2013

Bên Thắng / Bên Thua & Những Bức Tường Lòng

“Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!” Khi còn bị phân chia bởi bức tường Bá Linh, dân Ðức hay kể câu chuyện hài này: Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít và tíu tít hỏi thăm: - Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không? - Có chứ. - Có bác sĩ thú y không? - Có luôn. - Có thẩm mỹ viện và nghĩa trang dành riêng cho chó không? - Có tuốt. - Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây? - Tại vì ở bển bị cấm được cho… sủa! Tháng 9 năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người dân được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền… được sủa. Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth: “Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.” “Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…” “… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…” Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng: “Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (“Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”). Nói như thế, nghe đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa …hết ý! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt, như thế này đây: “Ils ne s’aiment pas” (Chúng nó không ưa nhau đâu). Cha nội Parisien nào đó nói bậy bạ vậy mà… trúng phóc. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Nhưng riêng với với dân Việt thì không. Nhất định là không. Người ngoài có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau, trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin. Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Đôi lúc, họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân… cưỡng bách. Theo “truyền thống,” người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của… phe mình. Họ hay gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ…). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa – tụi thuộc… phe thắng cuộc! Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện… kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị coi là… “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác. Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, “bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin. Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không mấy ai biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh! Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại! “Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá“). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại, trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội, là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên. Những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại e không tài ba đến thế. Chợ chiều rồi. Chúng nó (nếu có) cũng chỉ lo đánh quả mà thôi và chuẩn bị để chạy thôi. Thủ phạm không đến từ bên ngoài. Chúng phục sẵn trong “thâm tâm” của tất cả chúng ta. Khi còn nhỏ, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó – qua lời kể của Schopenhauer – một câu chuyện ngụ ngôn mà nội dung (đaị khái) như sau: Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành… chờ chết! Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, tan nát, và tanh bành – sau đó. Nguồn : http://www.khoi8406hoaky.com/D_1-2_2-59_4-3653_5-20_6-1_17-1038_14-2_15-2/
......

Bản lên tiếng yêu cầu trả tự do cho 14 thanh niên yêu nước

  TỔNG SỐ CHỮ KÝ THU THẬP: 28480 chữ ký. http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html Diễn tiến và kết quả luận tội, tuyên án của phiên tòa kéo dài 2 ngày, 8-9/1/2013, xét xử 14 thanh niên yêu nước tại toà án Vinh, Nghệ An của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị quốc tế lên án, nhân dân phẫn nộ. Những người bị mang ra kết án gồm có các anh chị: Hồ Đức Hòa, Nông Hùng Anh, Lê Văn Sơn, Đặng Ngọc Minh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn Duyệt, Hồ Văn Oanh, Thái Văn Dung, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Xuân Anh, Trần Minh Nhật. Họ đều là những công dân đầy nhiệt huyết, tận tâm phục vụ con người và xã hội, tràn đầy tình yêu đối với đất nước. Các thanh niên yêu nước này đã can đảm và hy sinh đời sống riêng tư vì mong muốn đất nước thoát khỏi vòng kềm tỏa, thao túng của Trung Quốc, dẫn đến việc mất chủ quyền, độc lập của đất nước. Hành động của họ phải được xiển dương và là mô phạm cho tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay dấn thân cho Sự Thật, Công Lý và Hoà Bình. Chúng tôi ký tên dưới đây để: 1. Cực lực phản đối và phủ nhận bản án vừa được áp đặt đối với 14 thanh niên yêu nước này cũng như những bản án kết tội những người yêu nước khác; 2. Đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật nghiêm chỉnh, chấm dứt việc bắt giữ tuỳ tiện phi pháp, đi ngược lại với công pháp quốc tế và trái với hiến pháp cũng như pháp luật Việt Nam; 3. Yêu cầu nhà nước trả tự do cho những người yêu nước đang bị bắt giữ về những tội danh gán ghép vô lý dựa trên công cụ là điều luật 79 và 88 của Bộ Luật Hình Sự, hai điều luật mơ hồ này đã đi ngược lại tinh thần của hiến pháp Việt Nam; 4. Xiển dương sự đóng góp của các nhà yêu nước. Thể hiện sự đồng cảm với những người bị đàn áp, bắt bớ và kết tội oan sai. Đồng thời quan ngại sâu sắc về cái gọi là một nhà nước pháp quyền. Việt Nam, ngày 27 tháng 1 năm 2013 Đồng ký tên:   THÂN NHÂN CỦA 14 THANH NIÊN YÊU NƯỚC 1. Ông Nguyễn Văn Chức – bố của Nguyễn Văn Duyệt 2. Bà Trần Thị Liệu – Mẹ của Nguyễn Văn Oai 3. Bà Hồ Thị Truyền – Chị gái của Hồ Văn Oanh 4. Ông Hồ Đức Hiền – Bố của Hồ Đức Hòa 5. Ông Trần Khắc Hiển – Anh trai của Trần Minh Nhật 6. Bà Nguyễn Thị Hóa – Mẹ của Phêrô Nguyễn Đình Cương 7. Bà Đinh Thị Oanh – Vợ của Phêrô Nguyễn Xuân Anh 8. Ông Đặng Xuân Hà – Anh trai của Đặng Xuân Diệu 9. Ông Thái Văn Hòa – Anh trai của Thái Văn Dung 10. Ông Đỗ Văn Phẩm – Cậu của Paulus Lê Sơn   CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN VINH 11. Linh Mục Giuse Trần Văn Phúc – Linh Mục Quản Xứ Ngọc Long- huyện Yên Thành -Nghệ An, Giáo Phận Vinh 12. Linh Mục JB. Nguyễn Đình Thục – Linh Mục Quản Nhiệm Đồng Lam – huyện Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 13. Linh Mục Phêrô Nguyễn Ngọc Giao – Linh Mục Quản Xứ Lãng Điền, huyện Anh Sơn – NA, Giáo Phận Vinh 14. Linh Mục Giuse Nguyễn Xuân Phương – Linh Mục Quản Xứ Yên Lĩnh – Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 15. Linh Mục Fx. Nguyễn Văn Lượng – Linh Mục Quản Xứ Sơn La – Đô Lương-NA, Giáo Phận Vinh 16. Linh mục Phêrô Hoàng Biên Cương – Linh Mục Quản Hạt Phủ Quì, huyện Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 17. Linh Mục GB Nguyễn Quyết Chiến – Linh Mục Quản Xứ Vĩnh Giang, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 18. Linh Mục Giuse Nguyễn Ngọc Ngữ – Linh Mục Quản Xứ Đồng Lèn, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 19. Linh Mục Pet Lê Đức Bắc – Linh Mục Quản Xứ Nghĩa Thành – Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 20. Linh Mục JB Đinh Công Đoàn – Linh Mục Quản Xứ Song Ngọc -Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 21. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Đính – Linh Mục Quản Hạt Thuận Nghĩa – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 22. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Thanh – Linh Mục Quản Xứ Cẩm Trường và Mành Sơn – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 23. Linh Mục Giuse Nguyễn Công Bình – Linh Mục Quản Xứ Thanh Đa – Quỳnh Thanh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 24. Linh Mục Antôn Nguyễn Duy An – Linh Mục Quản Xứ Lộc Thủy và Phú Yên – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 25. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Sơn – Linh Mục Quản Xứ Thuận Giang – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 26. Linh Mục Paul Nguyễn Xuân Tính – Linh Mục Quản Xứ Lập Thạch -Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 27. Linh Mục Giuse Phan Sĩ Phương – Linh Mục Quản Hạt Cửa Lò – Thị xã Cửa Lò, NA, Giáo Phận Vinh 28. Linh Mục Antôn Trần Văn Niên – Linh Mục Quản Xứ Phù Long – Hưng Long – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 29. Linh Mục Antôn Đặng Hữu Nam – Linh Mục Quản Xứ Bình Thuận, Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 30. Linh Mục Giuse Nguyễn Anh Tuấn – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Gai – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 31. Linh Mục Luca Nguyễn Ngọc Nam – Linh Mục Quản Xứ Thượng Nậm – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 32. Linh Mục JB Hoàng Xuân Lập – Linh Mục Quản Xứ Vạn Lộc – Nam Lộc – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 33. Linh Mục Giuse Phạm Ngọc Quang – Linh Mục Quản Xứ Yên Lạc – Nam Lĩnh – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 34. Linh Mục Giuse Nguyễn Đình Linh – Linh Mục Quản Xứ Phi Lộc – Diễn Quảng – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 35. Linh Mục Phanxico X. Đinh Văn Minh – Linh Mục Quản Xứ Yên Hòa – Quỳnh Vinh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 36. Linh Mục Giuse Nguyễn Đăng Điền – Linh Mục Quản Xứ Nghi Lộc – Diễn Hạnh – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 37. Linh Mục Gioan Nguyễn Đức Quyến – Linh Mục Quản Xứ Yên Lý – Diễn Yên – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 38. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Hà – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Dừa – Thọ Thành – Yên Thành, NA, Giáo Phận Vinh 39. Linh Mục Lu-y Nguyễn Văn Nga – Linh Mục Quản Xứ Kim Lâm – Can Lộc – Hà Tĩnh, Giáo Phận Vinh 40. Linh Mục Phanxicô X. Nguyễn Tất Đạt – Linh Mục Quản Xứ Làng Anh – Nghi Phong – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 41. Linh Mục Antôn Hoàng Trung Hoa – Linh Mục Quản Xứ Làng Nam – Nghi Trung – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh   CÁC VỊ TU SĨ TÔN GIÁO KHẮP NƠI 42. Hòa Thượng Thích Không Tánh – Chùa Liên Trì, Sài Gòn – GHPGVNTN 43. Cụ Lê Quang Liêm – Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương PGHH Thuần Túy, Phú Nhuận Sài Gòn 44. Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải – Tổng Giáo phận Huế 45. Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi – Giáo phận Bắc Ninh 46. Linh Mục Antôn Lê Ngọc Thanh – DCCT Sài Gòn 47. Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng – Quản Nhiệm Hội Thánh Mennonite Bình Tân (còn gọi là Hội Thánh Chuồng Bò), Sài Gòn 48. Mục Sư Thân Văn Trường, – Thủ Đức Sài Gòn 49. Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa – Giáo Hội LuTheran Việt Nam 50. Mục Sư Hồ Hữu Hoàng – Giáo Hội LuTheran, Đồng Nai 51. Mục sư Nguyễn Trung Tôn – Thanh Hóa   MỘT SỐ NHÀ DÂN CHỦ 52. Cô Phạm Thanh Nghiên – Hải Phòng 53. Bà Dương Thị Tân – vợ Blogger Điếu Cày, Saigon 54. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Ban điều hành Khối 8406, Saigon 55. Ông Nguyễn Bắc Truyển – Sài Gòn 56. Ông Lê Thăng Long – Phong Trào Con Đường Việt Nam, Sài Gòn 57. Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston, Hoa Kỳ, Ban điều hành Khối 8406 58. Bà Lư Thị Thu Trang – Saigon, Thành viên Khối 8406 59. Ông Trần Quốc Hiền – Thành viên Khối 8406, Bangkok Thái Lan 60. Ông Phạm Ngọc Thạch – Sài Gòn 61. Anh Lê Thanh Tùng – Sài Gòn 62. Anh Đinh Văn Minh – Sài Gòn 63. Chị Hoàng Thị Ngọc Oanh – Sài Gòn 64. Anh Nguyễn Vĩnh – Đồng Nai 65. Anh Trần Văn Túc – Đồng Nai 66. Nhà báo Trương Minh Đức – Sài Gòn 67. Cựu tù nhân Cổng Trời Antôn Lê Phiến – Xã Long Sơn – Anh Sơn – Nghệ An, Giáo Phận Vinh http://www.chuacuuthe.com/?p=46057   Để cuộc vận động đạt được kết quả tốt đẹp và tạo thành một áp lực lên nhà cầm quyền CSVN, gia đình 14 thanh niên yêu nước rất mong mỏi quý đồng bào, quý đoàn thể, đảng phái và các cơ quan truyền thông góp phần phổ biến rộng rãi Bản Lên Tiếng và vận động mọi người vào ký tên tại địa chỉ : http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html    
......

Tản mạn về trí thức và thời cuộc

Trước nay, trước mỗi kỳ đại hội đảng CS, thiên hạ hay bàn chuyện ông này, ông kia có tư tưởng cải cách, có khả năng thay đổi thể chế để dân chủ hóa đất nước. Thế rồi hết kỳ này đến kỳ khác đất nước vẫn chìm trong độc tài - đàn áp. Giờ nghĩ lại mới thấy thời cuộc đã làm cho những ưu tư, hy vọng về vận mệnh đất nước vỡ tan. Cộng đồng yếu đuối mới cần cá nhân anh hùng Có một thời, giới trí thức trong nước đã hy vọng và hết lời ca ngợi Võ Văn Kiệt như là một chính khách có tư tưởng tiến bộ và gần đây nhất, một số người đặt hy vọng vào Nguyễn Bá Thanh. Chưa nói đến thiện chí thực sự của họ, một cá nhân và một số ít người trong vây cánh của ông ta quả thật quá yếu để tin cậy, bởi không một cá nhân nào trong các chế độ độc tài có khả năng thoát ra khỏi guồng máy cai trị để tiến hành thay đổi thể chế nếu nó đi ngược lại ý chí của tập đoàn (chưa kể đến việc tập đoàn này đang bị khống chế bởi một đàn anh ngoại bang), dù đó là một cựu lãnh đạo hay là một lãnh tụ đương quyền; và càng quá phiêu lưu để giao phó vận mệnh đất nước trong tay một vài người. Bởi con người vốn dĩ không thể tuyệt đối tin cậy, đặc biệt khi họ có quyền lực mà ít chịu trói buộc. Một “cứu tinh” rồi sẽ trở thành một tên tội đồ nếu xã hội dân sự rã rời. Cái tâm lý sai lầm cố hữu về xã hội và chính trị khiến chúng ta luôn ngộ nhận. Người ta cứ nghĩ mọi thứ có thể giải quyết bằng một đề án chính trị áp đặt từ trên xuống, và mọi đề án chính trị quốc gia có thể được giải quyết với một cá nhân. Nói đến đây chắc nhiều độc giả liên tưởng đến Gorbachov. Thật ra, trường hợp này không mâu thuẫn với quan điểm của người viết. Tình thế Nga Sô lúc đó buộc đảng CS phải đi đến chỗ sụp đổ. Ông Gorbachov chỉ là người tuyên bố một sự kiện không thể đảo ngược. Cuộc cách mạng Nhung, với sự nổi lên của những người hùng như Gorbachov và Yelsin, đã xảy đến với một nước Nga kiệt quệ sau chiến tranh Lạnh và hầu như không có xã hội dân sự sau thời kỳ CS. Điều đó chỉ mang lại danh tiếng cho các cá nhân này nhưng không đem đến một tương lai đáng mơ ước cho nước Nga. Bởi khi các lực lượng dân sự yếu đuối thì một người hùng có thể mang đất nước ra khỏi, dĩ nhiên có khả năng đưa đất nước trở lại chế độ độc tài. Như chúng ta có thể thấy, một ý chí đầy cảm tính đã khiến Yelsin chọn Putin - một kẻ cực đoan, chống phương Tây - làm người kế tục ông, đã đẩy nước Nga vào một chế độ dân chủ giả hiệu như hôm nay. Người dân Nga chẳng có đóng góp nào cho những cuộc chuyển mình lớn lao của nước họ. Và hậu quả là họ tiếp tục không có tiếng nói đáng kể nào trong các vấn đề đất nước. Đồng ý, cá nhân vượt trội luôn có vai trò không thể chối cãi trong phong trào xã hội vì khả năng gắn kết những sức mạnh sẵn có và phát huy hiệu quả vận động xã hội, như trong bài viết gần đây nhất của tôi về người lãnh đạo. Nhưng đặt tất cả mọi hy vọng và toàn toàn dựa giẫm vào một cá nhân không phải là tâm lý của một dân tộc trưởng thành. Bởi một dân tộc trưởng thành cần một lãnh đạo chứ không cần lãnh tụ. Chính trị là tất cả? Không thể phủ nhận chính trị là quan trọng, bởi nếu nó không quan trọng thì nó đã không tồn tại từ khi con người được tổ chức thành xã hội cho tới bây giờ. Nó quan trọng đến nỗi mọi nỗ lực gạt bỏ quyền lực chính trị (nhà nước) ra khỏi xã hội dù chỉ trên lý thuyết (chủ nghĩa Marx) cuối cùng đã đưa đến một “siêu nhà nước” trong thực tế. Thế nhưng, từ khi nhà nước xuất hiện, chúng ta nhận thấy toàn khối xã hội cơ bản được chia thành hai phía: người được/bị cai trị và người cai trị, xã hội và nhà nước, dân sự và chính trị. Hệ thống chính trị giúp xã hội được điều hành một cách văn minh, quy củ và giữ chức năng trọng tài cho mọi tranh chấp xã hội. Nhưng để giữ cho xã hội hài hòa, cân bằng, đảm bảo tự do cá nhân, tất yếu không thể để nhà nước lấn át xã hội. Thế nhưng, từ lịch sử bị cai trị chuyên quyền, người Việt Nam coi chính trị là cái gì đó vượt lên trên xã hội, tách khỏi xã hội và độc tôn. Nhưng, chính trị chỉ là một trong nhiều mảng hoạt động trong xã hội con người và tương tác trực tiếp với những cái còn lại. Nhà nước là một hệ thống nên/phải bị kiểm soát bởi sức mạnh dân sự. Khi nhận thức được rằng, ngoài quyền lực chính trị còn có quyền lực kinh tế và quyền lực dân sự, chúng ta sẽ không quá đề cao chính trị và coi nó là đáp án cho mọi vấn đề. Gần đây, tôi được hỏi rằng: khi tôi lên tiếng đấu tranh, tôi có mong cầu một vị trí chính trị trong tương lai? Dù vô tình hay hữu ý, cách suy nghĩ này xuất phát từ tâm lý coi quyền lực chính trị là độc tôn. Vấn đề không phải ở chỗ người ta cho rằng: những người dấn thân và lên tiếng nên có vị trí xứng đáng; mà vì người ta quá đề cao quyền lực chính trị. Tất nhiên những người can đảm và có thực tài nên được trọng dụng, nhưng tại sao không phải ở chỗ nào khác mà là trong hệ thống chính trị? Chỉ có nắm quyền lực chính trị mới là chỗ đứng thích đáng cho người tài đức? Không nơi đâu khác ngoài chính trị, nơi mà một cá nhân có thể trở nên hữu ích và tỏa sáng? Đến đây tôi nhớ đến một nhân vật rất nổi bật trong phong trào Otpor ở Serbia - Srdja Popovic. Sau khi chế độ Slobodan Milosevic sụp đổ, anh ta được bầu vào Quốc hội Serbia. Nhưng sau đó ít lâu, anh ta rời khỏi chính trường và thành lập một tổ chức phi chính phủ ở Belgrade. Sự ra đi ấy có thể được suy đoán với nhiều lý do nhưng không thể bỏ qua một lý do quan trọng – đó là sự trưởng thành trong tâm lý và nhận thức của giới trẻ Serbia: chính trị không là tất cả! Vì coi chính trị là tối cao và là cứu cánh, người Việt Nam vẫn chưa thể tìm thấy sức mạnh thực sự ở chính mình và ở cộng đồng quanh mình khi giải quyết các vấn đề quốc gia, mà luôn trông ngóng vào một chính khách “vĩ đại” làm thay tất cả cho mình. Nhưng làm sao cá nhân nào đó lại thực hiện tốt khát vọng của chúng ta hơn là chính chúng ta? Thực ra, tình trạng chính trị chỉ là biểu hiện của năng lực dân sự. Không thể có chính trị tốt nếu quần chúng chỉ là những con người bạc nhược. Quả thật, không phải ngoài chính trị ra, không còn “đất dụng võ” cho những người tài năng mà vì chúng ta chưa mở rộng tâm trí và cả tâm lý để nhìn thấy một nơi như thế. Hình như đối với chúng ta, tất cả những gì đáng vinh danh và mong ước đều nằm ở chính trị bởi từ trước đến nay, chúng ta chưa hề được sống trong một không gian khác, một không gian đối trọng với quyền lực chính trị. Chính nơi ấy, một cá nhân không chỉ tỏa sáng mà còn tỏa sáng độc lập, không bị không chế và cũng không cần dựa giẫm vào hào quang chính trị. Sức mạnh dân sự yếu kém, trí thức bị khinh miệt Tâm lý dựa giẫm và giao phó đưa đến hai hệ lụy nghiêm trọng. Thứ nhất, sự tuân phục và phụ thuộc vào quyền lực chính trị khiến cho cả xã hội, đặc biệt là giới trí thức, không nhận thức được vị trí quan trọng của mình trong việc giải quyết các vấn nạn xã hội. Điều này tạo điều kiện cho chế độ độc tài cai trị tùy tiện và vô thời hạn. Thứ hai, nếu một nguyên nhân nào đó khiến chế độ độc tài sụp đổ, thì sự yếu kém của các thế lực dân sự sẽ khiến đất nước gặp rất nhiều trở ngại trong việc xây dựng dân chủ, mà trường hợp xấu nhất có thể xảy ra là, sự xuất hiện một chế độ độc tài mới. Người dân ít học lơ là chuyện xã hội thì đã rõ; giới trung lưu trí thức thì làm ngơ, hoặc có quan tâm nhưng im tiếng, hoặc dựa vào quyền lực chính trị để tiến thân. Sự dựa giẫm vào chính trị tỏ ra đặc biệt nguy hiểm, khi địa vị và sự vinh quang của giới trí thức trong xã hội được ban phát bởi Nhà nước thì không thể nào có suy nghĩ và hành động độc lập hay đối kháng. Cuộc cách mạng Pháp đẫm máu đã không mang lại tự do thực sự cho người Pháp cũng bởi trước đó, giới trung lưu và quý tộc Pháp chỉ là một tập đoàn người tập trung quanh vương miện vua Pháp, ca ngợi và hưởng lợi từ đó. Hiện nay, Việt Nam không có giới trung lưu theo đúng tinh thần: mãnh mẽ, độc lập và có năng lực đối kháng với nhà nước. Không ngẫu nhiên và vô lý khi cả Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và những người CS nói chung khinh miệt trí thức. Bởi vì đối với họ, trí thức vừa có quá nhiều chữ để có thể bị lừa gạt lâu dài, nhưng cũng quá nhu nhược để là những đối thủ xứng tầm với họ.Tại sao trung lưu trí thức trong các xã hội tự do là lực lượng tiên phong cho các giá trị dân chủ tiến bộ, còn thân phận trí thức Việt Nam lại rẻ rúng như thế? Phải chăng khi còn mang tâm lý xem chính trị là tất cả, các công dân chưa thể thoát khỏi thân phận thần dân? Phải chăng khi trí thức chưa nhận thấy vai trò to lớn của mình là đảm đương và lãnh đạo khối dân sự, kiềm chế khối chính trị; mà chỉ bám vào chính trị để “vinh thân phì gia” thì chính trị sẽ còn kiêu ngạo và mặc sức tung hoành? Phải chăng khi khối hoạt động dân sự vẫn yếu đuối, và trí thức chỉ là người đi bên lề mọi quyết định quan trọng của quốc gia; thì trí thức - trung lưu vẫn bị coi thường và con đường đi đến Tự do của dân tộc sẽ vô vàn khó khăn? Thay lời kết Đất nước đang đối mặt với những bế tắc và khủng hoảng. Kinh tế đang kiệt quệ. Đảng CSVN đang mạnh tay đàn áp đối kháng để giành ưu thế thời gian cho một cuộc đào thoát lớn của họ. Vận mệnh nước nhà sẽ giao vào tay ai nếu không đặt lên vai mọi tầng lớp dân chúng, đặc biệt là tầng lớp trung lưu trí thức? Đây chính là cơ hội để giới trí thức dành lại trọng trách, khẳng định vai trò và mở rộng tầm vóc của mình. Vị trí cao quý nhất cho những người trí thức không nhất thiết phải là trong một thế lực chính trị mà là trong xã hội dân sự đang nhen nhóm hình thành. Người trí thức phải nhận lấy vai trò và vinh quang của một thế lực dân sự có khả năng kìm chế quyền lực chính trị. Còn gì quan trọng và vinh dự hơn vai trò kiểm soát nhà nước? Còn gì nổi bật hơn vị thế “lương đống” cho toàn khối dân sự? Còn gì đáng mong ước hơn tư cách độc lập và không bị ràng buộc bởi bất cứ thế lực chính trị nào để chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia? Để rồi từ đó, bắt đầu một giai đoạn lịch sử hoàn toàn mới cho Việt Nam, trí thức giờ đây không còn chịu thân phận bề tôi mà mạnh mẽ sánh ngang với quyền lực chính trị, để thực hiện những nhiệm vụ mà lịch sử và quốc gia giao phó. Trút bỏ được sự ràng buộc với chính trị và tâm lý e dè đối với quyền lực chính trị, tầng lớp trí thức Việt Nam sẽ là Hercules, có sức mạnh nâng đỡ cả dân tộc. Huỳnh Thục Vy Buôn Hồ ngày 23 tháng 1 năm 2013 Nguồn Facebook Jane Hoang    
......

