay trong buổi tối đầu tiên lúc chúng tôi mới đến. Chủ tịch xã đứng lên phát biểu. Ông là một nông dân, có lẽ, trước 1975, vốn là du kích. Đứng trước hơn 100 đứa sinh viên, ông không giấu được sự lúng túng, nói năng cứ lấp vấp, lập bập, không đầu không đuôi gì cả. Nội dung chính vẫn là ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ mới, những điều có lẽ ông nghe được trong các buổi học tập chính trị hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng vui nhất là, để nhấn mạnh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, ông cứ lặp đi lặp lại là “chúng ta không giống bọn Mác-xít độc tài và tàn bạo giết hại cả hàng triệu người”. Bọn chúng tôi biết là ông nhầm giữa Mác-xít và Phát-xít. Nhưng không đứa nào dám cười. Chỉ sau đó, mấy đứa miền Nam mới thì thầm với nhau: “Thì Mác-xít hay Phát-xít cũng vậy thôi!” Chuyện cũ, cách đây đã hơn 35 năm, tưởng đã quên, bỗng dưng lại sống dậy khi mới đây, tình cờ đọc lại cuốn Intellectuals and Society (Basic Books, 2011) của Thomas Sowell, tôi bắt gặp một đoạn Sowell so sánh chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít (bao gồm cả Nazism) ở Đức. Một bên được xem là cực tả và một bên được xem là cực hữu; hai bên lúc nào cũng kết tội nhau và muốn tiêu diệt nhau (với Cộng sản, chủ nghĩa Phát-xít là biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc; với Hitler, Cộng sản và Do Thái là hai kẻ thù chính), nhưng theo Sowell, giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít có rất ít sự khác biệt, trừ trong lãnh vực tu từ. Những người Phát-xít, từ Ý đến Đức, đều công khai tuyên bố theo chủ nghĩa dân tộc; những người Cộng sản, trên lý thuyết, biểu dương chủ nghĩa quốc tế, nhưng trên thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, cũng đều nhắm, trước hết, đến quyền lợi của quốc gia và dân tộc của họ. Và cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. (tr. 99-101)   Một nhận xét tương tự được Vladimir Tismaneanu phân tích kỹ lưỡng hơn trong cuốn The Devil in History do University of California Press xuất bản năm 2012. Cái được gọi là “quỷ dữ” (devil) ấy được Tismaneanu nêu đích danh: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Cả hai đều gắn liền với những quan điểm không tưởng về tương lai. Cả hai đều muốn chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả và dân chủ tự do. Cả hai đều muốn làm cách mạng triệt để bằng cách xóa bỏ truyền thống để xây dựng một hệ thống chính trị, xã hội và văn hóa hoàn toàn mới; nhưng khi làm như vậy, cả hai đều xóa nhòa ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu. Cả hai đều nhân danh tinh thần nhân đạo nhưng lại biến con người thành những con số để tha hồ giết chết hoặc đày đọa họ mà không hề có chút áy náy nào cả. Cả hai đều đề cao bạo động, một bên là tác giả của Gulags và một bên của Auschwitz, đều chiếm kỷ lục về tội sát nhân và diệt chủng: Trong hơn mười năm (1933-1945), chủ nghĩa Phát-xít giết hại khoảng 25 triệu người và trong vòng hơn 70 năm (1917-1990), chủ nghĩa Cộng sản giết hại khoảng từ 80 đến 100 triệu người.   Nhận xét ấy cũng được hai sử gia, một người Pháp và một người Đức, Francois Furet và Ernst Nolte, phân tích trong cuốn Fascism and Communism (University of Nebraska Press, 2004). Nó cũng lại được mổ xẻ trong cuốn Fascism, Communism and the Consolidation of Democracy: A Comparison of European Dictatorships do Gerhard Besier biên tập (LIT Verlag, 2006), cuốn Lenin, Stalin and Hitler: The Age of Social Catastrophe của Robert Gellately (Vintage, 2008); quan trọng nhất, trong cuốn The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt (được xuất bản lần đầu từ năm 1951), trong đó, ở phần ba, bà tập trung chủ yếu vào hai