Vài nét về Hiến pháp Mỹ

Cách đây 230 năm, năm 1783, cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ giành được thắng lợi – đây là thành công đầu tiên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của toàn thể loài người bị áp bức trong thời đại tư bản chủ nghĩa!Một Hiến pháp có trước… nhà nước Điều “lạ kỳ” là sau thắng lợi đó, những nhà cách mạng Mỹ không thành lập một chính quyền cho tương xứng với công lao của những người đã khai sinh ra nền độc lập; hầu như họ không quan tâm đến việc ai sẽ giữ chiếc ghế nào, “ăn chia” ra sao chiếc bánh lợi quyền béo bở mà phải mất bao xương máu, suốt 10 năm trời mới giành được (17.12.1773-4.9.1783): Cách hành xử của những nhà cách mạng Mỹ chưa hề có tiền lệ – ai về nhà nấy, sau khi đã làm trọn bổn phận công dân, không cần biết đến chuyện nên (phải?) khen thưởng ai, như thế nào đối với sự “có công với cách mạng”! Ý định đó của sự ấu trĩ của lòng tốt nhanh chóng bị thực tế tàn nhẫn của xã hội sau chiến tranh giày xéo, tình trạng vô chính phủ nhanh chóng xảy ra, tiểu bang nào cũng muốn giành cho mình sự độc quyền cao nhất, có lợi nhất, khiến cho 13 tiểu bang gây ra bao cảnh huynh đệ tương tàn, và “nước” Mỹ, theo cách nhận xét của George Washington, “giống như một lâu đài được xây bằng cát”. Muốn khắc phục tình trạng đó, giải pháp duy nhất là phải thành lập một chính quyền, đây là điều mà đến năm 1787, hầu như ai cũng biết. Nhưng, chính quyền đó sẽ ra sao? Nó giống với mô hình Pháp hay Anh? Những bậc tiên tổ của nhà nước Mỹ tương lai giật mình bởi họ đoan quyết rằng phải thành lập một mô hình nhà nước hoàn toàn mới, không giống với bất kỳ ai; và, quan trọng nhất, nó phải là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Sáu chữ đó là sáu chữ vàng bởi nó trở thành nền tảng, cội nguồn, nguyên tắc bao trùm mọi nguyên tắc trong suốt quá trình soạn thảo Hiến pháp (HP). G. Washington, nguyên là Tổng Tư lệnh quân Cách mạng trước đây, được mời giữ ghế chủ tọa Hội nghị Lập Hiến. 55 con người trẻ tuổi (đa số dưới 40 tuổi, riêng A. Hamilton, vào năm 1787, chỉ mới 30 tuổi; J. Madison mới 36 tuổi – họ được coi là những cha đẻ của HP Mỹ) chính là các tinh hoa chính trị được tập hợp từ các tiểu bang, về sau được ca ngợi đó là những người tinh anh nhất, “gần như là thánh thần” của nhân loại vào cuối thế kỷ 18. Những gì lịch sử ca ngợi về tài năng của 55 người đó không hề quá lời: Chẳng hạn, Benjamin Franklin (1706-1790) là một người đa tài: thợ in, chủ tòa báo, thẩm phán, Chủ tịch Hội Triết học Mỹ, thống đốc tiểu bang, nhà ngoại giao, thương gia giàu có, người thành lập Đại học Pensylvania, người phát minh ra cột chống sét, ống thông tiểu, đàn harmonica, kính hai tròng, công ty cứu hỏa tư nhân và, ông nói thành thạo 5 ngoại ngữ… Tài năng, nhân cách và tầm nhìn vĩ đại đã được cộng hưởng để làm ra bản HP đầu tiên trong lịch sử loài người mà hầu như, không có bất kỳ một lỗi văn bản lớn nào! 55 “cha đẻ” của nhà nước Mỹ, trong đó nổi bật nhất là Alexander Hamilton (hình của ông được khắc trên tờ 10 USD), James Madison (người có hình trên tờ 50 USD) và Benjamin Franklin (trên tờ 100 USD)… Ngày 25.5.1787, Hội nghị Lập pháp được khai mạc tại Philadelphia– “thành phố của tình huynh đệ”. Gần bốn tháng ròng rã, những cuộc tranh luận quyết liệt đã nổ ra và tận cho đến lúc đặt bút ký (17.9), nhiều đại biểu vẫn còn chất chứa những bất đồng. Bản dự thảo và những bất đồng đó còn được 5 triệu người dân xem xét kỹ lưỡng trước khi được Quốc hội chính thức thông qua vào năm 1789. Nhìn chung, HP Mỹ đã được làm ra trên cơ sở những định hướng tìm tới sự hoàn hảo có thể; được cụ thể hóa thành nhiều nguyên tắc do nhiều đại biểu đề xuất, được A. Hamilton và J. Madison diễn đạt phần nào qua những bài báo rồi tập hợp thành tác phẩm Liên bang thư tập (The Federalist Papers).Những nguyên tắc lập phápChúng ta muốn tạo dựng một nền tảng (HP) sẽ trường tồn qua mọi thời đại, vậy thì, phải dự liệu đủ những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra. Nguyên tắc này khẳng định rõ những điều không bao giờ thay đổi như quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm; quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ ra; quyền người dân ủy nhiệm cho chính quyền, nhân dân có quyền bầu lên và bãi nhiệm chính quyền đó… Tất nhiên, có rất nhiều điều sẽ thay đổi nên HP dự liệu các khoản bổ sung – Tu Chính Án (Amendment, TCA), chẳng hạn, TCA 22, thông qua năm 1951, quy định tổng thống không được làm quá hai nhiệm kỳ.Việc thành lập một chính quyền thích hợp phải do chính người dân lựa chọn thông qua sự biểu quyết rộng rãi nhất. Không một ai có quyền áp đặt mô hình nhà nước không tương thích với mong muốn và lợi ích của người dân. Sau rất nhiều tranh cãi, nhân dân Mỹ đã chọn mô hình nhà nước tam quyền phân lập; theo đó, một trong ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, luôn bị hai cơ quan kia giám sát.Xu hướng sửa đổi HP để mưu đồ quyền lực nhiều hơn cho một vài cá nhân là xu hướng lạm quyền của mọi quyền lực; vì thế, phải thiết lập một cơ chế sao cho có thể ngăn ngừa mọi ý đồ thao túng và sửa đổi HP. Theo nguyên tắc này, quyền tham gia của mọi công dân là tối hậu chỉ khi nào có trên 2/3 thượng nghị sĩ hoặc thống đốc bang yêu cầu thì việc xem xét sửa đổi HP mới được đặt ra. Quy định này có nghĩa là, nếu muốn xóa bỏ quyền được trang bị vũ khí, phải có ít nhất 67 TNS hoặc 34 thống đốc bang yêu cầu.Xu hướng lạm quyền và lộng quyền là thuộc tính tất nhiên của con người, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho đủ khả năng để ngăn chặn mọi ý đồ lạm quyền đó. Ngoài cơ cấu tam quyền phân lập, HP Mỹ còn định rõ cơ chế các thành viên của Tòa án Tối cao, các thẩm phán của tòa án khu vực trong toàn liên bang, được giữ quyền trọn đời, nếu không xin nghỉ hưu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (tâm thần, bệnh suy giảm trí nhớ…). Như vậy, tòa án sẽ không phải chịu bất kỳ áp lực nào từ phía chính quyền hoặc cử tri!Đảng phái là cội nguồn của chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa bè phái, đến lượt nó, chủ nghĩa bè phái là cội nguồn làm vẩn đục HP. Vì thế, cơ cấu tổ chức chính quyền không cho phép bất kỳ đảng phái nào có thể can thiệp vào bộ máy một cách trực tiếp. Mỗi đảng phái, trước HP, chỉ là một tổ chức công dân, chịu sự điều chỉnh, giới hạn của luật pháp.Đa số người dân là thờ ơ với chính trị, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho hạn chế đến mức thấp nhất sự vô trách nhiệm của người dân đối với việc bầu ra chức vụ lãnh đạo cao nhất. Nguyên tắc này khẳng định cách bầu cử, theo đó, tổng thống sẽ được quyết định bởi số đại cử tri tương đương với số lượng nghị sĩ của mỗi tiểu bang.Các tiểu bang lớn luôn có xu hướng chèn ép các tiểu bang nhỏ hơn, vì thế, cơ chế tổ chức nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chèn ép này. Đây là lý do để các tiểu bang dù lớn hay nhỏ đều có hai thượng nghị sĩ trong thượng viện. Bất kỳ một đạo luật nào dù Hạ viện đã thông qua (nơi các bang lớn có lợi thế) đều phải được Thượng viện chuẩn y, và ngược lại.Các cơ quan tư pháp dễ bị mua chuộc và lạm dụng, vì thế, phải có thiết chế cho người dân được quyền giám sát, quyết định trực tiếp đến các phán quyết tối thượng của tòa án. Nguyên tắc này đề ra cơ chế thành lập bồi thẩm đoàn (The Jury), do người dân bầu ra. Các viên chức của ba cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp không được tham gia vào bồi thẩm đoàn. Phán quyết của bồi thẩm đoàn về có tội hay không, mức án, là tối thượng.Việc thay đổi hay ban hành các điều luật mới luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người dân. Do đó, phải thiết lập cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất sự ban hành hay thay đổi một đạo luật, ngăn chặn mọi xu hướng tắc trách khi ban hành các văn bản luật pháp. Nguyên tắc này bảo đảm sai sót ít nhất (hầu như chưa xảy ra, cho đến thời điểm này) về việc ban hành đạo luật mới. Khi một đạo luật được khởi xướng ở Thượng viện chẳng hạn, nó sẽ được trình cho Tiểu ban Tư pháp xem xét, sau đó trình lên Thượng viện. Nếu được thông qua, sẽ tiếp tục được chuyển sang Tiểu ban Tư pháp Hạ viện, rồi toàn thể Hạ viện; cuối cùng mới được trình lên tổng thống. Đạo luật được thông qua, sẽ mang tên người đề xuất – vừa để vinh danh vừa để tăng tính trách nhiệm của dự luật. Nếu tổng thống phủ quyết, trình tự sẽ được làm lại từ đầu.Quân đội, cảnh sát là công cụ của chính quyền nên phải tuân thủ các mệnh lệnh của chính quyền. Và, để ngăn ngừa sự lộng quyền, độc tài hóa, các quân nhân và cảnh sát đang tại ngũ không được phép tham gia vào cơ quan lập pháp. Nguyên tắc này mặc nhiên khẳng định rằng quân đội hay cảnh sát nếu họ vào thượng viện hay hạ viện, không có quyền phản kháng chính quyền, không có quyền được luận “tội” chính quyền, tức là không bảo đảm được năng lực tác chiến, vì khi luận “tội”, họ đang chống lại chính quyền. Quân nhân hay viên chức cảnh sát, muốn vào nghị viện, phải ra khỏi quân ngũ… Trên đây là vài khái lược về sự hình thành và các nguyên tắc lập pháp của nhà nước Mỹ – nhà nước hiện đại đầu tiên trong lịch sử loài người – một mô hình nhà nước chưa thể tìm thấy sự đối sánh nào khả dĩ hiệu quả hơn. Đó cũng là mô hình nhà nước chưa hề có tiền lệ với bản HP cho đến nay là độc nhất vô nhị, trường tồn, bất chấp sự thay đổi về thời gian và không gian. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang chuẩn bị bước qua một thời khắc trọng đại bằng việc lấy ý kiến toàn dân để sửa đổi Hiến pháp 1992. Rất mong mỏi rằng việc lấy ý kiến đó không phải là chuyện hình thức, bởi một sự thật giản dị: Nếu ngay cả HP cũng chỉ là bàn để cho vui thì không có cái gì trên đời này có thể được coi trọng! Một bản Hiến pháp khoa học, nhân văn, phù hợp ý nguyện của toàn dân, xu thế của mọi thời đại, chắc chắn là nguyên tắc, điều kiện đầu tiên cho sự phát triển vững bền… Không phải ngẫu nhiên mà Lời Tuyên thệ của Tổng thống Mỹ chỉ có một ý ngắn gọn là BẢO VỆ HIẾN PHÁP. Một khi HP được soạn thảo hoàn chỉnh thì mọi cố gắng của công dân – kể cả TT, chỉ duy nhất một vấn đề là bảo vệ để thực thi đúng như HP đặt ra, không cần bất kỳ một sự thêm, bớt nào bởi những thêm hay bớt đó đều làm vẩn đục HP! Huế, 24.1.2013H. V. T.http://www.boxitvn.net/bai/44649            
......