hiện tượng: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Tất cả, từ nhiều góc độ khác nhau, hoặc chính trị hoặc lịch sử hoặc ý thức hệ, đều đi đến kết luận giống nhau: cả chủ nghĩa Phát-xít lẫn chủ nghĩa Cộng sản đều, nói theo Richard Overy, “nhà nước của sự khiếp hãi” hay “nhà nước của khủng bố” (states of terror), theo Eduard Kuznetsov và Dorin Tudoran, một “nền văn minh tội phạm” (criminal civilization), hoặc nói theo Leszek Kolakowski, một triết gia người Ba Lan, là sự đầu thai của quỷ dữ trong lịch sử, “một con quỷ sáng chế ra những nhà nước ý thức hệ (ideological states), nghĩa là, thứ nhà nước tự cho tính chính đáng của nó được đặt trên sự kiện là chủ nhân của nó cũng đồng thời là chủ nhân của chân lý. Nếu bạn chống lại nhà nước hay hệ thống nhà nước ấy, bạn sẽ bị xem là kẻ thù của chân lý.” (Dẫn theo Vladimir Tismaneanu, tr. 2-3, 11 & 26).   Về phương diện luật pháp, năm 2010, Quốc hội Hungary thông qua đạo luật cấm phủ nhận tội ác diệt chủng ở Holocaust của Nazi, sau đó, lại thông qua đạo luật cấm phủ nhận các tội ác của chủ nghĩa Cộng sản: Những người vi phạm, hoặc bằng cách phủ nhận hoặc bằng cách nghi vấn các tội ác ấy, có thể bị phạt từ một đến ba năm tù. Với Quốc Hội Hungary, tội ác của chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản ngang nhau.   Theo Timothy Snyder, việc so sánh chủ nghĩa Nazi (một biến thể của chủ nghĩa Phát-xít tại Đức) và chủ nghĩa Stalin (một hình ảnh tiêu biểu của chủ nghĩa Cộng sản) là điều cần thiết: Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn không những về hai hiện tượng khủng khiếp nhất của thế kỷ 20 mà còn về thời đại của chúng ta và kể cả bản thân chúng ta nữa. (Như trên, tr. 19)   Đó là thời đại, nói theo Nietzsche, “Thượng đế đã chết” và con người muốn thay thế Thượng đế để xây dựng những “thành phố của Thượng đế” (city of Gods) ngay trên trần gian này. Họ muốn thay đổi lịch sử, một bên, với giai cấp, một bên với chủng tộc. Họ sùng bái lãnh tụ, và bằng mọi cách, biến lãnh tụ thành thần linh, qua đó, biến đảng phái thành một thứ tôn giáo mới và xây dựng một chế độ toàn trị, khống chế toàn bộ đời sống tinh thần và vật chất của con người. Họ muốn thay đổi cả bản chất của con người bằng các biện pháp tuyên tuyền, nhồi sọ và khủng bố. Bất kể ngôn ngữ hay ho họ thường sử dụng, những “con người mới” họ muốn sản xuất chỉ là những công cụ mù quáng chỉ biết vâng dạ trước lãnh tụ và vì lãnh tụ, sẵn sàng giết người, kể cả đồng bào và người thân của mình, một cách không gớm tay.   Đó là thời đại của khoa học và kỹ thuật, của văn minh và tiến bộ vượt bậc, của lý trí và của rất nhiều lý tưởng nhưng đồng thời cũng là một thời đại của sự cuồng tín và mê tín, của sự thắng thế của thứ lý trí công cụ (instrumental reason) trên lý trí phê phán (critical reason), của sự độc tôn của sức mạnh và bạo lực. Hậu quả cuối cùng của tất cả những nghịch lý ấy là cả hàng trăm triệu người bị giết chết.   Dĩ nhiên, giữa chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản có không ít khác biệt. Chủ nghĩa Phát-xít chỉ xây dựng sức mạnh trên một người, người-được-thần-thánh-hóa (ở Đức là Adolf Hitler; ở Ý là Benito Mussolini); chủ nghĩa Cộng sản xây dựng sức mạnh trên cả việc thần thánh hóa lãnh tụ lẫn việc thiêng liêng hóa đảng phái, như một thứ thiên mệnh. Chủ nghĩa Phát-xít đề cao chủ nghĩa dân tộc trong khi chủ nghĩa Cộng sản lại đề cao chủ nghĩa quốc tế và sử dụng chủ nghĩa quốc tế để phục vụ cho tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Hệ thống tuyên truyền của Cộng sản tinh vi và khôn khéo hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ đề cao thù hận, chủ nghĩa Cộng sản đề cao tình yêu và nhân danh tình yêu, kích