Đọc “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức

Huy Đức, tên thật là Trương Huy San, sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh, năm nay 51 tuổi. Khi những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Cộng sản Bắc Việt xô sập cổng Dinh Độc Lập tại Sài gòn và chấm dứt cuộc nội chiến ông mới lên 13, một tuổi còn quá nhỏ để hiểu ý nghĩa lịch sử của nó. Ông nhập ngũ năm 17 tuổi và trở thành sĩ quan, công tác một thời gian tại chiến trường Cambodia, trước khi trở về làm báo. Năm 2005,  ông được chính quyền Hà Nội gởi đi tu nghiệp tại Maryland, Hoa Kỳ. Năm 2006 về nước, tiếp tục làm báo. Năm 2012 ông lại được gởi qua đại học Harvard, một đại học nổi tiếng tại Hoa Kỳ để nghiên cứu về “phân tích chính trị”.  Gởi học viên đi tu nghiệp tại các nước tư bản là một phần trong chương trình đào tạo chính quy các nhà lãnh đạo tương lai tại Trung quốc khi thế giới bước vào kỷ nguyên “toàn cầu hóa” (1). Ông Huy Đức đang ở Hoa Kỳ khi cho xuất bản bộ sách “Bên Thắng Cuộc”             Theo tác giả, khi có cơ hội tiếp cận với miền Nam, ông –cũng như bà Dương Thu Hương – nhận thấy miền Nam không giống gì với những điều đảng Cộng sản Việt Nam đã dạy dỗ ông. Từ năm 1980, vừa làm báo ông vừa để tâm thu thập tài liệu để viết một tài liệu về cuộc chiến Việt Nam để tự trả lời các thắc mắc của chính mình đối với các hiện tượng chính trị và xã hội trước mắt. Và công việc biên soạn này trở thành một thúc bách khi tình hình khối Cộng sản quốc tế biến chuyển một cách căn bản .             Tại Liên bang Xô viết, Gorbachev đề ra chương trình cởi mở chính trị “glasnost” và cải tổ hành chánh “perestroika” đưa đến sự sụp đổ của Đông Âu. Năm 1986 tại Đại Hội 6, đảng Cộng sản Việt Nam quyết định “đổi mới”. Và cuối thập niên 1980  Liên bang Xô viết sụp đổ, đảng Cộng sản Liên xô bị giải tán.             Huy Đức có cơ hội và được phép sưu tầm tài liệu cũng như tiếp xúc và phỏng vấn các nhân vật chính yếu của chế  độ cho thấy anh được khuyến khích và giúp đỡ. Một luồng tư tưởng mới hay một sáng kiến ở sau lưng dự án?             Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” hoàn tất năm 2012 được Huy Đức trình bày thành 2 cuốn. Cuốn I “Bên thắng Cuộc: Giải phóng”, cuốn II “Bên Thắng Cuộc: Quyền bính”. Hai cuốn sách gộp lại dày 1000 trang cỡ chữ 11, gồm 22 Chương, 195 Danh Mục Tác phẩm và 52 Hồi ký, Bản thảo truyền tay trong nước được dùng để tham khảo, với 1262 mục chú thích . Phần chú thích (Cuốn I 82 trang, cuốn II 66 trang) tổng cộng 148 trang là một phần không thể tách rời với bộ sách. Tác giả để riêng ra để cho phần trình bày có tính liên tục.             Bộ sách của Huy Đức là một tác phẩm đồ sộ. Đồ sộ ở bề dày của nó đã đành, nó còn “đồ sộ” ở chỗ tác giả  của nó là một người Cộng sản nhưng không viết để ca ngợi chiến thắng và tuyên truyền cho tính vô địch của chủ thuyết Mác- Lê Nin.             Cuốn sách là một tài liệu lịch sử mặc dù tác giả không trình bày dưới lăng kính của một nhà viết sử. Tác giả đóng vai một bác sĩ giải phẫu mổ xẻ một cơ thể, trình ra những sự kiện lịch sử có chứng liệu. Trong đó những nhân vật lịch sử suy nghĩ, hành xử và thao tác trước thực tế khách quan.             Cuốn sách trình bày một cuộc sống lịch sử có tính nhân sinh sống động. Qua đó người đọc đôi khi thấy quy luật của cuộc sống át hẵn quy luật lịch sử. Ông Võ Văn Kiệt, ông Đỗ Mười, ông Lê Duẫn …, ông Nguyễn  Văn Thiệu, ông Kissinger … , ông Võ Nguyên Giáp , ông Văn Tiến Dũng …  tuy vẫn còn là những Thủ tướng, những Tổng Bí thư, Tổng thống, Cố vấn chính tri. …, những ông Tướng … nhưng chính yếu dưới ngòi bút của Huy Đức là những con người bằng xương bằng thịt lấy những quyết định lịch sử của mình liên quan đến cái sống và cái chết của hằng trăm ngàn người khác như một con người trước thực tế sinh động và hạn chế của nó.             Những ai quan tâm đến những biến chuyển của lịch sử diễn ra trên đất nước chúng ta trong 60 năm qua tìm thấy qua bộ sách “Bên Thắng Cuộc” một bức tranh hậu trường trọn vẹn bên phe xã hội chủ nghĩa. Tác giả gạn lọc và trình bày một bức tranh nối kết  sự kiện này với sự kiện khác một cách nhân quả (causal). Đối với các nhà nghiên cứu, cuốn sách cung cấp những sử liệu về người và việc từ trước đến nay không có sẵn  sàng như vậy.             Cuốn “Bên Thắng Cuộc” là một cuốn sách nói về những cay đắng của người thắng cuộc. Thắng xong mới thấy mình mới là kẻ bại trận. Cuốn sách cũng chứa đựng những oái oăm của cuộc sống . Chỉ riêng mối tình của Lê Duẫn với bà Nguyễn Thụy Nga người vợ thứ do Đảng cưới cho ông tại Cà Mâu năm 1948 trong thời gian chống Pháp đã có đủ chất liệu cho một thiên tình sử. Ông Duẫn có những ngày hạnh phúc với bà Nga khi ông còn lãnh đạo phong trào Cộng sản ở miền Nam trước Hiệp Định Geneve năm 1954. Năm 1957 khi ông được điều ra Bắc trở thành Bí thư thứ nhất của đảng với quyền uy chính trị chỉ sau ông Hồ Chí Minh ông đã không bảo vệ nổi bà Nga trước lối sống công thức giữa một thủ đô vừa lấy lại trong tay người Pháp và áp lực của người con gái lớn của bà vợ cả. Bà Nga được gởi đi học và sống một mình ở Trung quốc 5 năm, sau đó trở lại miền Nam tham gia cuộc đấu tranh chống chính quyền miền Nam. Vợ ông Võ Văn Kiệt, bà Trần Kim Anh và hai con nhỏ bị bom chết năm 1966 trên đường di chuyển từ Bến Cát đến căn cứ Củ Chi ông Kiệt gặp khó khăn trong đời sống gia đình cho mãi đến năm 1984 khi cưới bà Phan Lương Cầm, con ghẻ tướng Phan Tử Lăng và vẫn không yên với dư luận vì bà Cầm quá mới! Tách chúng ra khỏi cuốn sách đó là những mối tình rất con người. Nó bị cọ xác và đầy đọa bởi chiến tranh, phân ly, ghen tuông, quyền lực và phong tục tập quán.             Tôi còn nhớ một bi kịch xẩy ra tại trại cải tạo Lam sơn, trong tỉnh  Khánh hòa khi tôi đang bị giam tại đó cuối năm 1975 giữa một cán bộ Cộng sản và một Trung úy quân đội Việt Nam Cộng Hòa trẻ tuổi. Trong một buổi lên lớp khi người cán bộ xỉ vả học viên là phản bội tổ quốc, viên Trung úy đứng lên nói, anh không phản bội ai cả. Anh nói: “Nếu Mẹ tôi sinh tôi ra trên vĩ tuyến 17 thì bây giờ tôi cũng đang đứng chỗ của anh và có thể đang mắng nhiếc anh là phản quốc.” (2)              Trong thời gian sau cuộc cách mạng tháng 8/1945, người Pháp trở lại, nhưng một số vùng như Thanh-Nghệ -Tỉnh, Bình Định-Phú Yên, Cà Mâu -Đồng Tháp vẫn nằm trong vòng kiểm soát của phe kháng chiến do đảng Cộng sản lãnh đạo, và nhiều thanh niên vì điều kiện địa lý này đã ở bên này hay bên kia và có khi anh em một nhà biến thành kẻ thù bắn giết nhau. Bên thắng hay bên thua chỉ là ngẫu nhiên của lịch sử và may mắn hay rủi ro của từng số phận. Cái còn lại là cái tâm.             Nhưng có cái tâm tốt chưa chắc vượt ra khỏi nghịch cảnh. Sau năm 1975 ông Võ Văn Kiệt giữ chức vụ lãnh đạo tại Sài gòn- Gia Định ông cũng phải ngăn sông cấm chợ để cho dân Sài gòn nằm trên vựa lúa mà đói. Guồng máy buộc ông làm vậy nếu ông không muốn bị kết án là phản cách mạng, phản bội nguyên tắc kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa! Nhưng ít nhất ông Kiệt còn trăn trở tìm lối thoát ra khỏi cái gông tự tròng vào cổ mình của đảng.  Bên cạnh còn biết bao kẻ tầm thường tin tưởng tuyệt đối chủ thuyết Mác Xít: Đỗ Mười, Võ Chí Công, Đào Duy Tùng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh … Thật khó mà định giá những nhân vật như Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Lê Đức Thọ … để biết họ muốn gì. Họ là những tay “ma nớp” quyền lực như một thú vui trong khung cảnh lịch sử mà họ đang sống?             Huy Đức vẽ con người rất con người và các sử gia nếu muốn  nghiên cứu các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam thì bộ sách của Huy Đức là một nguồn tài liệu phong phú muôn màu muôn vẻ.             Nhưng nét nổi bật nhất của bộ sách là đường nét ngây ngô của bộ máy Đảng. Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, ngăn sông cấm chợ, sở hữu công của tư liệu sản xuất, đất đai thuộc về toàn dân là những nhát búa đảng Cộng sản tự đập vào chân mình.                  Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” cho thấy trong thập niên 1980 đảng Cộng sản Việt Nam đã vùng vẫy để thoát hiểm trước cơn giông tố đang làm lung lay tận gốc phong trào cộng sản thế giới. Gorbachev tại Liên xô. Đặng Tiểu Bình ở Trung quốc với “mèo trắng mèo đen mèo nào cũng tốt miễn là bắt được chuột”. Thắng cuộc, nhưng Việt Nam phải “đổi mới” để tồn tại. Nhưng “đổi mới” mà không có chính sách. Chỉ có những bước mò mẫm trong sương mù của “kinh tế thị trường” không định hướng,  ngoại trừ “định hướng xã hội chủ nghĩa” để níu kéo lĩnh vực quốc doanh cứu đảng.             Kết quả duy nhất của sự đổi  mới mà vẫn duy trì chế độ độc đảng là làm cho dân “có gạo ăn” nhưng không xây dựng được tiềm năng của quốc gia. Chính sách của quốc gia dựa vào trí tuệ giới hạn nếu không muốn nói là kém cỏi của “Bác”, của anh “Ba”, anh “Sáu”, anh “Mười” … một cách rất là tùy tiện.             Bộ sách của Huy Đức có một nét đặc thù là không những bày ra cái yếu kém của chủ nghĩa Mác, mà còn bày ra cái yếu kém của người Việt Nam. Người Việt Nam thông minh, nhưng thiếu cái nhìn lớn và vọng ngoại. Dân khổ triền miên vì vậy.             Nhìn bộ sách đồ sộ của Huy Đức khó mà nghĩ một cách đơn giản rằng đó là thành quả của một cá nhân. Anh Huy Đức dù xông xáo cũng khó tiếp cận với tài liệu nhất là tiếp cận phỏng vấn các nhân vật đang nắm quyền lực mà thói quen sinh hoạt của đảng là mật, cái gì cũng là mật.             Năm 1967 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara trong khi điều hành cuộc chiến Việt Nam nhận ra sự phi lý của cuộc chiến mà quốc gia và cá nhân ông đang vướng vào, ông kín đáo cho lập một Ủy ban nghiên cứu các biến chuyển từ năm 1945 dẫn đến cuộc chiến tranh. Tài liệu nghiên cứu được gọi là “Hồ sơ của Lầu Năm Góc” (The Pentagon Papers). Bộ sách của Huy Đức có nét tương tự của Pentagon Papers. Phải chăng mục đích của bộ sách là thu thập dữ kiện một cách khách quan để tìm ra nguyên ủy của các mâu thuẫn ngự trị trên đất nước Việt Nam? Cái khác bề ngoài phải chăng là công việc truy tìm này được giao phó cho Huy Đức như một nghiên cứu cá nhân?             Bộ sách của Huy Đức phanh phui ra các dữ kiện tự nhiên từ việc này dẫn đến việc khác cho thấy tại sao chúng ta là nạn nhân. Nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử, nạn nhân của các tranh chấp quốc tế, và trên hết là nạn nhân của chính tầm nhìn kém cỏi của chúng ta.             Nếu tài liệu “The Pentagon Papers” đã giúp cho nhân dân Hoa Kỳ  vượt qua “Hội chứng Việt Nam” để nhanh chóng hóa giải căng thẳng và sự chia rẽ trong xã hội do cuộc chiến Việt Nam gây ra thì bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức cũng có thể là một liều thuốc hóa giải sự chia rẽ dân tộc Việt Nam giữa người thắng kẻ thua.             Câu hỏi then chốt là chúng ta đã sẵn sàng để hòa giải với nhau chưa?             Trong phần kết thúc cuốn sách tác giả kết luận: “Giá như không phải là ý thức hệ mà tự do và hạnh phúc của nhân dân là nền tảng hình thành chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, thì người dân đã tránh được chuyên chính vô sản, tránh được cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, tránh được “Nhân Văn Giai Phẩm, tránh được biết bao cuộc binh đạo xung đột trong nội bộ gia đình”.             Và giờ đây đảng Cộng sảnViệt Nam vẫn còn duy trì Điều 4 Hiến pháp nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước, đảng vẫn chưa trả quyền tự do ngôn luận cho dân, đảng vẫn còn ràng buộc với ý thức hệ Mác xít chưa chịu trả quyền tư hữu và quyền sở hữu đất đai lại cho dân thì rõ là chưa có cơ hội hòa giải dân tộc .             Nhưng con đường thiên lý nào cũng phải bắt đầu bằng dặm đầu tiên. Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là bước bắt đầu và là một  bước tích cực của quá trình hoà giải dân tộc.   Trần Bình Nam Jan 23, 2013binhnam@sbcglobal.netwww.tranbinhnam.com  Chú thích:  (1)  Theo The Life of the Party: The Post Democratic Future Begins in China của Eric X. Li – “Foreign Affairs” Jan-Feb. 2013(2)  Cán bộ trại đã phạt nhốt viên Trung úy vào thùng sắt, loại connex quân đội Mỹ dùng chuyên chở quân dụng.
......

THƯ GỞI CÁC BẠN ĐẤU TRANH DÂN CHỦ-NHÂN QUYỀN TRONG NƯỚC

Tôi là người đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, đã từng bị kết án 4 năm tù giam và cũng mới mãn hạn tù. Hiện đang sống tại Việt Nam và tiếp tục lựa chon con đường đấu tranh cho một Việt Nam tự do. Tôi viết lại những gì mà tôi đã đi qua trong 4 năm để các bạn đang đấu tranh cho tự do Việt Nam thêm thông tin và kinh nghiệm khi phải đối mặt với công an trong quá trình bị khởi tố tạm giữ, tạm giam và khi bị đưa đi trại giam ‘’cải tạo” của nhà nước Việt Nam. Việc đối mặt với từng giai đoạn ấy hết sức khó khăn, đấu trí, đấu lý và sức bền của lòng can đảm mỗi cá nhân đã dấn thân vào con đường này. Bạn đang đấu tranh bí mật. Bạn đang làm việc trong bí mật. Đó cũng là một việc rất tốt cho bạn và cho những người hợp tác làm việc chung với bạn. Điều quan trọng là giữ cho mình và cho người. Các bạn đấu tranh trong âm thầm thì ít người biết đến nhưng tôi cho rằng, nó cũng rất hiệu quả. Mục đích cuối cùng của chúng ta là Việt Nam tự do Để có được như vậy thì có rất nhiều con đường khác nhau và khả năng đóng góp cũng khác nhau để đến đích .Đấu tranh bí mật thì các bạn không bị theo dõi và việc viết bài hay kết nối thêm bạn bè vào quá trình nhóm nhỏ rất tốt. Ở trạng thái đấu tranh bí mật này thì các bạn ít đối mặt với công an, thế nhưng các bạn phải có thêm kinh nghiệm của những người đi trước, làm sao các bạn tránh được những cạm bẫy của an ninh mật vụ, đang giăng ra chờ đón những người hoạt động đòi tự do dân chủ nhân quyền mắc vào. Công an có thể kéo những mẻ lưới để đưa cả nhóm các bạn vào tù. Đấu tranh bí mật các bạn cần tiếp xúc với những người đã từng bị bắt để thêm kinh nghiệm phòng ngừa và thường xuyên liên lạc với họ để thêm chỉ dẫn khi cần thiết bằng con đường email hoặc trực tiếp qua chat ’’voise’. Bạn nên có thêm kiến thức về an ninh điện tử để phòng tránh bị an ninh mạng đột nhập vào máy tính, đánh cắp thông tin trong máy tính của bạn và cài gián điệp mạng (virus) trong máy tính nhằm thu thập thông tin hàng ngày của bạn. Hiện nay an ninh Việt Nam đã phát triển hơn trước và cũng tinh vi hơn trước. Trước kia để theo dõi ai đó thì họ có thể đóng giả người này người kia để tiếp cận bạn hoặc đến dình mò nhà bạn nhưng ngày nay không cần làm như vậy. An ninh mạng có thể làm hết việc đó thông qua nghe lén điện thoại, định vị bạn đang ở đâu trên bản đồ [kể cả trường hợp bạn tắt máy], rồi việc theo dõi qua internet, việc an ninh có thể cài gián điệp máy tính bằng cách gửi cho bạn một bức thư và vô tình bạn tò mò đọc thư đó chưa xong, thì phần mền gián điệp đó đã ở trong máy của bạn rồi. Sau đó bạn liên lạc với ai và làm gì….. an ninh mạng đều biết hết và họ sẽ lên kế hoạch bắt và điều tra bạn. Mặc dù thông tin nghe lén và thông tin lấy được trong máy tính của bạn không đưa ra làm căn cứ hoặc bằng chứng buộc tội, nếu họ đưa ra vấn đề đó thì chính họ đã vi phạm pháp luật về đời tư,-một trong những vấn đề của nhân quyền. Thế nhưng họ nghe lén và theo dõi qua máy tính của bạn để nắm bắt được những kế hoạch của bạn để từ đó triển khai giăng lưới bắt bạn. Bạn hoạt động công khai. Hoạt động công khai là bạn phải đối mặt trực diện với công an,công an thì vô cùng gian dối. Lúc đầu có thể ngăn chặn bạn dù việc ngăn chặn đó là vi phạm nhân quyền được qui đinh tại điều 68 hiến pháp 1992. Công an có thể bằng nhiều thủ đoạn để đạt mục đích kể cả bắt chấp luật pháp. Tôi khẳng định tất cả công an việt nam không làm theo luật pháp mà làm theo mệnh lệch cấp trên, dù mệnh lệch đó vi phạm pháp luật. Vì thế câu hỏi ở đây là công an làm theo ‘’luật hay lệnh’’ thì họ sẽ nói là làm theo lệnh của cấp trên, vậy cấp trên là ai?...... đến ông bộ trưởng bộ công an… rồi mệnh lệch của bộ chính trị … rồi chỉ thị của lãnh đạo đảng nhà nước và tóm lại tất cả làm theo lệnh của cấp trên. Vậy còn những qui định của luật ra sao? Lẽ thường thì mọi công an phải làm theo luật, nếu cấp trên của mình ra lệnh mà mệnh lệnh đó vi hiến thì nhất định không làm.[Điều này chỉ có ở các quốc gia dân chủ] Khi mà bạn bị công an triệu tập [hoặc giấy mời] thì bao giờ buổi đầu tiên làm việc thì công an cũng ve vãn bạn như rất thân tình và tình cảm đầy trách nhiệm với bạn và với quốc gia. Đó là màn chào hỏi đầu tiên, sau đó rồi có thể mời ăn, mời uống để nhằm mục đích đánh vào tình cảm của bạn. Bạn thấy họ tử tế, tốt bụng. Sau lần mở màn đó là làm việc lấy lời khai [biên bản làm việc]. Ở giai đoạn này bạn hay bị mắc lỗi những câu hỏi của công an đang dần đưa bạn vào những vi phạm pháp luật, nếu bạn không dứt khoát những gì bạn thuộc về quan điểm bằng những câu trả lời cứng dắn thì sẽ bị họ dần cho bạn vào vòng lao lý. Bạn nên nhớ rằng trong tình huống đó bạn có thể phát huy ‘’quyền im lặng’’, ’’không có nghĩa vụ trả lời’’ và yêu cầu công an đưa ra những bằng chứng hoặc chứng cứ. Sau đó mới trả lời và việc trả lời cũng lên rất dứt khoát với công an ghi biên bản là ’’trả lời câu nào thì được ghi câu đó’’ nếu nghi trong biên bản mà không đúng với trả lời thì bạn sẽ không ký vào biên bản đó khi kết thúc. Nếu biên bản kết thúc mà không có chữ ký của bạn thì biên bản đó coi như không có giá trị pháp lý. Mặt khác bạn lưu ý rằng bạn đang là công dân ’’đối với nhân dân thì phải kính trọng và lễ phép’’. Bạn không chấp nhận làm việc thiếu tôn trọng bạn vì ’’không ai có tội khi tòa án chưa tuyên’’. Trên thực tế thì 100% những bản án liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam đều không có tội nhưng phải chịu tội vì bị cưỡng chế. Trong quá trình làm việc ở giai đoạn này bạn nhất quyết không nhu nhược với bản thân và với công an. Nếu bạn nhu nhược và khiếp sợ công an thì họ sẽ lấn tới và những trả lời [lời khai] của bạn sẽ là bằng chứng buộc tội bạn. Trong quá trình này bạn càng ít nói càng tốt vì nếu bạn càng nói sẽ càng làm cho bạn sơ hở, vì theo kinh nghiệm cho thấy nếu bạn nói 100 câu thì cũng có thể một câu hở [sơ suất]. Bạn trả lời với họ phải bình tĩnh và suy nghĩ về nhưng câu trả lời của mình. Bạn nên tìm hiểu thêm luật pháp liên quan lĩnh vực nhân quyền và luật tố tụng hình sự để khi bạn làm việc với công an bạn có lý luận. Bạn nên trao đổi thông tin với những người có kinh nghiệm trong việc này để được tư vấn trước khi bạn đi làm việc với công an. Sau những lần đi làm việc về, bạn nên tiếp tục trao đổi với những người có kinh nghiệm để được tư vấn tiếp cho buổi làm việc sau. Bạn bị khởi tố bắt tạm giữ. Các án an ninh thường ban đầu họ đều ra lệnh tạm giữ 9 ngày [3 lệnh]. Ở trong gia đoạn này hết sức quan trọng đối với bạn, bạn có thể được trả tự do về nhà nếu bạn thực hiện tốt nhưng nội dung sau. Tạm giữ có nghĩa là họ chưa có đầy đủ bằng chứng để buộc tội bạn. Họ bắt bạn chẳng qua thông qua một ai đó đã khai ra bạn và rồi họ ra lệnh khởi tố vụ án và bắt tạm giữ, tạm giam để điều tra. Nếu trong quá trình tạm giữ 9 ngày đó bạn giữ được lập trường ‘’im lặng’’ hoặc ‘’ không có nghĩa vụ trả lời ‘’ khi chưa đưa ra vật chứng và lời khai của nhân chứng khác đã khai ra bạn. Nếu có một nhân chứng bạn cũng có thể từ chối lời khai của nhân chứng đó hoặc một bị can khác. Trong 9 ngày tạm giữ này là thời gian điều tra sơ bộ ban đầu để rồi công an mới đề nghị viện kiểm sát ra quyết định tạm giam bạn hay trả tự do. Nếu có đủ bằng chứng và lời khai của bạn phù hợp với lời tố cáo hoặc một bị can khác đã khai ra bạn thì nhất định bạn sẽ có lệnh tạm giam 3 tháng hoặc 4 tháng . Vì thế bạn nhất định phải kiên cường vượt qua gia đoạn này. Bạn cũng không được ký bất kỳ văn bản nào của cơ quan công an trong thời gian tạm giữ. Nếu bạn mà nhu nhược với bản thân trong 9 ngày này bằng việc bạn thừa nhận tất cả nhưng gì ghi trong biên bản làm việc đó thì bạn sẽ bị tạm giam, mà tạm giam thì khả năng bạn sẽ có án tù. Trong thời gian này công an sẽ làm việc với bạn liên tục để tìm ra bằng chứng rồi ra quyết định tạm giam. Công an cũng sẽ tung ra hết những ‘’ nghiệp vụ’’ nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể đến cả việc biệt giam và làm cho bạn khủng hoảng tinh thần và đưa tình cảm gia đình vào làm việc…… rồi ‘’nhận đi để được hưởng khoan hồng của đảng và nhà nước’’ rồi để sau này ‘’ có tình tiết giảm nhẹ tội’’ v v…v v… Có những công an trong quá trình điều tra nói với bị can: ‘’mày không có tội gì nặng đâu, mày còn trẻ chú không muốn bỏ tù mày vì thế khai hết ra đi, khai xong thì về, xong lúc nào thì về lúc đó, bố mẹ mày đang ở nhà khóc …mong mày về, con bạn người yêu mày nó nói mày không về nó đi yêu thằng khác….Đấy mày thấy không bao nhiêu người mong mày về, vậy khai đi, khai xong rồi về…’’ cứ như vậy để lừa con trẻ và những người tin vào lời nói đó. Khi khai xong vụ này thì công an lại nói tiếp, ‘’còn mấy vụ trước nữa chưa khai, khai đi….’’ và cứ thế ra nhiều hành vi trước đó nhiều tháng và nhiều năm. Khi khai ra quá nhiều vụ rồi thì công an nói: ’’mày nhiều tội như thế này thì chú không giúp được, việc này chú về đề nghị với cấp trên xem có giúp gì cho cháu không……’’ Sau đó là có kết luận điều tra và chuyển sang viện kiểm sát để đề nghị truy tố ra tòa và nhận án. Đó là những cách mà công an Việt Nam hay lừa cung. Minh Chinh [Tiếp phần sau sẽ kể về câu chuyện tạm giam,có an tù và đi trại giam ] Mong mọi người đọc được thư này phổ biến cho nhiều người cùng biết Cựu tù nhân chính trị tại Việt Namhttps://www.facebook.com/minh.chinh.94
......

Hàng trăm trí thức VN kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng

Gần 500 nhà trí thức tại Việt Nam đã ký thỉnh nguyện thư trên mạng kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng và tôn trọng thật sự các quyền căn bản của con người. Thỉnh nguyện thư này, phát họa một bản hiến pháp khác, được phổ biến trên nhiều trang blog nổi tiếng hôm thứ Ba, 22.1.2013 để đáp ứng việc đảng CSVN yêu cầu dân chúng góp ý về những khoản tu chính hiến pháp. Bản kiến nghị nêu ra 7 điểm chính cần phải sửa đổi từ quyền con người, sở hữu đất đai, tổ chức nhà nước, lực lượng vũ trang, trưng cầu dân ý, thời hạn góp ý sửa Hiến Pháp. Những gì được đề nghị sửa đổi đều dựa trên tính phổ quát của quyền con người như tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước quốc tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đặt bút ký cam kết tôn trọng nhưng không thực hiện trong thực tế. Những người ký kiến nghị cho rằng nhiều điều khoản trong dự thảo Hiến Pháp mới chỉ nhằm giới hạn các quyền của công dân “để đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế trong những năm qua ở nước ta.” Các quyền công dân trong dự thảo sửa đổi vẫn có cái đuôi “theo sự quy định của pháp luật” chỉ là dùng Bộ Luật Hình Sự cho quyền chế độ quyền đàn áp nhân dân, vi phạm nhân quyền. Ký tên vào bản kiến nghị, ngoài những trí thức nổi tiếng trong nước như Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Tương Lai, Lê Ðăng Doanh, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Duy Hiển, Chu Hảo, Nguyên Ngọc, Hoàng Tụy, v.v... người ta còn thấy có cả một số đảng viên đảng CSVN từng nắm những chức vụ quan trọng như cựu bộ trưởng Tư Pháp Nguyễn Ðình Lộc, Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập báo Lao Ðộng, Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên Cứu của ông Thủ Tướng Phan Văn Khải, Hoàng Xuân Phú, viện trưởng Viện Toán Học ở Hà Nội, Nguyễn Minh Thuyết, nguyên đại biểu Quốc Hội, Nguyễn Trung, nguyên trợ lý của ông Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, v.v... Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, cho biết bản hiến pháp như đề nghị trong thỉnh nguyện thư là tốt hơn văn kiện hiện giờ; và điều tốt nhất là Việt Nam phải có hệ thống đa đảng trong lúc này. Bản Hiến pháp đề nghị trong thỉnh nguyện thư cũng kêu gọi đổi tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay vì Cộng hòa XHCNVN, đồng thời thực hiện tam quyền phân lập giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Mặc dù nhà cầm quyền cho biết sẽ tiếp thu ý kiến của công chúng về đề nghị tu chính hiến pháp, nhưng những vấn đề như bầu cử đa đảng, quyền tư hữu đất đai của người dân bị loại khỏi tiến trình tham khảo ý kiến. Nói khác, điều 4 của bản Hiếp Pháp 1992 dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN vẫn được giữ lại và chỉ sửa chữa râu ria mà thôi. Không mấy ai tin rằng khi bản Hiến Pháp được sửa đổi năm nay sẽ đem đến thay đổi thật sự. Theo: http://www.boxitvn.net/bai/44588
......

Hy vọng có thêm hai Huy Đức nữa

Có cuốn Quyền Bính trong tay, đọc khoảng 50 trang đầu, tôi đành phone vào hãng cáo bệnh, ngồi nhà đọc một mạch cho đến trang cuối cùng. Việc mổ xẻ các nhân vật và sự kiện trong đó cần nhiều thời gian và công sức. Bài viết này chỉ là những cảm nhận ban đầu. Câu cuối cùng của Lời mở đầu trong Quyền Bính viết: “Hệ thống chính trị trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng ít có khả năng khắc phục sai lầm.” Phải chăng đây là một luận đề, mà tác giả đã dùng phần còn lại của cuốn sách để chứng minh. Đại Hội Câu chuyện thường bắt đầu từ Đại hội Đảng. Đại hội đẻ ra Bộ chính trị và Tổng bí thư. Bộ chính trị và Tổng bí thư lại đẻ ra chính sách. Trong chuỗi mắt xích này, quyền bính được sử dụng triệt để nhằm thao túng chính trường ở những cung bậc khác nhau.   Trước Đại hội VI, Lê Duẩn chết, Lê Đức Thọ muốn giành lấy vị trí này. Nhưng Lê Duẩn chỉ đích danh Trường Chinh thay mình. Ông Thọ đã sử dụng quyền bính tuyệt đối của trưởng ban nhân sự Đại hôi để giành ghế. Không được, ông rút lá bài cuối cùng: không ăn được thì đạp đổ. Trường Chinh đã bị ông Thọ ép phải rút lui chỉ vài giờ trước khi Đại hội VI khai mạc. Ở một hoàn cảnh khác, quyền bính được sử dụng thành bản án để tiêu diệt đối phương. Vụ Sáu Sứ là một điển hình. Phần vì ghen tức với uy tín của Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà, phần vì sợ hai ông này trở lại chính trường, hai tướng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê dùng Vũ Chính cùng con rể Nguyễn Chí Vịnh ở tồng cục II dựng lên vụ “âm mưu lật đổ” do tướng Giáp cầm đầu. May mắn cho tướng Giáp, vụ án được giao cho thứ trưởng công an Võ Viết Thanh là một người tử tế. Ông Thanh lật án, không theo ý kiến chỉ đạo. Lập tức Võ Viết Thanh bị trả đũa. Sự nghiệp chính trị của ông Thanh chấm dứt, thanh danh cá nhân và gia đình bị bôi nhọ. Ông Thanh tâm sự “Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng, tôi đã định kéo khóa rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát.” (Ba ông là Đoàn Khuê, tổng tham mưu trưởng, Võ chí Công, chủ tịch nước, và Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban tổ chức trung ương) Từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến Đại hội XI năm 2011 là 25 năm với 6 kỳ Đại hội. Càng về sau, Đại hội càng lộn xộn. Cứ trước Đại hội, là có nhiều kỳ án, nhiều tin đồn úp úp mở mở làm xôn xao chính trường. Đại hội sau nhiều án hơn Đại hội trước và mức độ khốc liệt của nó cũng tăng. Những cảnh hạ bệ, thanh toán nhau rất ngoạn mục được trình bày một cách bình tĩnh, rõ ràng và đầy sức thuyết phục. Nhân Sự Nếu Đại hội Đảng là mẹ, thì Bộ chính trị là con. Trong Bộ chính trị thì Tổng bí thư là con trưởng, các ủy viên là những đứa con thứ. Mẹ mang bệnh di truyền từ trong nhiễm sắc thể, thì lũ con làm sao tránh khỏi căn bệnh trầm kha. Trường Chinh được mô tả như là kiến trúc sư của Đổi mới. Ông đoạn tuyệt với quan liêu bao cấp. Ông tập hợp những trợ lý giỏi, tận tụy và nhiệt thành với công việc, mang lại chút hy vọng vào những năm cuối thập kỷ 80. Nhưng âu cũng là số phận. Ông phải “tự” rút. Dân tộc lại trở về với cảnh lầm than. Nguyễn Văn Linh, kế vị Trường Chinh, bộc lộ ra là một con người thủ đoạn, hẹp hòi, thù vặt, thành kiến, và bảo thủ. Bạn đọc khá dễ dàng tìm được câu trả lời tại sao ông Linh đã trở thành một sát thủ lạnh lùng với Trần Xuân Bách. Ông Đồng và ông Thọ đưa ông Linh vào ghế Tổng bí thư. Ông Bách phản đối vì ông Linh chẳng có trình độ gì. Khi ông Linh đã thành Tổng bí thư rồi, ông Bách vẫn coi thường ông Linh ra mặt. Cuộc chiến Linh – Bách bắt đầu như vậy. Rồi ông Linh đánh hơi được là ông Bách sẽ thay mình vào giữa nhiệm kỳ. Thế là ông Linh liên minh với cánh bảo thủ giáo điều Bắc kỳ. Những ngón đòn hiểm nhất được tung ra diệt Trần Xuân Bách không tiếc thương để trừ hậu họa. Ông Linh còn lập ra nhiều kỳ án để vặt lông bẻ cánh, thậm chí còn muốn cắt tiết Võ Văn Kiệt. Bề ngoài ông Linh lại đóng vai cấp tiến làm mọi người cứ tưởng ông Linh là cánh đổi mới cùng phe với ông Kiệt từ miền Nam ra. Cuộc đọ sức Linh – Kiêt đầy kịch tính và kéo dài đến những năm khi ông Linh đã về hưu. Đến đời Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, di sản đồ sộ của ông để lại cho đất nước là hoán chuyển cán bộ. Những đồng hương Thanh Hóa của ông được cơ cấu, còn những ai không cùng cánh bị đẩy ra. Tới Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thì phó ban tổ chức Trung ương cũng phải thốt lên: “Tôi thật xấu hổ vì Đảng ta có một tổng bí thư như vậy”. Thủ tướng Phan Văn Khải nhận định: “Ông Mạnh trình độ yếu lại thiếu bản lĩnh nên gần như không tác dụng gì”. Chính ông Mạnh cũng tự nhận: “Em biết thân phận em rồi, người dân tộc chỉ có thể làm đến thế.” Ông Mạnh tự biết khả năng của mình, nhưng người ta cứ giao cho ông chức Tổng bí thư. Ông Mạnh đã trở thành ông bình vôi không hơn không kém. Quyền bính càng dễ bị khuynh loát bởi những bóng ma sau hậu trường. Nhóm Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Hưởng, Lê Hồng Anh ra đời trong hoàn cảnh này. Trong Quyền Bính tác giả có dẫn lời Nguyễn Văn An, ủy viên Bộ chính trị, trưởng ban tổ chức Trung ương: “Ngay từ Đại hội VI chọn ông Nguyễn Văn Linh đã không đúng, Ông ấy không phải là người đổi mới. Ông Linh chọn ông Đỗ Mười cũng không đúng. Ông Mười chọn Lê Khả Phiêu cũng không đúng. Đến khi chọn Nông Đức Mạnh thì sai” “Không đúng” đồng nghĩa với “Sai”. Nhưng ông An phải dùng từ sai để nhấn mạnh căn bệnh đã vào giai đọan cuối. Nếu mang tài năng và đạo đức của các Tổng bí thư biểu diễn trên đồ thị, thì đó là đồ thị của một hàm số nghịch. Thời gian càng tăng thì đạo đức và tài năng của các vị càng giảm. Đối Ngoại Tổng bí thư và Bộ chính trị làm ra và điểu hành chính sách. Vậy, bạn đọc tự đoán ra kết quả. Những nhân sự bệnh hoạn trên không thể sinh ra những chính sách đúng, tất nhiên càng không thể điều hành quốc gia hội nhập vào quỹ đạo của nhân loại. Nhận thức của cán bộ cao cấp cũng rất thảm hại. Ông Nguyễn Đức Bình tuyên bố “Toàn cầu chỉ mang lại đói nghèo” còn Nguyễn Phú Trọng thì bảo “đó là diễn biến hòa bình”. Khi Bill Cliton đến thăm Việt Nam, vô tình hay cố ý, mà thời gian ông đặt chân đến Hà Nội và Sài Gòn đều vào lúc nửa đêm. Bộ chính trị chỉ đạo không ai được cười khi tiếp Bill Cliton. Quyền Bính mô tả: Một trợ lý nhắc Thủ tướng: “Người ta đã sang tận đây, tiếc gì anh không nở một nụ cười với họ”. Thủ tướng Phan Văn Khải trả lời: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”. Khi Bill Clinton đến thăm Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên được quy định khi nào thì được đứng lên, khi nào thì được vỗ tay. Đón nguyên thủ vào lúc nửa đêm và nền ngoại giao cấm cười ra đời ở xứ ta. Cũng không biết nên cười hay mếu khi đọc những dòng này trong Quyền Bính. Đường lối ngoại giao với Trung Quốc được thể hiện qua cuộc gặp của Lê Khả Phiêu với Giang Trạch Dân. Cuộc gặp diễn ra không theo nghi thức của Đảng hay Nhà nước một cách công khai, mà lén lút, khuất tất theo đường tình báo. Chuyến đi gồm bốn vị Lê Khả Phiểu, Trần Đình Hoan, Nguyễn Mạnh Cầm và Nguyễn Chí Vịnh. Nhưng phút chót, Trung Quốc lại ngăn không cho ông Cầm và ông Hoan vào phòng họp, chỉ riêng ông Phiêu và Vịnh được vào. Ông Phiêu thú nhận đã thoả thuận đàm phán song phương vấn đề biển đảo với Trung Quốc. Chuyện mất đất, mất biển với Trung Quốc là có thiệt. Quyển Bính đã trình bày ngọn nguồn của câu chuyện. Nếu không mất đất, tại sao Đảng lại phải giấu dân? Tại sao lại không công khai nội dung và kết quả đã ký? Khi biết Việt Nam sắp ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, các ủy viên Bộ chính trị nhận được bức điện tối mật từ Tổng cục II: “Trung Quốc sẽ phản ứng rất xấu nếu ký với Mỹ”. Đọc đến đây, thú thật tôi phải chửi thề vì quá đau lòng trước những cơ hội đã mất. Tao buôn bán với Mỹ thì mặc mẹ tao, hề hấn gì đến mày mà mày phải phản ứng xấu. Mày lấy tư cách gì mà chúi mũi vào ống khóa nhà tao. Mày phản ứng xấu thì làm đéo gì được tao. Tôi cũng đắng cay tự hỏi: Ai là người để Trung Quốc làm việc đó? Sao các ngài phải sợ cái thằng hàng xóm to xác mà thối bụng đến vậy? Hèn quá. Nhục quá. Đối Nội Về đường lối kinh tế và đối nội, Quyền Bính trích dẫn lời ông Đào Duy Tùng: “Kinh tế phải phục tùng chính trị”. Một mệnh lệnh tuyệt cú mèo, xứng tầm ủy viên Bộ chính trị. Ở Việt Nam chưa hề có đổi mới chính trị, thì làm sao có đổi mới kinh tế. Công cuộc “Đổi mới”của Đảng từ năm 1986 thực ra chỉ nửa vời, nếu không nói là giả tạo, hay nói cho chính xác là một thằng xây nhưng chín thằng phá. Một nhóm nhỏ người giàu lên là do chộp giựt. Xã hội chưa hình thành một tầng lớp trung lưu thực sự và bền vững. Sức lao động và sự sáng tạo chưa được giải phóng. Vòng kim cô về chủ nghĩa xã hội vẫn đang siết chặt trên đầu. Chệch đường lối thì không vào tù cũng thân bại danh liệt. Khác phe cánh thì không bị cưỡng chế cũng bị thanh tra. Thiết tưởng, không cần phải bàn thêm gì nữa. Hậu quả đã nhãn tiền. Nền kinh tế và xã hội Việt Nam hôm nay đang là đêm hôm trước của ngày phá sản. Nụ Cười và Nước Mắt Bên cạnh những câu chuyện khô khan về đường lối đối kinh tế, Quyển Bính, thảng hoặc, mang lại cho bạn đọc những nụ cười. Ông Lê Duẩn bảo các chị phụ nữ rằng sao các chị nghe vậy mà không “vả vào miệng” những người nói. Tôi khoái lối nói dân dã của ông, y chang như mấy bà ngoài chợ Đồng Xuân. Ông Đỗ Mười tiếp các nhà báo trong khi quên cài khóa cửa quần. Ông Đoàn Khuê thì vén áo cho Đỗ Mười sờ bụng rồi khoe rằng khối ung thư trong bụng đã tan, ông đủ sức khoẻ đảm nhiệm Chủ tịch nước. Lối xưng hô suồng sã “Mày, Tao” của các vị Tổng, Thủ, Chủ, cũng mang lại nụ cười tủm tỉm. Rồi người đọc cũng bắt gặp câu chuyện cảm động về số phận của đứa con rơi lưu lạc Phan Thanh Nam. Bà Hồ Thị Minh, 20 tuổi, con gái miền Nam, nhan sắc mặn mòi, từng làm chủ bút một tờ báo, từng dự hội nghị bên Pháp, biết nhiều ngoại ngữ, được gởi ra Bắc để giúp việc cho Bác Hồ. Chưa kịp giúp Bác, vì Bác đã trên 60 tuổi, thì gặp Võ Văn Kiệt đi dự Đại hội Đảng II, năm 1951. Hai tâm hồn Nam bộ phóng khoáng mà cô đơn giữa núi rừng Việt Bắc hoang vu gặp nhau, kết quả là thằng con Phan Thanh Nam ra đời. Hơn năm sau, ông Kiệt phải về Nam. Trung ương Đảng giao thằng con trai ông Kiệt cho ông Cái ở Tổng cục Lương thực. Tổng cục Lương thực nhưng có lẽ vì thiếu lương thực không nuôi nổi cháu bé sơ sinh, thằng bé phải nằm lại bơ vơ bên bờ suối. Người làng Tăng Xá, xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ lượm được mang về. Bà Trần Kim Anh, vợ chính thức của ông Kiệt, và hai đứa con thơ, trúng bom, cùng chết mất tích trên sông Sài Gòn (lưu ý rằng bà Kim Anh là con gái một địa chủ ở miền Tây, không là Đảng viên, không nằm vùng, không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của chồng, không có chính kiến chính trị). Võ Dũng con trai duy nhất còn lại cùa ông Kiệt và bà Anh, đi tập kết nghe tin mẹ và em chết, quyết về Nam để trả thù cho mẹ, chưa kịp trả thù, thì hy sinh khi đang bò qua hàng rào kẽm gai trinh sát. Cũng khoảng thời gian đó, Phan Thanh Nam, vượt Trường sơn vào Nam tìm người cha ruột. Gia đình ông Kiệt gần như xoá sổ. Bạn đọc nhận ra sự khốc liêt và tàn bạo của chiến tranh. Cái giá phải trả của mỗi gia đình Việt Nam nói chung, và gia đình ông Kiệt nói riêng là quá đắt. Chúng ta có quyền chất vấn ai đã đưa đẩy chúng ta đến cảnh nhồi da sáo thịt này. Có cần thiết một cuộc chiến huynh đệ tương tàn như vậy hay không. Có con đường nào để thống nhất Việt Nam mà không cần đến súng đạn hay không. Người đọc cũng bắt gặp cảnh các đồng chí đối xử với nhau rất nhẫn tâm qua hình ảnh bà Trần Thị Đức Thịnh, vợ ông Bách. Khi ông Bách thất sủng, bà Thịnh bị đẩy ra vỉa hè giữ xe gắn máy. Bà phải trùm khăn để không ai thấy mặt, đi rửa chén, áp tải xe chở sắt qua đêm để lấy tiền nuôi chồng con. Trung ương đã quỵt tiền lương của ông Bách. Cay đắng thay là ông Bách lại không biết, cứ tưởng vợ vẫn được Đảng trọng dụng, và Trung ương vẫn trả lương cho mình. Hy Vọng Quyền Bính giống nhữ một cỗ máy CT scan. Nó chỉ cung cấp những lát cắt hình ảnh của khối u trong cơ thể. Để nhận biết những hình ảnh này là tế bào dữ hay lành, tùy thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm người đọc. Tác giả Huy Đức đã không làm thay cho chúng ta việc đó. Hình như đó là dụng ý. Anh không “định hướng” bạn đọc như báo chí của Đảng đang làm. Chữ “Hết” ở trang cuối của Quyền Bính đã hiện ra, nhưng tôi vẫn không tin vào mắt mình. Cảm ơn Huy Đức đã cho chúng ta một cơ hội ôn lại và suy ngẫm về những biến cố đã xảy ra trong đời mình. Cảm ơn anh về sự lao động nghiêm túc, kiên cường và công phu. Anh là người mở đường cho sự thực trở về, bất chấp sự che đậy, ngụy tạo của những người nắm quyền bính. Nhà báo lão thành Bùi Tín nói Bên Thắng Cuộc đã đưa ra 1/3 sự thực. Nếu vậy, Việt Nam cần thêm hai người như Huy Đức nữa, thì sự thực sẽ được trả về đúng vị trí của nó. Chúng ta có quyền hy vọng. 19 tháng Giêng 2013 Theo Đàn Chim Việt  
......