động thù hận; trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ nói đến việc trả thù, chủ nghĩa Cộng sản nhấn mạnh việc giải phóng, dù để đạt được mục tiêu giải phóng, họ sử dụng chuyên chính vô sản để trả thù. Cộng sản cũng có nhiều tham vọng hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ muốn quản lý hành động của con người, chủ nghĩa Cộng sản muốn quản lý cả tư tưởng và tình cảm thầm kín nhất của con người. Hậu quả là Cộng sản đa nghi hơn Phát-xít: Phát-xít thường chỉ giết những người bị họ xem là kẻ thù chứ hiếm khi thanh trừng trong nội bộ; Cộng sản, đặc biệt Cộng sản ở Nga dưới thời Stalin, vừa tàn sát kẻ thù vừa tàn sát các đồng chí của mình.   Đằng sau chủ nghĩa Phát-xít chỉ có vài tín lý đơn giản như một thứ tín ngưỡng dân gian; đằng sau chủ nghĩa Cộng sản là cả một hệ thống triết học phức tạp đủ để mê hoặc giới trí thức và văn nghệ sĩ: Hệ quả là có một thứ văn học nghệ thuật Cộng sản chứ không có thứ văn học nghệ thuật Phát-xít. Tuy nhiên, sự tồn tại của thứ văn học nghệ thuật Cộng sản không phải là một điều tốt: nó chỉ gieo rắc sự mê tín và cuồng tín, dung dưỡng các ảo tưởng, và cuối cùng, kéo dài thảm họa: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ kéo dài hơn một thập niên, chủ nghĩa Cộng sản kéo đến hơn bảy thập niên; trong khi hầu như mọi người đều nhận ra tội ác của chủ nghĩa Phát-xít, không ít người vẫn còn ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng sản; trong khi chủ nghĩa Phát-xít đã trở thành quá khứ, chủ nghĩa Cộng sản vẫn ở trong thì hiện tại, ít nhất là ở năm nước: Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.   Chữ “Việt Nam”, xuất hiện trong ngữ cảnh ấy, quả là một điều đau đớn.   Lý do chính khiến tôi viết bài này là vì tôi biết, ở Việt Nam hiện nay, có không ít người, kể cả trong giới trí thức, chưa nhận ra chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất, rất gần với chủ nghĩa Phát-xít, điều mà họ luôn luôn nguyền rủa. Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/chu-nghia-phat-xit-va-chu-nghia-cong...
......

'Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng'

Văn bản của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội được cho là đã làm 'rung chuyển' nhiều thành phần trong xã hội. Tiếng nói này của Hội đồng có vẻ không chỉ tác động tới cộng đồng Công giáo Việt Nam, mà có thể còn ảnh hưởng ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc và trong chừng mực nào đó đã tạo ra sự hân hoan, phấn khởi ở một bộ phận người dân. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức và quần chúng cũng đã gây nên một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có 'những dấu hiệu chuyển mình - cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân VN. Có vẻ những sự kiện trên đã làm cho nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và phản ứng của nhiều quan chức tỏ ra 'giấu đầu hở đuôi, tiền hậu bất nhất' đã bị dư luận xã hội phản ứng kịch liệt để khẳng định quyền của mình – quyền của những 'Con Người'. Lý do của sự 'lúng túng và hoảng hốt' này có vẻ dễ hiểu và trước đây, đã có nhiều đợt kêu gọi góp ý cho các văn bản của Đảng và Nhà nước rồi những màn tuyên truyền với các lập luận như ở Việt Nam: “Dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” theo cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hay “gấp vạn lần dân chủ tư sản,” theo lời của Phó Chủ tịch nước, bà Nguyễn Thị Doan. Thế nhưng, có vẻ đa số người dân chẳng mấy ai quan tâm vì họ thừa biết mục đích của những tuyên truyền ấy là gì trong khi các đợt góp ý, lấy ý kiến nhân dân đều “hoàn toàn thắng lợi rực rỡ” và việc tuyên truyền về chúng trở nên rầm rộ. Có vẻ tưởng rằng mọi chuyện cũng sẽ xuôi chèo mát mái như mọi lần trước, nên Chính quyền và Đảng có vẻ tăng tốc việc tổ chức “lấy ý kiến nhân dân sửa đổi Hiến Pháp”. 