Bấm Huyệt Trị Bệnh

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đem đến cho con người nhiều lợi ích về mặt thể xác. Thế nhưng người ta quá dựa vào những phương tiên này và quên đi những ‘quà tặng’ trời cho để có thể giúp phòng và tránh nhiều bệnh tật. Chúng tôi giới thiệu một số phương pháp của bác sĩ Cerney trong sách ‘Acupressure by acupressure’ (tạm dịch là châm bằng cách day bấm huyệt), nhà xuất bản New York 1982. Đó là những gì kinh nghiệm mà ông thu thập được sau 25 năm theo hoc và nghiên cứu về Đông y ở Trung Quốc, vì vậy, những kinh nghiệm này rất quý và có hiệu quả tốt mà chúng tôi đã thực hiện từ năm 1985 đến nay Mỗi buổi sáng, trước khi bắt đầu bước vào sinh hoạt hằng ngày, bạn chỉ cần bỏ ra chừng 10 phút để kiểm tra một số bộ phận cơ quan phủ tạng quan trọng và khi phát giác sớm các rối loạn (nếu có) và điều chỉnh ngay, sẽ mau phục hồi. Kiểm tra tim Ngửa bàn tay, ấn tìm ở kẽ xương ngón tay thứ 4 và 5 (huyệt Thiếu phu). Huyệt này cho biết những biểu hiện của tim. Hoặc nắm vào góc móng tay út, phía ngón áp út tức huyệt Thiếu xung, nếu huyệt này đau chứng tỏ tim làm việc quá sức. Nhớ rằng khi kích thích huyệt này có ảnh hưởng đến tim. Nắm 2 ngón tay vào huyệt này thật chặt, day mạnh và như lắc tay, có thể tăng sức khoẻ. Hoặc đặt ngón cái vào lòng bàn tay, chỗ khe xương ngón thứ 4 và 5 (Thiếu phủ). Ngón trỏ đặt ở phía đối diện (ở mu bàn tay - tức huyệt Trung chử). Xoa và bóp, không những trợ lực cho tim mà còn tăng sức cho cơ thể nữa. Kiểm tra phổi. Ngửa bàn tay, dùng ngón tay ấn vào chỗ lõm đầu lằn chỉ cổ tay (dưới ngón cái) tức huyệt Thái uyên, đồng thời gấp các ngón tay vào lòng bàn tay, đầu ngón tay trỏ chạm vào vùng thịt ở mô ngón cái (huyệt Ngư tế) để kiểm tra phổi. Day 2 huyệt này làm lượng ôxy trong phổi lưu thông qua đường kinh Phế. Kiểm tra ruột già. Khép ngón tay cái vào sát ngón trỏ, chỗ cao nhất của thịt lồi lên là huyệt (tức huyệt Hợp cốc), day và ấn vào huyệt này, nếu đau là ruột già không được tốt lắm. Nên ăn thức ăn nhẹ và dễ tiêu. Trong khi đó ấn vào huyệt này cho đến khi dưới ngón tay thấy hết đau. Huyệt đặc biệt này không những làm tan những chất độc tụ ở ruột già mà còn làm cho khỏi mất ngủ. Mỗi tối nên xoa ấn huyệt này là cơn mệt mỏi sẽ tiêu bớt. Kiểm tra thận và sinh thực tuyến (sinh dục). Để tăng lực hoạt động cho thận, bàng quang và sinh thực tuyến: Nắm chặt lấy gân gót chân và bấm mạnh, (tương đương các huyệt Côn lôn, Bộc tham của kinh Bàng quang, Chiếu hải, Thái khê của kinh Thận), ở đây mà thấy đau đều tương ứng với rối loạn ở thận, bàng quang, bộ phận sinh dục. Nhiều người thấy có dấu hiệu khoái cảm cao độ ở điểm này mà không rõ lý do tại sao. Dùng lòng bàn tay cụp vào gót chân (phía lòng bàn chân) bóp mạnh và sâu vào. Nếu ở đây thấy đau là sinh thực tuyến bị yếu. Ngược lại ấn vào điểm này sẽ tăng cường lực cho sinh thực tuyến. Điểm này cũng làm hết đau lưng và giữ một vai trò trong việc làm cho đầu gối hết cứng. Kiểm tra gan. Ấn sâu vào chỗ lõm giữa ngón chân cái và ngón thứ 2(huyệt Thái xung), nếu thấy hơi khó chịu là gan hoạt động yếu. Day mạnh để điều chỉnh. Dùng ngón tay cái và ngón trỏ đè vào gốc móng chân cái (cả 2 chân), day ấn khoảng 10 lần, để điều chỉnh đường kinh Can và Tỳ. Kích thích lưng Có thể nằm ngửa trên giường, hoặc ngồi dựa vào ghế và thực hiện như sau: Nắm đấm bàn tay vào rồi đặt vào mấu đốt sống lưng, song song cột sống. Động tác này không những làm cho háng bớt đau mà còn làm cho thần kinh toạ giảm đau. Co chân lên, duỗi ra. Giơ tay lên khỏi đầu duỗi ra, khi thực hiện động tác này thì thở sâu. Với cách thức này sẽ cảm thấy 1 cảm giác ấm chạy suốt thân thể. Vùng đau sẽ biến mất, vùng háng đang chịu đau sẽ bớt đau, cảm giác đau ở lưng, cột sống và vùng bụng trên, dưới sẽ bị vô hiệu hoá. Dùng tay ấn vào các đốt sống sẽ làm cho các chất độc ở đây tan đi. Kích thích gan mật Để bàn tay vào vùng sườn bên phải, vị trí của gan mật, cong tay bóp nhẹ, lần đầu tiên làm có hơi đau. Đau là dấu hiệu cho thấy có sự rối loạn bệnh lý ở gan. Sau vài lần kích thích, gan mạnh lên sẽ hết đau (đây là dấu hiệu cho thấy chúng ta thực hiện đúng phương pháp). Lần lên đến giữa xương ức (chấn thuỷ) cong tay lại, nắm chặt rồi thả ra 3 lần để kích thích mật. Tác động này cũng đẩy bớt hơi xả ra khỏi ống dẫn mật cũng như để tăng lực cho mật. Chuyển sang đến phía đối diện vùng bụng, dưới sườn trái. Nắm vào nhả ra 3 lần một cách từ từ. Cần nhớ là mỗi bộ phận ở bụng do thần kinh tuỷ sống điều khiển, nghĩa là cũng phải ấn vào những điểm điều khiển ở cột sống (dọc hai bên cột sống) Thí dụ: Khi mật tắc nghẽn sẽ có 1 điểm đau giữa vùng mật. Đây là huyệt phản ứng (a thị huyệt), cần xoa dịu huyệt này, ngoài ra còn phản ứng đau ở quãng ngay cột sống lưng thứ 5-9 (D5 - D9), có thể dùng 1 trái banh lông để lăn hoặc nhờ một người khác ấn ngón tay cái vào khi bạn nằm sấp. Chú ý: Lúc nào cũng thật nhẹ tay. Nếu đau ở bất cứ huyệt nào, ấn nhẹ cho đến khi hết đau. Nếu vẫn còn đau không ngừng, tạm ngưng để ngày khác sẽ làm. Giữ cho tiêu hoá tốt Vì thức ăn là một nguồn lực cho cơ thể, do đó việc tiêu hoá phải được duy trì để bảo tồn những nguyên tố của sức sống. Cụp các ngón tay của cả 2 bàn tay lại dưới phía sườn bên phải ấn vào vùng này là huyệt Nhật nguyệt (kinh Đởm), Phúc ai (kinh Tỳ). Nắm chặt vào đếm đến 3, buông ra, thơ mạnh, ấn vào lần nữa, đếm đến 3, làm 5 lần. Làm qua phía bụng bên phải, nơi huyệt Lương môn (kinh Vị - Rốn lên 4 thốn ra ngang 2 thốn). Rồi tới vùng chấn thuỷ, nơi huyệt Cưu vĩ và Cự khuyết (mạch Nhâm) cũng làm như vậy. Động tác này giúp tiêu hoá hoạt động, các tế bào được phục hồi, sức khoẻ phục hồi. Kích Thích Rốn Đặt ngón tay thứ 3 ( ngón giữa) vào lỗ rốn, ấn sâu vào, ấn vào vùng thấy đau, xoa quanh rốn nhè nhẹ đến những vùng chung quanh. Việc xoa quanh rốn làm giảm tác động đau và bớt mức độ mệt mỏi. Bây giờ đặt lòng bàn tay vào bụng, tay phải ở bụng phải, tay trái ở bụng trái lấy tay kéo và đẩy về phía cột sống làm 10 lần thật đều. Đẩy bụng dưới lên hướng sườn, làm nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, có thể cảm thấy hoặc nghe thấy tiếng òng ọc là tốt. Dừng lại và nghỉ một chút rồi dậy uống một ly nước nóng. Mười phút để làm tăng sức Theo phương pháp của bác sĩ Cerney: Bất cứ lúc nào cơ thể cảm thấy mệt mỏi, mất sức, chỉ cần hơn kém 10 phút áp dụng thủ pháp kích thích dưới đây, có thể làm cho cuộc đời thay đổi hơn. 1. Kích thích đường kinh Tâm: nắm chặt ngón tay út và xoay qua xoay lại. Ngừng lại, kéo lên, cong về phía lòng bàn tay rồi xoay lại 1 lần nữa, làm vậy 5 giây. Bây giờ bóp mạnh đầu ngón tay giữa. Nắm chặt, thả ra, làm 3 lần, mỗi lần 3 giây. 2. Ấn vào khu ‘tim’ ở lòng bàn chân, có một vùng phản xạ mạnh ở ngang dưới đầu xương ngón chân thứ 4, chân trái. Dùng huyệt này để tăng lực tối đa, nên làm vào buổi sáng khi thức dậy. 3. Sờ vào những vùng căng cứng (đau) ở ngực trái. Đôi khi bên phải cũng có một ít, có thể có khối u nhỏ ở trong bắp thịt quanh tim, thường ở trên đường thẳng núm vú. Ấn và xoa cho đến khi chúng tan đi. Ở hố nách cánh tay trái dài xuống phía trong cũng làm vậy. Có thể làm cả cánh tay phải. Áp dụng xoa ấn trên đường kinh Tâm, cứ làm cách quãng, dài xuống ngón tay út. 4. Đặt tay vào vùng chấn thuỷ ấn vào 3 giây, thả ra, thở mạnh, rồi lại ấn, thả ra… làm 5 lần. Đứng dựa lưng vào cạnh khung cửa. Đặt những chỗ đau giữa thăn thịt giữa cột sống, ấn mạnh lưng và làm như vậy để kích thích thần kinh cột sống đối với tim. Đây là một cách tự động tạo nên 1 tín hiệu truyền lên não, từ đó truyền xuống tim khiến tim hoạt động mạnh hơn. Ở đáy sọ (chẩm) sẽ sờ thấy một điểm đau hoặc nhiều hơn, dài xuống cột sống. Ấn vào những huyệt này vì mỗi huyệt sẽ tăng lực cho cơ thể hoạt động. Sau cùng, tới vùng đáy sọ (huyệt Phong phủ), dùng ngón tay cái và ngón giữa ấn, xoa, bóp cho đến khi hết đau. Rồi chạy tay dài xuống 2 bên cột sống làm cho bắp thịt bớt căng thẳng. SƯU TẦM  Quan-Dieu  
......