'Lương tâm và đòn bẩn' "Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông" Nhưng thời thế đã khác. Trước những tiếng nói hợp lòng dân, vì đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền đã không thể đàng hoàng tranh luận, công khai phổ biến nên đã dùng những chiêu 'rất… bẩn'. Trước hết, là kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba. Một trong những mục đích của việc kéo dài thời gian, là sau khi chi 'hàng đống tiền dân' từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Bằng chứng là chỉ sau mấy tháng, nhà nước đã tuyên bố có cả chục triệu ý kiến góp ý. Lẽ dĩ nhiên là “đa số tuyệt đối” sẽ phải đồng ý với nhà nước. Chỉ riêng tỉnh Bình Dương, đã có gần 45 triệu chữ ký. Một con số không có thể có gì hài hước hơn khi mà ngay trước đó, báo chí nhà nước đã khẳng định nông dân chẳng quan tâm gì đến trò này – và trò này đã bi 'vạch mặt.' Ngoài ra, hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn 'lôi đám nhân sĩ, trí thức' ra 'đánh hội đồng' trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì? Ngón nghề này xưa nay vẫn được dùng có hiệu quả khi tạo lên cơn lên đồng tập thể theo ý muốn của nhà nước. Song giờ đây bài thuốc này xem ra 'mất linh', trong khi nhân dân vẫn 'khi thì âm ỉ, khi thì sôi sục, công khai' nói lên nguyện vọng của mình. Riêng với văn bản của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), nhà cầm quyền thừa hiểu rằng: tiếng nói của Hội đồng này là tiếng nói, tâm tư của 8 triệu giáo dân, chiếm tới khoảng 1/10 dân số cả nước. Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là 'bẩn thỉu' hơn. 'Dựng chuyện và bịa đặt' Bắt đầu là bài dựng chuyện và bịa đặt, con bài này đã được sử dụng nhiều trong các vụ việc liên quan đến các tôn giáo cũng như những 'thế lực thù địch' của nhà nước. Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội 'mạt sát' được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”. Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”. Thế nhưng, với Công giáo, vở kịch này có vẻ không dễ dàng diễn ra bởi khối thống nhất hiệp thông mạnh mẽ của Giáo hội. Vì thế Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân 'bóc mẽ', sự bịa đặt bị phê phán là 'trắng trợn nhớp nháp' này đã bị 'vạch trần' trước muôn dân và dư luận quốc tế. Tiếp đến là một phóng sự về vùng Công giáo Nam Định với Góp ý Dự thảo Hiến pháp. Một linh mục được đưa lên màn hình, thế nhưng những điều nhà đài muốn nói thì lại không có, màn gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó. Và tiếp đến là Báo Nhân Dân đăng “trang trọng” bài viết được cho là của một giáo dân “Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý”. Bài viết được giới thiệu là trích lại từ website 'Sách hiếm', đây là trang web cùng với 'Giao điểm', được cho là luôn được nhà nước 'ưu ái' trích dẫn, đăng lại các bài viết. Người ta mệnh danh Phật giáo để 'điên cuồng xuyên tạc' và 'chống phá Công giáo.' Việc 'đánh phá Công giáo' ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm 'vừa lòng ông chủ' và cơn 'hận thù mù quáng' của họ. 'Mạo danh và đâm lưng' "Thực ra, để 'dựng ra' một chức sắc công giáo, thì Đảng vẫn có thể dễ dàng làm được, do đó việc tạo ra một ai đó gọi là 'giáo dân' không phải là điều khó khăn" Nếu ai đó quan tâm xem những trang website như ' Giao điểm', ' Sách hiếm' là của ai, có thể tìm thấy một 'văn bản yêu cầu' Tổng cục Hải Quan Việt Nam 'hỗ trợ' một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí 'Giao Điểm' được in trong nước đưa ra nước ngoài để 'phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'. Chỉ cần như vậy cũng đã giúp thể hiện rõ 'Giao điểm', 'Sách hiếm' cũng như tờ Nhân Dân là ai và thiết nghĩ ai đó có lẽ khỏi cần 'nhọc công' bày đặt những điều được cho là 'các trò trích dẫn'. Thông thường, khi nhà nước có vấn đề nào đó với giáo hội Công giáo, người ta có thể quan sát thấy nhà nước liền sử dụng những người thuộc nhóm 'Giao điểm' như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, bị cáo buộc là 'mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo'. Năm 2008, các vị này được cho là đã 'ra tay thi thố lắm trò'. Thế nhưng, như cái kim trong bọc có ngày thò ra, nhân dân đã tỏ ra là 'cũng có mắt', thậm chí còn là 'những con mắt tinh tường' không dễ bị 'lòe bịp.' Còn nhớ đã có một bài viết được báo Nhân Dân đăng và một số báo khác đăng lại, nói rằng là của “một công dân theo Thiên chúa giáo” và được đăng với sự đồng ý của tác giả. Đọc qua bài viết được cho là 'ngây ngô' này, thiết nghĩ không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao. Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. “Hiện tại, Việt Nam là quốc gia tiến bộ về vấn đề nhân quyền – quyền con người nên nếu nhận định “trói buộc” nên bị “kìm hãm” là không thực và quá thiên kiến hay cố ý gán ghép”. Hoặc: “Dân trí ta còn thấp nên khó lòng đòi hỏi thực hiện tối đa các quyền dân chủ…” hay “Trên thực tế tôi nhận thấy 'tam quyền phân lập' kiểu Việt Nam chúng ta trong hiện tại là phù hợp với tâm cảnh người Việt Nam”… Thậm chí, vẫn theo tác giả này, thì: “Theo tôi được biết chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân.” Thiết nghĩ và e rằng, đọc những câu chữ ấy, thì đến trẻ con cũng không khỏi phải 'bật cười' về nhận thức cũng như trình độ của tác giả trên tờ báo Đảng. Thế nhưng, điều cần lưu ý là tác giả đã được Báo Nhân Dân đề cao chỉ vì là “một công dân theo Thiên chúa giáo” đã nói theo 'đúng ý Đảng', bằng những lập luận có thể được xem là vẫn thường thấy trên Nhân Dân và Quân đội Nhân dân. 'Giáo dân hay giáo gian?' Khi sự tự trọng của một cơ quan truyền thông quốc gia còn không coi là có giá trị nào để việc bịa đặt, thêu dệt trở thành đặc tính riêng của họ, thì vài ba nhân vật, dăm bảy phóng sự được cho là 'bịa đặt thêm' chẳng có gì là quan trọng. Điều này đã được thực hiện quá nhiều trong thực tế khi người ta quan sát thấy có những sự kiện bộ đội được huy động gỡ bỏ đai hiệu của họ để đóng vai giáo dân, rồi chính quyền bị 'bắt quả tang' sử dụng văn bản nhà nước 'nhét vào mồm linh mục' nói rằng một văn bản nào đó là văn bản 'tự nguyện hiến đất nhà thờ' cho chính phủ… Có thể gọi là đủ các chiêu thức. Chúng ta còn nhớ hồi năm 2008, trong biến cố ở 40 phố Nhà Chung, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã yêu cầu chính quyền làm rõ việc giới chức 'chiếm, cướp, tịch thu hay mượn' của Nhà thờ để dẫn tới việc cơ sở tôn giáo này khi đó sắp bị 'bán, phá phách và làm biến dạng' để phục vụ điều được cáo buộc là 'bán và chia chác'. Khi đó, Báo chí Việt Nam đang 'im tịt' bỗng dưng đồng loạt đăng bài viết được ghi là của tác giả “Phùng Nhân Quốc - Một giáo dân Hà Nội”. Khi bị chất vấn liệu tác giả bài báo có phải là một 'giáo dân Phùng Nhân Quốc' có thực hay chỉ là 'một Giáo gian hạng xịn', một dạng được cộng đồng giáo dân nghi vấn là 'cái lưỡi nói theo ý chủ mà thôi, thì y như rằng sau đó, nhiều nguồn tin đã cho hay đây là bài của ông Hồng Vinh, Phó trưởng ban Văn Hóa tư tưởng Trung ương. Nếu cáo buộc này là đúng thì quả là chính quyền còn 'tài hơn Tề thiên đại thánh' khi bố trí để một Phó ban quan trọng như thế của Đảng biến thành một giáo dân hay là 'giáo gian." 