TƯỞNG NIỆM CÁC CHIẾN SĨ HẢI QUÂN VNCH (*) ĐÃ HY SINH TẠI HOÀNG SA (19-1-1974)

Ngay từ thời thượng cổ , người Hán đã kính nể dân Việt vì ‘ họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, láy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Ðến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù ‘.Bởi vậy suốt dòng lịch sử, Hải quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Ðằng Giang và sông Như Nguyệt cũng như nhiều đia danh khác như Sông Lô, Hội An, Rạch Gầm, Vàm Cỏ.. Cho nên trong Trận Hải Chiến Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974 với Trung Cộng, dù bị Hoa Kỳ phản bội và bán đứng nhưng  Hải quân VNCH  đã anh dũng chiến đấu với giặc Tàu một cách oanh liệt tới giờ phút cuối cùng được lệnh rời bỏ phòng tuyến mới chịu lui quân.             Tháng 7-1954, ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève chưa ráo mực, thì Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH, khi có lệnh tập kết. Ðể chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia . Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Ðồng văn Cống chỉ huy. Để được an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Ðại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Cá vị Chúa Nguyễn Nam Hà, Nhà Tây Sơn và Nhà Nguyễn.. nằm trong Ðông Hải.               Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Ðôn, Paris, Hoa Thịnh Ðón, Bắc Kinh... kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Ðồng lúc đó là thủ tướng,theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau ‘ Chính phủ VNDCCH, tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng’. Ngày 22-9-1958, Ðại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Ðồng ký, lên Thiên Triều.  1-QUẦN ÐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VN :               Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như Ðại Nam thực lục, Ðại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi tỉnh trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Ðình Chi, Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngại.đều đề cập tới và xác nhận đó lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite, viết năm 1701, của Ðô Ðốc Pháp tên là D’Estaing viết năm 1768 rằng :’ Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Ðại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng.’ Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Ðổ Bá tự Công Ðạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng :’ Ðảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Ðại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Ðàng Trong, cho Hải Ðội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú.’ Năm 1776, trong tác phẩm ‘ Phủ Biên tạp lục’, Lê Quý Ðôn đã viết một cách rõ ràng :’ Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Ðội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.’               Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai quần đảo trên nằm ngoài khơi Ðông Hải : Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Ðảo.  * QUẦN ÐẢO HOÀNG SA:               Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 ố 17 độ 05. Ðây là một chuổi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Ðà Nẳng, bằng tau của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là :  - NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT):             gồm các đảo Cam Tuyền hay Hửu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích om2032, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ , tuyệt nhiên không có bóng người. Ðảo Quang Hòa Ðông (Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là mơi trú ngụ của chim hải âu. Ðảo Quang Hòa Tây (Palon Island) , hình tròn, diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát , đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Ðảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Ðệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn cò hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chử Hán.                         Trong số này quan trong nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Ðảo nay đã được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công trình kiến trúc như Ðồn quân trú phòng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Ðảo và do một Trung đội Ðịa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.               Ðảo Vỉnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0, 50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.               Ðảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Ðài Loan cưởng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.  - NHÓM TUYÊN ÐỨC (AMPHITRITE):              Cũng bị Ðài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ , trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island) , dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Ðài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Ðây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.  * QUẦN ÐẢO TRƯỜNG SA:             Gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của cac nước VN, Phi Luật Tân, Srawak(Brunei) Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley) , dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Ðảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam. * TRUNG CỘNG CƯỚP CHIẾM HOÀNG SA *               Thật sự người Tàu chỉ chú ý tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN từ đầu thế kỷ XX vì dầu hỏa, khí đốt và vị trí chiến lược của hai đảo trên. Sự tranh dành cướp chiếm bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô hộ, vì mất chủ quyền nên không vòm binh lực để bảo vệ lãnh thổ riêng của mình.               - 1907 Tổng đốc Quảng Châu đòi chủ quyền trên đảo Hoàng Sa.             - 1909 Hải quân Nhà Thanh tới Hoàng Sa hai lần, cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát đạn đại bác để thị oai.             -Ngày 30-4-1921 chính quyền Quảng Ðông, ký văn thư số 831 tự động sáp nhập quần đảo Hoàng Sa của VN vào đảo Hải Nam nhưng đã bị Triều đình Huế phản đối dữ dội vào năm 1923.             - Năm 1933 , Pháp vì bị báo chí trong nước phản đối dữ dội, nên đã đem hải quân ra đánh đuổi quân Tàu, chiếm lại quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh, cầu tàu, đài khí tượng trên hai đảo chính Hoàng Sa, Trường Sa.             - Tháng 12/1946 Ðài Loan lợi dụng việc giải giới Nhật, đã chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm Tuyên Ðức trong quần đao Hoàng Sa. Ðảo này lại lọt vào Trung Cộng khi Mao Trạch Ðông chiếm lục địa Trung Hoa.             - Ngày 4/12/1950 Chu Ân Lai lớn tiếng đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN.             - Năm 1956 Trung Cộng lén lút chiếm thêm đảo Linh Côn trong quần đảo Hoàng Sa, đang thuộc chủ quyền VNCH.             - Ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với sự trợ chiến của Tiểu đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến , đã đánh Tàu Cộng , chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa trong nhóm Nguyệt Thiềm, bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh nguy trang tàu đánh cá. Ngày 27/2/1959 Trung Cộng sau khi thua trận, đã ra thông cáo mạt sát Chính phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, vì chính Hô Chí Minh cũng như Pham văn Ðồng đã chính thức xác nhận bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua tên Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của Trung Hoa. Tuy nhiên để giữ hòa khí giữa hai nước, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã thả hết số tù binh trên về nước.               Từ ngày 4-9-1958, Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý. Bản tuyên cáo này chỉ có Bắc Hàn công nhận đầu tiên. Tại Bắc Việt, Hồ Chí Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh cho Phạm Văn Ðồng , ký nghị định công nhận ngày 14-9-1958. Ngày 9-1-1974, Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch Ðông, được cho coi văn kiện mà Phạm Văn Ðồng đã ký xác nhận , hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH, chính là hai đảo Tây Sa-Nam Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo lãnh hải 12 hải lý, thì chính VNCH đã chiếm đất của Trung Cộng, từ năm 1958, do VC làm chứng và xác nhận. Ðược cơ hội vàng ròng, tên cáo già Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh VNCH, đề thu hồi lãnh thổ.               Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ) , phân thành 5 vùng duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Ðể bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, Hải quân đã thành lập 4 Lực lượng dặc nhiệm hành quân lưu động, gồm LL tuần thám 212, LL thủy bộ 211, LL trung ương 214 và LL đặc nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực lượng Duyên phòng 213, Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Ðề đốc Trần Văn Chơn là tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Ðông Nam Á.                Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lỏa của Việt Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Ðông Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hảng dầu thăm dò cho biết vùng này có trử lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa , gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.               Quần đảo Hoàng Sa thời Ðệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.  2- HẢI CHIẾN HOÀNG SA GIỮA HẢI QUÂN VNCH VÀ TRUNG CỘNG:               Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16  Lý Thường Kiệt, khởi hành từ Ðà Nẳng với công tác chuyển vận Ðơn vị Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Quảng Nam , ra Hoàng Sa hoán đổi định kỳ. Trong chuyến công tác trên, còn có một Phái đoàn khảo sát điạ chất , gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra còn có một người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật. Trước khi vào đảo đổi quân, tàu HQ.16 đã vòng các đảo để kiểm soát, nên đã phát hiện được nhiều tàu chiến của Trung Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong lúc đó còn có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú Lâm, tiến về các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và Hoàng Sa.Do tình hình quá khẩn cấp, nên HQ.16 đã báo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến thuật, nên được tăng cường thêm các Chiến hạm như Khu trục hạm Trần Khánh Dư, Tuần dương hạm Trần Bình Trọng và Hộ tống hạm Nhật Tảo. Tuy nhiên tất cả đã được lệnh Trung ương, chỉ phòng thủ không được tấn công trước khi địch chưa khai hỏa.               Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm : Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Ðại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Ðại Tá Quan Ðức. Ðây cũng là Soái hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Ðô Ðốc Phương Quang Kính, cũng là Phó tư lệnh của Hạm Ðội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Ðề Ðốc, 4 Ðại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Ðại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Ðỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh. Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Ðại. Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Ta Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm , trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Ðội Nam Hải, tổng chỉ huy.               Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng , Hạm trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị,, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Ðoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn... Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4,5 và 16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Ðà Nẳng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm                Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940 loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974  được coi là tối tân nhất , vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gở bỏ , khi cho VNCH. Nhưng dù quân lực Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu,, cũng không thèm cứu vét, theo đúng luật hàng hải quốc tế.               Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH , đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Ðà Nẳng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến đấu vời hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên dảo Hải Nam tới yểm trợ.             Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Ðông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà,tốt nghiệp khóa 12 sĩ quan hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho Hạm Phó  là Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Ðéc, Tốt nghiệp khóa 17 sĩ quan hải quân/Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.               Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải Ðội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.               Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì Hoàng Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội DQP.Quảng Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Ðây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, anh hùng Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Ðông Dương đang có mặt tại Hồng Kông vào năm 1924.               Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Ðông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng , tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.               Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng , không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm : Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ , 1 Tuần Dương Hạm củ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.               Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải quân/VNCH năm nào, đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có ‘ Nam quốc sơn hà, nam đế cư ‘ nhưng ngày nay đã bị CSVN hũy diệt gần như tận tuyệt từ đất liền ra tới biển đảo !   Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di Đêm 19-1-2013MƯỜNG GIANG (*) Danh sách được cập nhật bởi BBT/TTĐQ: 1. HQ.Th/Tá: Ngụy Văn Thà 2. HQ.Đ/Úy: Nguyễn Thành Trí 3. ThS.1/TP: Châu 4. TS /QK: Nguyễn Văn Tuấn 5. TS /GL: Vương Thương 6. TS /TP: Võ Văn Nam 7. TS /VCh: Phan Ngọc Đa 8. ThS ĐT: Trần VănThọ 9. TT ĐT: Thanh 10. HQ.Tr/Úy: Vũ Văn Bang 11. HQ.Tr/Úy: Phạm Văn Đồng 12. HQ.Tr/Úy: Huỳnh Duy Thạch 13. HQ.Tr/Úy: Ngô Chí Thành 14. HQ.Tr/Úy: Vũ Đình Huân 15. THS.1/CK: Phan Tân Liêng 16. THS.1/ĐK: Võ Thế Kiệt 17. THS. /VC: Hoàng Ngọc Lê 18. TRS.1/VT: Phan Tiến Chung 19. TRS. /TP: Huỳnh Kim Sang 20. TRS. /TX: Lê Anh Dũng 21. TRS. /ĐK: Lai Viết Luận 22. TRS. /VC: Ngô Tấn Sơn 23. TRS. /GL: Ngô Văn Ơn 24. TRS. /TP: Nguyễn Thành Trong 25. TRS. /TP: Nguyễn Vinh Xuân 26. TRS. /CK: Phạm Văn Quý 27. TRS. /CK: Nguyễn Tấn Sĩ 28. TRS. /CK: Trần Văn Ba 29. TRS. /ĐT: Nguyễn Quang Xuân 30. TRS. /BT: Trần Văn Đàm 31. HS.1 /VC: Lê Văn Tây 32. HS.1 /VC: Lương Thành Thu 33. HS.1 /TP: Nguyễn Quang Mén 34. HS.1 /VC: Ngô Sáu 35. HS.1 /CK: Đinh Hoàng Mai 36. HS.1 /CK: Trần Văn Mông 37. HS.1 /DV: Trần Văn Định 38. HS /VC: Trương Hồng Đào 39. HS /VC: Huỳnh Công Trứ 40. HS /GL: Nguyễn Xuân Cường 41. HS /GL: Nguyễn Văn Hoàng 42. HS /TP: Phan Văn Hùng 43. HS /TP: Nguyễn Văn Thân 44. HS /TP: Nguyễn Văn Lợi 45. HS /CK: Trần Văn Bây 46. HS /CK: Nguyễn Văn Đông 47. HS /PT: Trần Văn Thêm 48. HS /CK: Phạm Văn Ba 49. HS /DK: Nguyễn Ngọc Hoà 50. HS /DK: Trần Văn Cường 51. HS./PT: Nguyễn Văn Phương 52. HS /PT: Phan Văn Thép 53. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Nghĩa 54. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Đức 55. TT.1 /TP: Thi Văn Sinh 56. TT.1 /TP: Lý Phùng Quý 57. TT.1 /VT: Phạm Văn Thu 58. TT.1./PT: Nguyễn Hữu Phương 59. TT.1 /TX: Phạm Văn Lèo 60. TT.1 /CK: Dương VănLợi 61. TT.1 /CK: Châu Tuỳ Tuấn 62. TT.1 /DT: Đinh Văn Thục HQ. 4: HQ Th/Úy: Nguyễn Phúc Xá, Tr. Khẩu 20 HS1/VC: Bùi Quốc Danh, Xạ Thủ Biệt-Hải: Nguyễn Văn Vượng Xung Phong Tiếp Đạn HQ.: HQ Tr/Úy: Nguyễn Văn Đồng ThS/ĐT: Nguyễn Phú Hào TS1TP: Nguyễn Đình Quang HQ.16: TS/ĐK: Xuân HS/QK: Nguyễn Văn Duyên Người-Nhái: Tr/Úy NN: LêVăn Đơn Tr. Toán HS/NN: Đỗ Văn Long TS/NN: Đinh Hữu Từ  
......

Tưởng Niệm 39 Năm Trận Chiến Bảo Vệ Hoàng Sa

Hà Nội, ngày 18 tháng 1 năm 2013 THƯ GỬI BÀ HUỲNH THỊ SINH    Kính gửi:  Bà quả phụ Huỳnh Thị Sinh, vợ cố Trung tá Ngụy Văn Thà;    Bà quả phụ Huỳnh Thị Sinh Thưa Bà; Chúng tôi những người con nước Việt, trong những ngày này, lòng đang hướng về Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của Tổ quốc xin gửi đến Bà cùng gia đình lời thăm hỏi ân cần và lời chúc an lành, hạnh phúc! Cách đây 39 năm, ngày 19/1/1974, trong một cuộc chiến không cân sức với quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa, Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng Chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 đã tử trận cùng 73 đồng đội của Ông. Từ đó, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay quân xâm lược. Chúng tôi vô cùng xúc động trước sự hy sinh anh dũng của Ông nhà. Ông đã hiến thân vì Tổ quốc - một sự hy sinh vẻ vang nhất, hơn bất cứ một sự hy sinh nào. Sự hy sinh ấy là một tấm gương cho các thế hệ sau noi theo trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của người Việt Nam. Thưa Bà; Chúng tôi rất vui vì những năm gần đây, sự kiện Hoàng Sa được nhắc lại và lần đầu tiên, nhiều người mới biết đến. Các giá trị dần dần được trả lại đúng bản chất của nó. Ngày 24/7/2011, một cuộc biểu tình tại Hà Nội đã tôn vinh Ông nhà cùng những chiến sĩ đã ngã xuống Hoàng Sa và những chiến sĩ đã ngã xuống Trường Sa 14 năm sau đó. Ngày 27/7/2011, Lễ tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc đã được tổ chức tại Sài Gòn mà bà là nhân vật được mời dự. Buổi lễ đã tri ân tất cả các chiến sĩ hy sinh trong các cuộc chiến chống xâm lược tại biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, tại Hoàng Sa và Trường Sa. Bà quả phụ Nguỵ Văn Thà trong một hội thảo về Biển Đông tại Sài Gòn 2011 Những người đã ngã xuống vì Tổ Quốc đều chung trong người dòng máu Lạc Hồng, không có lý do nào để phân biệt người của chế độ này hay chế độ khác. Chúng tôi tin rằng sớm muộn rồi Tổ Quốc sẽ vinh danh xứng đáng Ông nhà cùng đồng đội của Ông đã ngã xuống trong cuộc Hải chiến Hoàng Sa. Trung tá Ngụy Văn Thà và nhiều đồng đội của Ông còn nằm lại nơi biển cả. Nhưng dù sao, Ông và đồng đội vẫn được nằm trong lòng Đất Mẹ, dù nơi ấy đang bị kẻ thù chiếm đóng. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và hạm Nhật Tảo Trong ngày giỗ của Ông, chúng tôi sẽ hướng về Biển Đông cầu mong cho linh hồn Ông cùng đồng đội được siêu thoát, để bày tỏ lòng tri ân những người đã ngã xuống trong cuộc Hải chiến Hoàng Sa. Dù đảo không giữ nổi nhưng dân tộc ta, đời này và các đời sau sẽ tìm mọi cách lấy lại quần đảo Hoàng Sa, thu hồi về với đất Mẹ thân yêu. Thưa Bà; Chúng tôi được biết sau khi Ông nhà mất đi, dù tuổi đời còn rất trẻ, bà đã ở vậy nuôi ba con gái, cuộc sống của Bà hiện còn nhiều khó khăn. Lại nghe nói căn nhà chung cư nơi Bà ở đã phá đi làm lại, không biết bây giờ thế nào. Nhưng dù sao, chúng tôi luôn mong Bà sống thanh thản. Bà hãy tự hào vì Bà là vợ của một người anh hùng. Ký lá thư này là những người yêu Tổ Quốc Việt Nam, yêu đồng bào Việt Nam đến cháy bỏng, trong đó có cả những người lính từng là những người khác chiến tuyến với Ông nhà lúc sinh thời. Nhưng tất cả những người lính chỉ đơn thuần làm nghĩa vụ công dân trong chế độ mà họ sống, dù bên này hay bên kia trong giai đoạn đau thương của lịch sử dân tộc không bao giờ có lỗi và giờ đây, khi ngộ ra, họ không coi những người ở bên kia chiến tuyến là kẻ thù. Kính chúc Bà sang năm mới bình an, có nhiều sức khỏe để làm những việc hữu ích phụng sự cho Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi nhờ Bà chuyển lời thăm hỏi, lời chúc mừng năm mới đến ba con gái của Bà, do sự hiến thân cao cả của Ông nhà mà sớm mồ côi cha. Xin cùng Bà hô lên một câu khẩu hiệu mà chúng tôi từng hô trên đường phố Hà Nội trong ngày 24/7/2011: NGỤY VĂN THÀ BẤT DIỆT! Kính thư http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article11330 Chúng tôi đồng ký tên: Nghiêm Ngọc Trai Nguyễn Tường Thụy Phan Trọng Khang Phạm Thị Lân Nguyễn Thị Dương Hà Hoàng Cường – Hà Nội Hoàng Hà – Thanh Xuân – Hà Nội Văn Dũng – Việt Trì – Phú Thọ Ngô Duy Quyền – Hà Nội Trương Văn Dũng – Hà Nội Nguyễn Lân Thắng – Hà Nội Lê Thị Bích Vượng – Hà Nội Lã Việt Dũng – Hà Nội Nguyễn Thành Tiến – Hải Phòng Đặng Bích Phượng – Hà Nội Nguyễn Xuân Diện – Hà Nội Phạm Quỳnh Hương – Hà Nội Nguyễn Thúy Hạnh – Hà Nội   Cùng các vị có tên sau đã hiệp ý cùng chúng tôi, ký tên qua thư điện tử         Trần Vinh Hoàng Mai - Hà Nội   Huỳnh Công Thuận Tp Hồ Chí Minh   Lê Hồng Hà Washington - Hoa Kỳ   Ngô Hoàng Hưng Gò Vấp - Tp Hồ Chí Minh   Anna Nguyễn Illinois - Hoa Kỳ   Nguyễn Văn Phúc Tây Sơn - Bình Định   Vũ Ngọc Thắng An Dương - Hải Phòng   Nguyễn Thanh Hưng Cầu Giấy - Hà Nội   Trần Hoàng Tuấn Gò Vấp - Tp Hồ Chí Minh   Lê Chí Thành Thanh Xuân - Hà Nội   Nguyễn Văn Thuận Hoàng Mai - Hà Nội   Trần Thị Nga Phủ Lý - Hà Nam   Nguyễn Trường Sơn Thanh Xuân - Hà Nội   Paul Đỗ Trí Lâm Đồng   Vũ Đình Quý Kiến Xương - Thái Bình   Lê Thị Thu Trà Hai Bà Trưng - Hà Nội   Nguyễn Trọng Thu Windsor - Canada   Nguyễn Thế Anh Từ Liêm - Hà Nội   Nguyễn Công Chính Tp Hồ Chí Minh   Nguyễn Tiến Dũng Vinh - Nghệ An   Trần Phong California - Hoa Kỳ   Trần Helen California - Hoa Kỳ   Trần Cindy California - Hoa Kỳ   Trần Christine California - Hoa Kỳ   Trương Quốc Dũng Tân Bình - Tp Hồ Chí Minh   Nguyễn Quang Duy Melbourne - Australia   Phạm Anh Tuấn Pleiku - Gia Lai   Phạm Duy Hiển Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu   Đặng Đinh Tấn Trương Tp Hồ Chí Minh   Phan Anh Khoa Phú Vang - Thừa Thiên Huế   Nguyễn Ngọc Yến Hoàng Mai - Hà Nội   Nguyễn Duy Anh Hai Bà Trưng - Hà Nội   Huỳnh Nguyễn Đạo Bangkok - Thái Lan   Nguyễn Đức Sắc Tây Hồ - Hà Nội   Hồ Đặng Vũ Thi Gò Vấp - Tp Hồ Chí Minh   Bùi Thị Quyên Tân Phú - Tp Hồ Chí Minh   Nguyễn Văn Diễn Việt Yên - Bắc Giang        Lá thư đã được gửi qua đường bưu điện phát chuyển nhanh và dự kiến hôm nay sẽ tới tay bà quả phụ Ngụy Văn Thà. http://xuandienhannom.blogspot.fr/2013/01/1912013-thu-gui-ba-qua-phu-nguy-van-tha.html  
......