'Vạch mặt nhiều lần' Có lẽ chính vì bị vạch mặt quá nhiều lần, lần này báo Nhân Dân tưởng vớ bở khi có một người có tên tuổi và địa chỉ đưa ra cho có vẻ có sự thật. Đó là ông Nguyễn Trọng Nghĩa, ngụ tại số 37, đường Ðiện Biên Phủ, xã Mỹ Trà, Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp, được giới thiệu là giáo dân giáo xứ Cao Lãnh. Đọc qua bài viết của ông Nghĩa, quả thật chúng tôi buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông, bởi ở bài viết hàm chứa đầy đủ điều được cho là 'sự hỗn xược và ngu dốt' nếu đúng đó là một giáo dân. Đơn giản nhất là trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân. Tiếc rằng có vẻ báo Nhân Dân đã không thể hiểu được điều hiển nhiên này. Ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự 'hoang tưởng' của một người có đầu óc không bình thường đã buộc chúng tôi tìm hiểu về nhân vật này. Và một số giáo dân Giáo xứ Cao Lãnh do linh mục Marcel Trần Văn Tốt, chánh xứ, Linh mục Phêrô Trần Trung Chỉnh làm phó xứ, cho chúng tôi biết như sau: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa tại địa chỉ này năm nay 32 tuổi có một vợ và một con. Ông mới học xong Phổ thông Trung học thì làm Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của xã Mỹ Trà. Được một thời gian, do vi phạm khuyết điểm, nên ông buộc phải ra khỏi chức vụ đó. Ông được cho là đã 'bỏ đạo' đã hơn chục năm nay, hoàn toàn không liên hệ với nhà thờ, với giáo xứ và các việc thuộc Giáo hội Công giáo. Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị 'man mát', hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức. Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”? Chắc Báo Nhân Dân thừa biết rằng một tôn giáo cũng như bất cứ một tổ chức nào, khi anh đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định, nghĩa là anh đã đứng ra ngoài tổ chức đó. 'Không còn hiệp thông' Ở Giáo hội Công giáo không giống như tổ chức của Đảng Cộng sản vốn luôn tự cho là 'trong sạch, vững mạnh, liêm khiết và đạo đức' và rằng các đảng viên cộng sản là 'bộ phận tiên phong' hay nói cách khác 'là tinh hoa dân tộc,' điều mà chính Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phải đặt dấu hỏi khi nói “một bộ phận không nhỏ” hay là có sự tồn tại của “cả một bầy sâu” trong Đảng. Ở đây, trong Giáo hội Công giáo, khi anh đã không còn hiệp thông với Giáo hội, nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo. Chân lý đơn giản như vậy thôi. Nó cũng tương tự như khó có ai có thể nói ông Hoàng Văn Hoan còn là đảng viên Cộng sản Việt Nam sau khi ông đã đào thoát sang Trung Quốc, dù ông Hoan đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị. Một người cả chục năm nay không liên hệ, hiệp thông với giáo hội, không tham gia các nghi lễ tôn giáo, các bí tích, thế mà ông ta vẫn viết: “con nhắc nhở các Ngài Giám mục và hàng giáo sĩ chúng ta luôn đọc “kinh sáng soi” trước khi làm việc gì! Con đọc kinh sáng soi nhiều lần trong ngày và trong 7 ngày để viết thư này,” một điều thiết nghĩ không còn gì có thể 'hài hước hơn.' Cuối cùng, vẫn biết rằng chẳng ai dư thời gian để đi đọc hoặc trả lời những lời lẽ này của người được cho là mắc chứng 'hoang tưởng' hay 'bị bệnh tâm thần', nhưng việc tờ báo Đảng, tiếng nói của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN, lại lấy những thứ này như là chiếc 'phao cứu sinh' thì điều được cho là 'sự quẫn bách' đã đến mức tận cùng. Và quan trọng hơn, nó có thể ít nhiều thể hiện sự cùng quẫn, hoảng loạn và lúng túng từ đầu não của một bộ phận đáng kể hay toàn thể ê-kíp lãnh đạo chóp bu Việt Nam trong tình hình hiện nay. Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một blogger và nhà báo tự do theo Công giáo, đang sinh sống tại Hà Nội. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/04/130421_vn_nhandan_newspape...
......

Pages