Tuyên Cáo Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức

Tuyên Cáo Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức Về việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt giữ và kết án những thanh niên Công Giáo và Tin Lành. Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức cực lực phản đối và lên án trước cộng đồng thế giới về hành vi của Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã bắt giữ và kết án những thanh niên Công Giáo và Tin Lành. Việc bắt giữ và kết án những thanh niên có tên dưới đây: 1. Anh Đặng Xuân Diệu 2. Anh Hồ Đức Hòa 3. Anh Lê Văn Sơn 4. Chị Nguyễn Đặng Minh Mẫn 5. Anh Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc 6. Anh Nguyễn Văn Duyệt 7. Anh Nông Hùng Anh 8. Anh Nguyễn Văn Oai 9. Anh Chu Mạnh Sơn 10. Anh Đậu Văn Dương 11. Anh Trần Hữu Đức 12. Anh Nguyễn Xuân Anh 13. Anh Hồ Văn Oanh 14. Anh Thái Văn Dung 15. Anh Trần Minh Nhật 16. Anh Nguyễn Đình Cương 17. Nguyễn Hoàng Phong 18. Chị Đặng Ngọc Minh là vi phạm quyền Tự Do Tôn Giáo, Tự Do Ngôn Luận, trái hiến pháp Việt Nam và đi ngược công pháp quốc tế. Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam: 1. Lập tức thả những thanh niên nói trên đã bị bắt giữ và kết án bất công. 2. Tôn trọng Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đức-quốc 16.01.2013 http://ldcg.de/index.php?option=com_content&task=view&id=4740&Itemid=278
......

Nghệ sĩ Kim Chi từ chối lời khen của thủ tướng.

Nghệ sỹ Kim Chi, người từng tham gia nhiều phim lớn của điện ảnh cách mạng Việt Nam, vừa từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng Việt Nam do Hội Điện ảnh Việt Nam gợi ý, vì cho rằng không muốn trong nhà có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm. Diễn viên điện ảnh Kim Chi nói thủ tướng đã làm bà mất lòng tin, và là công dân thì "có quyền thích hay không thích, mà không thích thì không nhận".   Giải thích về những điều thủ tướng làm khiến bà không hài lòng, bà nói: “thế giới và mọi nơi đều phản đối một số việc và cách thủ tướng điều hành”. “Đối với tôi, ai làm lãnh đạo mà làm cho đất nước giàu, nhân dân sung sướng thì tôi quý trọng, còn ai không làm được điều đó thì tôi không thích, không quý trọng, khen tôi tôi thấy không sung sướng.”   Khi được hỏi liệu bà có sợ bị ảnh hưởng tới bản thân khi đưa ra lá thư này, bà nói, thậm chí cả khi người ta tạo ra những tai nạn để bà "chết" đi nữa, thì điều đó cũng không đáng sợ vì “tôi sống ngay thẳng, sống cho tử tế”. “Tôi có thể không tin cá nhân ông thủ tướng nhưng mà tôi tin cái chung, còn nhiều cái điều tốt đẹp.”   Bà Kim Chi nói có biết được nhiều trường hợp bị bắt, bị tù khi “nói tiếng nói khác”, “nhưng đó là những tiếng nói bảo vệ chính nghĩa”, mà đã là nghệ sỹ dù làm gì cũng nên hướng về điều thiện. "Là người có chức, có quyền thì lại càng phải sống ngay thẳng, mẫu mực, chứ làm khổ dân là người có tội." Nghệ sỹ Kim Chi (trái) và các văn công Diễn viên Kim Chi của bộ phim nhiều tập Những đứa con của Biệt Động Sài Gòn nói từng đi chiến trường 10 năm, “không sợ chết với bom đạn” thì bây giờ coi mọi cái “nhẹ như lông hồng”.  
......

Những dự đoán thú vị cho tương lai thế giới trước năm 2030

Theo website NextBigFuture và ilookforward chuyên về phân tích sự phát triển của khoa học công nghệ và căn cứ vào những bước tiến của con người trong thời điểm hiện tại đã đưa ra được 11 tiên đoán thú vị về tương lai của thế giới đến năm 2030. 1. Đến năm 2030, việc học ngoại ngữ sẽ không còn cần thiết nữa Với sự trợ giúp của một máy tính tí hon lắp vừa vặn trong tai bạn và dịch những gì bạn nghe thấy bằng tiếng mẹ đẻ của bạn. Điều này không hề siêu tưởng. Trên thực tế, tất cả những công nghệ cần thiết hiện nay đều có và chỉ việc duy nhất cần phải làm là gắn vào tai và sử dụng. Google đang nỗ lực rất nhiều để phát triển công nghệ dịch giọng nói thời gian thực và các màn hình hiển thị có thể cung cấp đầy đủ những thông tin cho người dùng. Vấn đề quan trọng nhất ở đây là phải xác định được mức độ khả thi của ý tưởng. Tiêu chuẩn vàng của công nghệ này là chúng có thể thay thế được các phiên dịch viên của Liên hợp quốc hayits ra cũng bổ sung thêm các phiên dịch viên cho tổ chức này. 2. Đến năm 2030, hàng ngàn, thậm chí là hàng triệu người sẽ có tuổi thọ là 150 năm Aubrey de Grey, chuyên gia nghiên cứu về lão khoa người Anh, cho biết họ đang nghiên cứu phát triển và có 50% cơ hội sản xuất được một loại biệt dược có khả năng giúp con người sống thọ đến 200 tuổi trong khoảng từ năm 2030 đến 2040. Giả sử mục tiêu ấy là có thể đạt được nhưng mức tuổi thọ 200 tuổi có lẽ phải chờ đến khoảng năm 2140 đến 2150. Hiện nay mức tuổi thọ cao nhất trung bình từ 85 đến 90. 3. Đến năm 2030, chỉ còn 2% dân số thế giới sống trong điều kiện cực kỳ đói nghèo Xóa bỏ tình trạng đói nghèo đang là vấn đề quan tâm trên toàn thế giới và của mỗi quốc gia. Vào thời điểm năm 1990, 42% dân số thế giới sống dưới mức 1,25 USD một ngày. Năm 2005, tỉ lệ đó giảm xuống còn 25%. Liên Hợp quốc ước tính đến năm 2020, sẽ chỉ còn 10% dân số thế giới sống trong tình trạng rất nghèo đói. Đến năm 2030 sẽ chỉ còn 2% tức là cứ mỗi 50 người thì có 2 người sống trong tình cảnh đói nghèo. Tuy nhiên mục tiêu này rất khó thực hiện vì hiện trên thế giới vẫn còn khoảng 160 triệu người đang phải sống trong những nơi vô cùng tồi tệ chỉ với 1,25 USD mỗi ngày. 4. Đến năm 2030, cây lương thực tốt nhất sẽ được trồng trong những tòa nhà chọc trời Nền nông nghiệp dựa vào đất đai sẽ trở nên lạc hậu. Một cuộc cách mạng nông nghiệp đang được thực hiện bằng ý tưởng của tiến sĩ Dickson Despommier đến từ Đại học Columbia. Kế hoạch của ông là xây dựng cac nhà kính cao 30 tầng trong các thành phố trên thế giới, cho phép sản xuất nhiều lương thực hơn với chi phí thấp hơn, có lợi cho sức khỏe hơn, giải phóng đất trồng trọt cho tự nhiên. Tất nhiên, sẽ có những nhà kính chọc trời để phát triển nông nghiệp nhưng chúng sẽ không chiếm quá 1% hoạt động sản xuất nông nghiệp thế giới. Nó sẽ chỉ phù hợp cho phần lớn là các nhà hàng cao cấp có nhu cầu thực phẩm tươi và các cửa hàng thực phẩm sang trọng. 5. Đến năm 2030, xe hơi không người lái sẽ là chuyện xưa như diễm Đó là điều hoàn toàn có thể chứ. Bạn hãy tưởng tượng mình bước vào trong xe, quăng đôi giày sang một chỗ, ngồi dựa lưng vào ghế và thưởng thức một bộ phim hay với một cốc bia mát lạnh trong khi chiếc xe tự lái đưa bạn an toàn đến nơi bạn cần đến mà không cần lo lắng về việc điều khiển hay phanh thắng. Công nghệ để tạo ra một chiếc xe như thế hiện nay chúng ta đã có. Một số lượng xe rất nhỏ như vậy đang được sử dụng tại thành phố Masdar và phi trường Heathrow. Để phát triển và đưa loại xe này vào sử dụng rộng rãi trong đời sống chúng ta cần phải giải quyết tốt các vấn đề về luật pháp, bảo hiểm và các vấn đề xã hội khác. 6. Đến năm 2030, sẽ có 18 thành phố trên thế giới có dân số trên 20 triệu người, New York sẽ là thành phố lớn thứ 16 thế giới. Mặc dù dân số toàn cầu đang tăng lên với tốc độ nhanh chóng, các thành phố trên thế giới cũng có tỉ lệ tăng trưởng cao hơn bao giờ hết. Hiên tại có 50% dân số thế giới sống ở những vùng đô thị, nhưng đến năm 2030 con số đó sẽ tăng lên 60%. Và 93% dân số thành thị sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển. Con số thành phố đông dân như vậy có lẽ sẽ cao hơn nhưng hẳn không phải là mục tiêu thú vị cho bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là vấn đề quản lý và môi trường. 7. Đến năm 2030, máy bay không người lái sẽ vận chuyển được con người Có lẽ một tương lai không xa, việc phát triển một mạng lưới máy bay vận tải không người lái đa năng sẽ dọn đường cho khả năng xây dựng trên thực tế một mạng lưới các máy bay không người lái có thể chở người. Như đã biết, khả năng định hướng của con người trong các môi trường không gian ba chiều là rất kém, vì vậy máy bay không người lái sẽ là một lựa chọn an toàn hơn khắc phục được yếu điểm trên của con người. 8. Đến năm 2030, du lịch vũ trụ sẽ trở nên phổ biến và khoảng 40.000 người sẽ làm việc trên quỹ đạo Tập đoàn Space Island Group  (SIG) đang hợp tác với British Airways xây dựng một trạm không gian thương mại quốc tế đa mục đích. Trạm không gian này sẽ có các khách sạn, trung tâm nghiên cứu, nhà hàng và sân vận động (áp dụng cho các môn thể thao không trọng lực mới) cùng với nhiều ứng dụng khác mà hiện nay chúng ta chưa thể nghĩ tới. Nhưng SIG chỉ là một trong số ít các công ty nghiên cứu các dự án tương tự. Con số 40.000 người làm việc trên quỹ đạo vào năm 2030 không phải là điều quá nhạc nhiên nhưng nó yêu cầu rất nhiều yếu tố phải được thực hiện đồng bộ và nhịp nhàng. Công nghệ tự động hóa và điều khiển từ xa là những lĩnh vực cần tập trung. Nhưng liệu nhu cầu của những người muốn lên vũ trụ có cao đến vậy không? 9. Đến năm 2030, phần lớn diễn viên điện ảnh sẽ thất nghiệp vì sự cạnh tranh của diễn viên hoạt hình máy tính giá rẻ. Công nghệ hình ảnh máy tính (CGI) sẽ cho chúng ta khả năng tạo ra các bộ phim với các nhân vật hoạt hình rất thật đến mức khó phân biệt được với người thật. Những bộ phim tiền đề điển hình như Avatar là một ví dụ. Thêm vào đó, nhu cầu về phim ảnh từ người xem, đặc biệt từ các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Brazil sẽ đẩy mạnh tỉ lệ phim ảnh làm theo công nghệ CGI cao hơn nữa. 10. Đến năm 2030, Trung Quốc sẽ có 250 thành phố triệu dân. Hiện nay, 90% dân số ở Anh và 80% dân số ở Mỹ sống ở thành phố, trong khi ở Trung Quốc tỉ lệ đó là 46%. Anh có 5 vùng đô thị có trên 1 triệu dân; Mỹ có 37 thành phố và Trung Quốc là 90. Anh và Mỹ là những nước đã đạt ngưỡng cao nhất về mặt đô thị hóa trong khi đó Trung Quốc mới đi được nửa đường. Công ty tư vấn McKinsey dự đoán đến năm 2025 Trung Quốc 220 thành phố có trên 1 triệu dân. Một số dự đoán khác cho tỉ lệ đô thị hóa tới 80% ở nước này. 11. Đến năm 2030, một lượng lớn người trên thế giới sẽ có người yêu là robotỞ Nhật, búp bê silicon là khá phổ biến với cái tên “Những cô vợ Hà Lan” ("Dutch Wives" hay 'dattchi waifu' trong tiếng Nhật). Tên của chúng có nguồn gốc từ thuật ngữ có thể là trong tiếng Anh chỉ một loại gối bằng mây hoặc tre, được sử dụng giúp ngủ được ngon bằng cách giữ tay được đỡ trên những tấm khăn thấm mồ hôi. Thậm chí có một công ty là Doru no Mori ở Tokyo còn cho thuê búp bê tình dục và phòng với khách hàng nam giới. Vào tháng Ba năm 2007, nhật báo Mainichi Shimbun báo cáo còn có những công ty cho thuê có dịch vụ mang cả những von búp bê tình dục này đến nhà khách hàng. Thị trường trung cấp và cao cấp chuyên về búp bê tình dục ở Mỹ xuất hiện năm 1995. Thị trường này phát triển do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, khoảng 20 năm gần đây đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ các loại búp bê tình dục đời đầu và khách hàng bắt đầu nhận ra nó thông qua mạng internet. Thứ hai, phương pháp mua bán lẻ cũng phát triển mạnh cho phép khách hàng thấy được thế nào là búp bê thật, da, tóc và thậm chí là cơ quan sinh dục rất chi tiết. Tân Vũ
......

Petition

Verbesserung der Menschenrechtssituation in Vietnam Von: Josef Bordat aus Berlin An:   Deutscher BundestagPetitionsausschuss in Deutschland   Die Bundesrepublik Deutschland möge mit allen gebotenen diplomatischen Mitteln sowohl in den bilateralen Beziehungen als auch über die Europäische Union und die Vereinten Nationen sowie ihre Unterorganisationen auf die Verbesserung der Menschenrechtssituation in der Sozialistischen Republik Vietnam einwirken. Begründung: Im Hintergrund der Petition stehen jüngste Verurteilungen katholischer Bloggerinnen und Blogger, die zeigen, dass insbesondere die Religions-, Meinungs- und Pressefreiheit in der Sozialistischen Republik Vietnam erheblich eingeschränkt sind. Seit Jahren kommt es in der Sozialistischen Republik Vietnam v. a. gegenüber katholischen Priestern und Laien zu staatlichen Repressionen, obgleich die Verfassung des Landes Glaubens- und Religionsfreiheit garantiert. Zugleich ist eine kritische Berichterstattung über die Politik der Regierung nur unter der Gefahr behördlicher Verfolgung möglich. Am 28. Dezember 2012 wurden nun die drei Dissidenten Nguyen Van Hai, Nguyen Tri Dung und Maria Ta Phong Tan in einem „show trial“ (AsiaNews) zu insgesamt 25 Jahren Haft verurteilt. Die Katholiken hatten in ihren Weblogs Korruptionsfälle der regierenden kommunistischen Partei bekannt gemacht. Nun stehen 14 weitere katholische Bloggerinnen und Blogger in Vietnam vor Gericht. Das Urteil gegen sie wird am 6. Januar 2013 erwartet. Ihnen droht für ihre „subversive Tätigkeit“ des Bloggens mit dem angeblichen Ziel, die „Herrschaft des Volkes zu stürzen“, im schlimmsten Fall die Todesstrafe. (Weitere Informationen: jobo72.wordpress.com/2013/01/03/vietnam-drei-katholische-blogger-in-haft/) Die Sozialistische Republik Vietnam hat den Internationalen Pakt über bürgerliche und politische Rechte sowie den Internationalen Pakt über wirtschaftliche, soziale und kulturelle Rechte ratifiziert und ist daher an ihre Verantwortung für die Wahrung der Menschenrechte (hier: der Religions-, Meinungs- und Pressefreiheit) zu erinnern. Es ist Aufgabe der Bundesrepublik, dies verstärkt zu tun. Dr. Josef Bordat (Berlin)   Im Namen aller Unterzeichner. Berlin, 03.01.2013 (aktiv bis 02.07.2013) Bitte unterschreiben Sie unter dem Link (xin mời vào link dưới đây để ký tên): https://www.openpetition.de/petition/online/verbesserung-der-menschenrec...  
......

44 Tướng Sĩ quân đội Đài Loan Làm Gián Điệp cho Trung Quốc

8 Thượng tướng 3 sao, 18 Trung tướng, 16 Thiếu tướng, 25 Thượng tá, 14 Trung tá, 4 Thiếu tá tham gia đường dây gián điệp của Bắc Kinh. Thời báo Hoàn Cầu ngày 1/1 dẫn nguồn tin tức tờ Apple Đài Loan cho hay, vụ Thiếu tướng La Hiền Triết, cựu Cục trưởng Thông tin bộ tư lệnh lục quân Đài Loan bị xử tù chung thân hồi năm ngoái do làm gián điệp cho Trung Quốc tưởng đã êm xuôi, nhưng gần đây lại lộ ra một bản danh sách 87 sĩ quan quân đội Đài Loan được cho là tham gia đường dây làm gián điệp cho Trung Quốc. La Hiền Triết, lon Thiếu tướng bị xử tù chung thân vì tội làm gián điệp cho Trung Quốc Đặc biệt trong số sĩ quan bị phát hiện làm gián điệp cho Trung Quốc bị phanh phui lần này có cả 2 viên quan chức cấp cao gồm Hoắc Thủ Nghiệp, Thượng tướng cấp 1 (4 sao, tương đương cấp Đại tướng) cựu Tổng tham mưu trưởng và Lâm Trấn Di, Tổng tham mưu trưởng sắp mãn nhiệm, lon Thượng tướng 4 sao. Hoắc Thủ Nghiệp,cựu Tổng tham mưu trưởng Đài Loan đã nghỉ hưu, lon Thượng tướng 4 sao Trước đó, giới chức Đài Loan ra thông báo, bắt đầu từ ngày 1/1/2013 sẽ bắt đầu điều chỉnh cơ cấu nhân sự Bộ Quốc phòng Đài Loan theo hướng tinh giản, trong đó hạ cấp quân hàm của ghế Tổng tham mưu trưởng từ Thượng tướng 4 sao xuống Thượng tướng 3 sao, vì vậy Lâm Trấn Di được cho là sắp nghỉ hưu và quân đội Đài Loan đang chuẩn bị nhân sự thay thế. Lâm Chấn Di, lon Thượng tướng 4 sao, Tổng tham mưu trưởng quân đội Đài Loan từ 2/2/2009 và chuẩn bị nghỉ Theo danh sách của tờ Apple Đài Loan tiết lộ, trong số 87 sĩ quan làm gián điệp cho Trung Quốc, ngoài 2 viên quan chức cấp cao nói trên còn có 8 Thượng tướng 3 sao, 18 Trung tướng, 16 Thiếu tướng, 25 Thượng tá, 14 Trung tá, 4 Thiếu tá tham gia đường dây gián điệp của Bắc Kinh. Trình Nhân Hoằng, một quan chức thuộc Ủy ban Giám sát Đài Loan nhận định, đây là vụ trọng án gián điệp lớn nhất, số lượng nhiều nhất, chức vụ cao nhất trong lịch sử. Trong số quan chức, tướng tá Đài Loan bị phát hiện lần này có 4 người bị coi phạm tội nghiêm trọng nhất, gồm Kim Nãi Kiệt, lon Trung tướng, cựu Cục trưởng Cục Tình báo Bộ Tổng tham mưu, Hác Bảo Tài, Phó cục trưởng Cục Tình báo, Triệu Thế Chương và Dương Thiên Tiếu, lon Thượng tướng, cựu Tư lệnh Lục quân Đài Loan. Trình Nhân Hoằng và Triệu Xương Bình, 2 quan chức thuộc Ủy ban Giám sát Đài Loan phụ trách vụ trọng án này cho biết, do tính chất vụ án gián điệp đặc biệt nghiêm trọng, liên quan tới “bí mật quốc gia” nên không thể cung cấp các thông tin chi tiết cho báo chí.
......

Khôi nguyên Phạm Minh Hoàng nói về giải Hellman/Hammett

VRNs (04.01.2013) – Sài Gòn – Nhân sự kiện giảng viên Phạm Minh Hoàng là 1 trong 5 người, đang sống tại Việt Nam, được nhận giải thưởng Hellman/Hammett của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch, mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn sau giữa Thomas Việt, VRNs với giảng viên Phạm Minh Hoàng. Thomas Việt: Chào giảng viên Phạm Minh Hoàng, được biết Ông là 1 trong 5 người được nhận giải Hellman/Hammett từ tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch vào ngày 20.12.2012 vừa qua. Cảm nghĩ của Ông khi được trao giải Hellman/Hammett này là như thế nào thưa Ông? Phạm Minh Hoàng: Tôi rất là ngạc nhiên, vì sự đóng góp của tôi để có giải thưởng này là khiêm tốn, vì trong đất nước chúng ta còn rất là nhiều người đã và đang đóng góp hay hy sinh nhiều hơn tôi. Tôi đã từng liên hệ với người đại diện của tổ chức này, họ đánh giá theo tiêu chuẩn của họ như người đó từng viết blog, và đang gặp khó khăn, đúng là hoàn cảnh của tôi. Và thứ hai nữa là nội chuyện tôi rời khỏi nước Pháp, nơi mà đời sống an lành và dễ dãi hơn ở đây. Về Việt Nam chấp nhận đời sống khó khăn, đồng lương thì khiêm tốn. Cảm nghĩ thứ hai là tôi rất vinh dự, vì được một tổ chức uy tín như Human Rights Watch xếp chung tôi vào hàng ngũ những người như anh Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Huỳnh Thục Vy… Có những người đang bị tù đày… Thomas Việt: Ông có thể cho biết những việc làm của chính Ông cho sinh viên, môi trường và xã hội Việt Nam qua những bài viết, việc dạy học và các lớp học kỹ năng mềm là như thế nào để từ đó ông bị giam cầm cả năm rồi sau 2 lần ra tòa và giờ còn đang phải thụ án tù giam tại gia (tù treo) thưa Ông? Phạm Minh Hoàng: Tôi viết còn từ thời sinh viên tại Pháp và tiếp tục viết khi về Việt Nam, tổng cộng là 33 bài. Những bài này nói lên ưu tư của người Việt Nam hiện thời, về những vấn đề như văn hóa, môi sinh, giáo dục, lao động, kể cả chính trị và thời sự. 33 bài này cùng một câu kết luận là chúng ta phải dân chủ, đất nước phải dân chủ, chế độ phải dân chủ thì đất nước chúng ta mới có cơ hội thăng tiến. Riêng về các lớp kỹ năng mềm, đây là xuất phát từ ưu tư của tôi khi đứng trên giảng đường, vì kỹ sư Việt Nam nói về kiến thức hàn lâm thì đủ nhưng những kỹ năng để đối phó với môi trương làm việc thì quả thật là thiếu. Những kỹ năng đó là họp nhóm, sinh hoạt nhóm, giải quyết xung đột …  Thomas Việt: Một trong những lý do chính mà nhà cầm quyền Việt Nam giam cầm và bỏ tù Ông vì họ nói Ông có tham gia đảng Việt Tân. Tâm tình của một giảng viên song tịch Pháp Việt đã từng hoạt động trong một đảng phái không cộng sản là như thế nào thưa Ông?  Phạm Minh Hoàng: Trước khi tôi là đảng viên Việt Tân, tôi là người Việt Nam, nên tôi phải ưu tư đến những vấn đề đe dọa đến vận mệnh đất nước. Nhưng chúng ta không thể suy nghĩ và làm việc một mình, mà phải cùng chung lưng đấu cật với những người khác. Từ khi còn ở Pháp tôi đã tiếp xúc với những tổ chức và đảng phái khác nhau, tôi thấy ở Việt Tân những con người, những suy nghĩ và chủ trương đúng với suy nghĩ và nhận thức của tôi. Chủ trương của họ là đấu tranh cho một nước Việt Nam dân chủ, nhân quyền thật sự bằng việc đấu tránh bất bạo động …  Thomas Việt: Như Ông nhà cầm quyền Việt Nam chuẩn bị đưa những thanh niên Công Giáo và Tin Lành ra xét xử với tội danh chính là nói họ có tham gia đảng phái không cộng sản. Ông đã và đang là nạn nhân của những điều luật 79 và 88, những điều luật vi phạm công ước Quốc Tế về nhân Quyền và thậm chí vi phạm chính Hiến Pháp của cộng sản Việt Nam năm 1992 về tự do ngôn luận, Ông có thể nói gì về những nạn nhân này, thưa Ông? Phạm Minh Hoàng: Tôi nhận định đây là những người yêu nước, đây là những bản án khá nặng. Những chứng kiến của tôi và những người này có thể làm cho những ai đó không đồng ý. Tuy nhiên lãnh đạo của đất nước phải lắng nghe thay vì bắt bớ và tù đày… Vì họ thích khen hơn là phê bình….  Thomas Việt: Ông có thể cho biết sinh hoạt và đời sống hiện thời của ông là như thế nào sau khi ông ra khỏi tù giam và hiện đang phải chịu án treo, thưa giảng viên Phạm Minh Hoàng? Phạm Minh Hoàng: Sau khi ra tù giam gần 1 năm nay, đi đâu cũng phải xin phép. Đi xa thì xin phép bằng giấy, đi gần như đi dâng lễ ở Chúa Cứu Thế thì nói miệng. Nhưng có lúc cho lúc không. Có làm đơn đưa gia đình đi Nha Trang nhưng không được chấp nhận. Cuối tháng qua xin đi dâng lễ Công Lý Hòa Bình ở Chúa Cứu Thế thì bị khuyến cáo, tức không đồng ý cho đi. Làm 11 đơn gửi đến các trường đại học có chuyên ngành toán ứng dụng thì chỉ có 2 trường trả lời và nói là không nhận… Thomas Việt: Cảm ơn giảng viên Phạm Minh Hoàng. Chúc bình an Thomas Việt, VRNs Bấm vào đây để nghe âm thanh phỏng vấn.
......

Ls Lê Quốc Quân tuyệt thực trong nhà tù Hà Nội sang ngày thứ 6

Theo tin Nữ Vương Công Lý nhận được từ người nhà Ls Lê Quốc Quân, kể từ khi bị bắt, Ls Lê Quốc Quân đã tuyệt thực để phản đối hành vi đối xử của cơ quan Công an đối với cá nhân và gia đình anh. Cuộc tuyệt thực đã bước sang ngày thứ 6, hiện nay tình hình sức khỏe của Ls Lê Quốc Quân đang suy yếu nghiêm trọng. Cuộc tuyệt thực của ls Lê Quốc Quân bắt đầu ngay từ khi bị bắt vào nhà tù, ông đã phản đối cách hành xử đối với ông của nhà cầm quyền Hà Nội. Đến nay, đã 6 ngày trôi qua, thể trạng Ls Lê Quốc Quân rất yếu, nhất là trong thời tiết mùa đông lạnh lẽo ở Hà Nội dịp này. Cách đây vài hôm, gia đình đã phải xin tiếp tế cho ông tại Trại giam Số 1 Hà Nội, nhưng tất cả những thức ăn đưa vào kể cả cơm trại giam đều bị ông từ chối nhằm phản đối những hành xử của nhà cầm quyền đối với ông và gia đình, một trong những yêu cầu của ông là được nhận cuốn Kinh Thánh dùng cho việc suy niệm hàng ngày của một tín hữu Kito. Nhưng tất cả những đòi hỏi tối thiểu của ông đều không được đáp ứng. Như tin Nữ Vương Công Lý đã đưa, Ls Lê Quốc Quân bị bắt đi đột ngột vào sáng 2712/2012, sau đó là lệnh khám xét nhà, xét xe ô tô, mang đi nhiều vật dụng trong nhà ông. Việc khám xét tư gia đã không đúng theo luật pháp quy định. Khi vào khám nhà, có rất nhiều người lạ, mặc thường phục trà trộn vào chỉ đạo cuộc khám xét trong khi người nhà ông không hề được động tĩnh. Nữ Vương Công Lý cũng đã có bài viết phân tích về việc bắt giữ Ls Lê Quốc Quân vì mục đích nào để thấy rõ những âm mưu có thể được đưa ra thi hành với Ls Lê Quốc Quân trong vụ bắt bớ này. Ngoài ra, phía gia đình, em ruột Ls Lê Quốc Quân là Lê Đình Quản cũng đã bị An ninh chỉ đạo bắt đi trong một vụ án “Trốn thuế” khác. Đặc biệt em họ Lê Thị Kim Oanh, kế toán của công ty thuộc Lê Đình Quản đã bị công an bắt đi tại quê khi đang mang thai đến nay không có tin tức. Việc bắt một phụ nữ mang thai vào tù trong một vụ án không có tình tiết nghiêm trọng và rất không cần thiết đã gây phẫn nộ cho toàn thế nhân dân khu vực đó và những người quan tâm. Điều này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm nghiêm trọng về đạo đức, lương tâm. Nữ Vương Công Lý sẽ cập nhật tin tức về Ls Lê Quốc Quân khi có những thông tin mới 3.1.2013  Nữ Vương Công Lýhttp://www.nuvuongcongly.net/tin-tuc/lqq-tuyet-thuc/
......

Giáo xứ Vĩnh Hòa thắp nến cầu nguyện cho gia đình luật sư Giuse Lê Quốc Quân

19h00 tối ngày 01/01/2013 tại quê hương của gia đình luật sư Giuse Lê Quốc Quân, bà con giáo xứ Vĩnh Hòa, thuộc hạt Đông Tháp, giáo phận Vinh đã thắp nến cầu nguyện cho đại gia đình anh đang bị bách hại vì Công lý và Sự thật. Luật sư Giuse Lê Quốc Quân sinh ra và lớn lên tại giáo xứ Vĩnh Hòa, nơi có nhiều truyền thống tương thân tương ái tốt đẹp. Chính nơi đây đã nuôi dưỡng anh để anh lớn lên trở thành người có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của một Kitô hữu và cũng là một công dân ưu tú có nhiều đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Luật sư Lê Quốc Quân được nhiều người biết đến như là một người luôn dấn thân cho Công lý và Sự thật. Thời gian qua gia đình anh đã nhiều lần bị Công an Việt Nam sách nhiễu, gây khó khăn và áp lực lên gia đình anh. Mới đây, ngày 30 tháng 10 năm 2012, người em trai của anh là anh Lê Đình Quản, giám đốc công ty Vietnam Credit đã bị Công an thành phố Hà Nội bắt giữ sau khi đột nhập vào công ty và thu giữ nhiều tài sản của công ty anh. Anh Lê Đình Quản bị cáo buộc về tội trốn thuế! Sau đó, vào ngày 5 tháng 12 năm 2012, người em họ của anh Quân là chị Nguyễn Thị Oanh cũng đã bị lực lượng Công an trấn áp và áp giải ra trại giam Hà Nội trong khi chị đang mang thai. Và ngày 27 tháng 12 năm 2012 vừa qua, lực lượng Công an thành phố Hà Nội đã bắt đi anh Quân và báo chí sau đó đã loan tin rằng anh bị cáo buộc về tội trốn thuế. Hiện Trước những sự việc mờ ám trên, gia đình anh Quân đã lên tiếng trong một đơn thư kêu cứu (xem tại đây).   Trong đơn có đoạn: “Chúng tôi cho rằng rõ ràng có âm mưu chính trị chống lại gia đình chúng tôi nằm sau các việc làm mờ ám của cơ quan Nhà nước, họ đã vi phạm hàng loạt quy trình tố tụng trong khi khởi tố, khám xét, bắt giam nhân thân chúng tôi. Cùng với vụ bắt giam hàng loạt các thanh niên Công giáo gần đây, chúng tôi tin rằng chính quyền đang có đối sách và sự kỳ thị đối với những người có tôn giáo. Chúng tôi xin cậy nhờ lời cầu nguyện của tất cả những ai yêu mến sự thật, công lý và hòa bình; Chúng tôi kêu gọi sự quan tâm của các tổ chức, cơ quan truyền thông trong nước và quốc tế về trường hợp gia đình chúng tôi.”   Với tình tương thân tương ái, "một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ", và với tinh thần Công giáo luôn luôn cầu nguyện cho bất cứ ai kêu cầu, tối hôm nay giáo xứ Vĩnh Hòa đã tổ chức thắp nến cầu nguyện cho gia đình luật sư Giuse Lê Quốc Quân. Cầu cho gia đình anh luôn được bình an trong sự bách hại của cường quyền, cầu cho anh Lê Đình Quản, chị Nguyễn Thị Oanh luôn được vững vàng trong chốn lao tù, biết cậy dựa vào sự quan phòng của Thiên Chúa để làm chứng cho công lý và sự thật; cầu cho nhà cầm quyền Cộng sản biết tôn trọng nhân quyền, cầu cho đất nước Việt Nam sớm được tự do dân chủ. Những ánh nến nguyện cầu sẽ tiếp tục được thắp lên tại nhiều giáo xứ trong giáo phận Vinh. Vì như lời Chúa phán, "giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi!" (Mc 9,29). Cộng tác viên CĐV-News  Nguồn tin: Cộng đoàn Vinhhttp://congdoanvinh.com/index.php/vi/news/Tin-GP-Vinh-Dong-huong-Vinh/Giao-xu-Vinh-Hoa-thap-nen-cau-nguyen-cho-gia-dinh-luat-su-Giuse-Le-Quoc-Quan-1421/
......

Thông báo khẩn: Về việc Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Tân (Hội thánh Chuồng Bò) bị bách hại lần 3

Kính gửi:    Ban Điều Hành Giáo Hội Tin Lành Mennonite Việt Nam. Ban Điều Hành Giáo Hạt Tin Lành Mennonite Sài Gòn. Các quý Mục sư, Thầy Truyền đạo trong và ngoài nước. Cộng đồng con dân Chúa trong và ngoài nước. Cùng các tôn giáo bạn trong và ngoài nước. Tôi là Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, Quản nhiệm Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Tân xin trân trọng thông báo: Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Tân trước kia là Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Thạnh do Mục sư Dương Kim Khải làm Quản nhiệm từ năm 1996 có điểm nhóm tại số 67, tổ 20, phường 26, quận Bình Thạnh. Tại thời điểm này Hội Thánh có hơn 100 Tín đồ đã tin Chúa và mở được 5 lớp học tình thương từ lớp 1 đến lớp 5 với hơn 100 học sinh thuộc diện con em nhân dân nghèo không có điều kiện đến trường học. Do khu vực nhà - đất của ông bị giải tỏa để xây dựng trường học, Mục sư Khải đã trở thành “dân oan khiếu kiện”. Trong những năm tháng khiếu kiện, ông không những khiếu kiện cho quyền lợi của gia đình ông mà còn giúp đỡ cho nhiều người dân cũng bị giải tỏa đồng cảnh ngộ với ông đi đòi công lý. Năm 2004, ông bị bắt ở tù với cáo buộc tội “vu khống” thì ngay lập tức nhà, đất của ông (cũng là điểm nhóm của Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Thạnh) cũng bị cưỡng chế mà không được đền bù, không bố trí tái định cư.    Năm 2006, ông được trả tự do thì nhà cửa cũng không còn, ông phải lang thang đi ăn nhờ, ở đậu. Năm 2007, ông được một Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thương tình bán hết bò sữa đang nuôi và cho mượn cái cái chuồng bò tại phường 28, quận Bình Thạnh làm nơi tá túc và thờ phượng Chúa. Tại đây ông lại tiếp tục gầy dựng Hội Thánh Tin Lành với danh xưng là Hội Thánh Tin Lành Mennonite Bình Thạnh và được anh chị em con cái Chúa đặt cho cái tên thân thương là “Hội Thánh Chuồng Bò”. Ngày 10/8/2010, ông lại bị bắt ở tù với cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền” và bị ở tù 5 năm. Trong thời gian ông ở tù, chính quyền phường 28 cùng công an liên tục gây áp lực lên Mục sư Quản nhiệm Nguyễn Mạnh Hùng và chủ đất, tìm cách ép buộc Hội thánh phải giải tán (xin tìm kiếm từ khóa “hội thánh chuồng bò”). Tháng 10/2010 chính quyền phường 28 cùng công an, quận Bình Thạnh ép buộc chủ đất phải đuổi vợ con ông cùng Hội thánh ra khỏi chuồng bò. Sau đó Hội Thánh Tin Lành Mennonite quốc doanh (được nhà nước công nhận) kết hợp với chính quyền sở tại tự ý đưa vợ con ông đi nơi khác nhằm tiêu diệt xóa bỏ Hội Thánh Chuồng Bò.   Cảm tạ Chúa, họ đâu có biết Chúa Jesus đã phán với con cái Ngài: “Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó” (Ma-thi-ơ 16:18). Quả thật, Chúa Jesus đã đem Hội thánh Ngài đặt để tại số 67/2/6 đường số 6, khu phố 8, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Sài Gòn. Tại đây, chính quyền phường Bình Hưng Hòa tiếp tục gây áp lực lên Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng và chủ nhà là bà Hồ Thị Cúc nhằm đuổi vợ con Mục sư Khải cùng giải tán Hội Thánh Chuồng bò. Cảm tạ Chúa, bởi sự quan phòng cùng quyền năng Thiên Thượng của Ngài, Ngài đã thêm đức tin và thêm sức chịu đựng cho con dân Ngài mà Hội thánh còn tồn tại đến ngày hôm nay. Ngài cũng ban cho Hội thánh tình yêu thương vô hạn, mặc dù bị giám sát nghiêm ngặt Hội thánh cũng đã tổ chức đi thăm các anh chị em tù nhân lương tâm Bến Tre được 2 lần nhân mùa Giáng Sinh. Mùa Giáng sinh năm nay, sau khi đi thăm tù nhân lương tâm về Hội thánh dự kiến tổ chức lễ mừng Giáng sinh vào ngày 29/12 thì bị chính quyền phường Bình Hưng Hòa ngăn cấm. Từ sáng sớm ngày và đêm 27 - 28/12 (là ngày xử vụ án 3 blog nhà báo tự do), Mục sư Quản nhiệm Nguyễn Mạnh Hùng và Mục sư Cố vấn Thân Văn Trường bị giam lỏng tại nhà riêng không ra được khỏi nhà thì chính quyền phường Bình Hưng Hòa cho dân phòng tới nhà chở Tín đồ Hồ Thị Cúc (là chủ nhà, không biết chữ) về phường ép buộc ký giấy cam kết không cho Hội thánh thờ phượng Chúa tại nhà bà kể từ ngày 28/12/2012. Hiện nay Tín đồ Hội Thánh phải tản mác chưa có nơi thờ phượng Chúa. Cảm tạ Chúa, mặc dù chúng tôi không được tổ chức mừng Giáng sinh năm nay nhưng chúng tôi cũng rất thỏa lòng vì Chúa đã cho chúng tôi được cơ hội mang tình yêu thương của Ngài đến với con cái Ngài nơi lao tù (xin xem bài Hội Thánh Chuồng Bò đi thăm tù tại: http://www.thongtinducquoc.de/node/217 Chúa phán: “Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước” (Ma-thi-ơ 5:11). Hội Thánh Chuồng Bò bị bách hại lần này là lần thứ 3, sự nhẫn nhịn của chúng tôi đã quá sức chịu đựng. Vâng lời Chúa, vì sự vinh hiển của Chúa, chúng tôi đang tạm thời nhẫn nhịn. Chúng tôi tin rằng đây là phước hạnh mà Chúa ban cho Hội thánh của Ngài. Khi sự chịu đựng thử thách của chúng tôi làm đẹp lòng Ngài thì Ngài sẽ ban cho chúng tôi quyền năng phá tan mọi xiềng xích.   MUỐN THẬT HẾT LÒNG. AMEN.  Viết tại Hội Thánh Chuồng Bò ngày 29/12/2012  Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng
......

Pages